6 doanh nghiệp trong danh sách công bố lần này có số nợ thuế trên 100 tỉ đồng gồm Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ xây dựng Việt Hàn Sài Gòn nợ thuế hơn 493,2 tỉ đồng; Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh nợ hơn 327,5 tỉ đồng; Công ty cổ phần Tập đoàn Yên Khánh nợ hơn 263,5 tỉ đồng; Công ty cổ phần Đầu tư Cái Mép nợ hơn 141,5 tỉ đồng; Công ty cổ phần Tập đoàn NRC nợ 136 tỉ đồng; Công ty cổ phần Thái Sơn E&C nợ hơn 110,5 tỉ đồng…
Kế đến là những đơn vị có số nợ thuế khác như HTX vận tải hàng hóa và hành khách Hải Âu nợ hơn 71 tỉ đồng; Công ty cổ phần dịch vụ bất động sản Danh Khôi Việt nợ hơn 67,1 tỉ đồng; Công ty TNHH Một Thành viên Đào tạo nghề Trương Anh nợ hơn 65,2 tỉ đồng; Công ty cổ phần Thanh Niên nợ hơn 52,6 tỉ đồng… Nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ăn uống, nhà hàng, phim ảnh… cũng rơi vào tình trạng nợ thuế lớn.
Điểm đặc biệt trong danh sách lần này là xuất hiện một số cá nhân có số nợ thuế lên hàng trăm tỉ đồng như bà Võ Thị Ngọc Phượng (88 Đồng Khởi, P.Sài Gòn) nợ hơn 158,9 tỉ đồng; ông Lâm Phước Hải (80 Đồng Khởi, P.Sài Gòn) nợ hơn 23,2 tỉ đồng. Ngoài ra, còn có một số cá nhân nợ thuế khác như ông Nguyễn Quang Cường (67 Hàm Nghi, P.Sài Gòn) nợ hơn 1,1 tỉ đồng; Hồ Thị Lài (Lê Thánh Tôn, P.Sài Gòn) nợ hơn 941 triệu đồng; Trần Thị Kim Phượng (Điện Biên Phủ, P.Tân Định) nợ hơn 912 triệu đồng… Người có mức nợ thuế thấp nhất trong danh sách này là Vũ Hồng Loan (Trần Hưng Đạo, P.Cầu Ông Lãnh) nợ 50 triệu đồng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cụ thể, về nguyên tắc điều chỉnh giá bán xăng dầu, Bộ Công thương đề xuất giao quyền quyết định giá cho doanh nghiệp. Theo đó, giá bán buôn và giá bán lẻ xăng dầu trong và ngoài hệ thống do thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối tự quyết định, trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật về giá và cơ chế thị trường. Giá bán buôn (đối với dầu mazut) và giá bán lẻ xăng dầu của thương nhân đầu mối được xác định theo công thức quy định.
Giá bán lẻ xăng dầu của các cửa hàng thuộc hệ thống phân phối không được cao hơn mức giá do thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối công bố - là đơn vị cung cấp nguồn hàng cho các cửa hàng này.
Giá bán lẻ xăng dầu tại các cửa hàng không thuộc hệ thống phân phối của thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối sẽ được thương nhân bán lẻ quyết định, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về giá và theo cơ chế thị trường.
Đối với địa bàn xa cảng, xa kho đầu mối, xa cơ sở sản xuất xăng dầu, nếu có chi phí thực tế phát sinh hợp lý, hợp lệ (đã được kiểm toán) tăng cao dẫn đến giá bán cao hơn giá bán tính toán theo công thức, thương nhân đầu được quyết định giá bán thực tế tại địa bàn đó để bù đắp chi phí phát sinh. Mức tăng này không được vượt quá 2% so với giá bán lẻ do thương nhân công bố tại cùng thời điểm.
Tại địa bàn xa cảng, xa kho đầu mối, xa cơ sở sản xuất, giá bán lẻ xăng dầu do thương nhân phân phối, thương nhân bán lẻ quyết định. Song, không được vượt quá giá bán lẻ xăng dầu do thương nhân đầu mối bán xăng dầu cho thương nhân đó công bố tại cùng địa bàn và cùng thời điểm.
Dự thảo cũng quy định, các thương nhân sau khi điều chỉnh giá sẽ thực hiện kê khai, gửi về Bộ Công thương hoặc UBND cấp tỉnh - nơi thương nhân có hệ thống phân phối; đồng thời, kết nối mạng với cơ quan quản lý nhà nước về dữ liệu kê khai giá theo quy định.
Về công thức giá bán xăng dầu, dự thảo nêu rõ giá bán xăng dầu bằng (=) giá mua xăng dầu cộng (+) chi phí tạo nguồn cộng (+) chi phí kinh doanh định mức cộng (+) lợi nhuận cộng (+) thuế.
Từ công thức trên, theo Bộ Công thương, giá mua xăng dầu do thương nhân tự xác định theo thực tế kinh doanh. Chi phí tạo nguồn (từ nhập khẩu và mua trong nước) do thương nhân tự xác định theo thực tế kinh doanh.
Chi phí kinh doanh định mức là chi phí lưu thông xăng dầu trong nước (gồm chi phí bán buôn, chi phí bán lẻ) của thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu (đã bao gồm chi phí dành cho thương nhân phân phối xăng dầu, thương nhân bán lẻ xăng dầu).
Chi phí kinh doanh định mức hiện hành được sử dụng làm mức chi phí khởi điểm. Khi nghị định này có hiệu lực thi hành, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính công bố chi phí kinh doanh định mức được sử dụng làm mức khởi điểm.
Chi phí kinh doanh định mức hàng năm được điều chỉnh tăng, giảm theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thực tế bình quân của năm trước do cơ quan Thống kê công bố.
Định kỳ 3 năm/lần, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp các bộ, ngành có liên quan rà soát, công bố chi phí kinh doanh định mức cho thời kỳ tiếp theo để thương nhân thực hiện.
Trường hợp chi phí kinh doanh định mức biến động bất thường, tác động đến nguồn cung xăng dầu và có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh năng lượng hoặc các chính sách liên quan tác động đến sự tăng giảm chi phí kinh doanh định mức, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp các bộ, ngành có liên quan báo cáo, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép rà soát chi phí kinh doanh định mức được sử dụng làm gốc trước thời hạn định kỳ và công bố để thương nhân thực hiện.
Đáng chú ý, trong công thức tính giá, dự thảo đề xuất phần lợi nhuận sẽ do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu tự xác định theo thực tế kinh doanh. Theo đó, các thương nhân đầu mối, phân phối, bán lẻ xăng dầu đều phải công bố giá bán buôn (dầu mazut), giá bán lẻ xăng trên trang thông tin điện tử của thương nhân, trên các phương tiện thông tin truyền thông khác (nếu có).
Song song đó, thông báo công khai giá bán lẻ xăng dầu của thương nhân tại cửa hàng, điểm bán xăng dầu. Thời gian công bố giá bán xăng dầu thực hiện ngay sau khi điều chỉnh giá bán xăng dầu.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bộ Công thương đang lấy ý kiến dự thảo quyết định về việc quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia. Theo đó, Bộ đề xuất khung giờ cao điểm thay đổi theo từng mùa trong năm. Cụ thể, từ thứ hai đến thứ bảy vào tháng 1 - 4 và tháng 9 - 12, khung giờ cao điểm sẽ từ 14 - 19 giờ (5 tiếng); từ tháng 5 - 8, giờ cao điểm từ 14 giờ 30 - 16 giờ 30 (2 tiếng) và 19 giờ 30 - 22 giờ 30 (3 tiếng). Khung giờ thấp điểm là 6 tiếng mỗi ngày, từ 0 - 6 giờ sáng. Còn lại giờ bình thường có 13 tiếng mỗi ngày từ thứ hai đến thứ bảy và 18 tiếng ngày chủ nhật.
Bộ này lý giải, việc điều chỉnh các khung giờ sử dụng điện của hệ thống điện quốc gia xuất phát trong bối cảnh vận hành thực tế thay đổi nhiều so với 12 năm trước. Đặc biệt, từ năm 2019 đến nay, với sự thâm nhập mạnh mẽ và gia tăng tỷ trọng của nguồn điện mặt trời (ĐMT) trong cơ cấu nguồn điện, biểu đồ công suất các loại hình nguồn điện đã có sự thay đổi đáng kể. Thế nên việc điều chỉnh khung giờ giúp phản ánh đúng đặc điểm cung - cầu điện năng trong bối cảnh mới. Ngoài ra, việc xác định hợp lý các khung giờ giúp tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng. Người dùng điện sẽ điều chỉnh hành vi tiêu thụ điện nhằm giảm chi phí, qua đó giảm áp lực cho hệ thống điện trong thời gian cao điểm. Hơn nữa, khi khung giờ cao điểm ngược (lệch) với giờ phát cao của các nguồn năng lượng tái tạo sẽ là động lực để người đầu tư ĐMT phát triển thiết bị lưu trữ để sử dụng vào khung giờ cao điểm.
Tuy nhiên, Tập đoàn Điện lực VN (EVN) lo ngại, với khoảng 1,25 triệu công tơ phục vụ mua bán, giao nhận điện, trong đó phần lớn công tơ được cài đặt theo khung giờ cố định; để triển khai cài đặt lại công tơ theo khung giờ mới có thể kéo dài đến 3 tháng, khối lượng công việc phát sinh rất lớn, bao gồm cập nhật cấu hình; đồng bộ dữ liệu giữa công tơ với hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa, hệ thống quản lý khách hàng và tính hóa đơn (CMIS) và các hệ thống liên quan…
Quan trọng hơn, việc triển khai đồng loạt trên phạm vi rộng và thực hiện nhiều lần trong năm tiềm ẩn nhiều rủi ro sai sót, phát sinh khiếu nại của khách hàng và chi phí khi triển khai. Từ đó, EVN đề nghị chưa áp dụng điều chỉnh khung giờ theo mùa. Khung giờ cao điểm theo đề xuất của EVN tập trung vào 5 tiếng từ chiều tối đến đêm (17 giờ 30 - 22 giờ 30) từ thứ hai đến thứ bảy; giờ bình thường từ 6 - 17 giờ 30 và từ 22 giờ 30 - 24 giờ từ thứ hai đến thứ bảy; chủ nhật từ 6 - 24 giờ; khung giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 - 6 giờ.
Như vậy, khung giờ cao điểm theo đề xuất của EVN kéo dài vào buổi tối và không tính giá cao điểm vào ban ngày. Trong khi khung giờ cao điểm của Bộ Công thương đề xuất thay đổi theo mùa và phân bổ giờ cao điểm cả ban ngày (buổi chiều) và buổi tối.
Ông Nguyễn Quốc Việt, Tổng giám đốc Công ty CP Vinasol, nhận xét việc thay đổi các khung giờ cao điểm, thấp điểm của Bộ Công thương nhằm mục tiêu khuyến khích nhà đầu tư ĐMT phải đầu tư pin lưu trữ thì mới có hiệu quả. "Việc phân bổ lại các khung giờ nhằm giúp làm phẳng biểu đồ phụ tải của ngành điện, giảm áp lực lên lưới điện vì khi vào ban đêm sẽ có nguồn phát từ các hệ thống lưu trữ. Tôi nghĩ cơ quan quản lý đang tìm cơ chế tốt nhất nhằm tháo gỡ cho ĐMT mái nhà bên cạnh chính sách thay đổi về khung giờ nhằm thúc đẩy việc lắp pin lưu trữ. Nếu chính sách này được tổ chức tốt, chắc chắn sẽ kích hoạt mạnh việc sử dụng ĐMT kết hợp lưu trữ", ông Việt nói và thông tin thêm, chi phí đầu tư ĐMT có pin lưu trữ nay khá cạnh tranh, còn khoảng 12 - 15 triệu đồng/kWh, thời gian hoàn vốn chỉ còn khoảng 3 năm thay vì 5 năm như trước. Cùng với đó, chính sách mua điện dư thừa cởi mở hơn cũng là động lực thúc đẩy người dân lắp đặt.
Các chuyên gia cho rằng ĐMT tiềm năng lớn, song mức huy động không tăng như kỳ vọng do hạ tầng tải điện khó đáp ứng. TS Ngô Đức Lâm, nguyên Cục trưởng Cục An toàn kỹ thuật và môi trường, khuyến nghị cần tính toán phụ tải, nếu bảo đảm an toàn, hệ thống có thể nâng công suất mua điện dư của nguồn điện này cao hơn, chiếm tỷ trọng 20% trên toàn hệ thống. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 10 về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển ĐMT mái nhà tự sản tự tiêu, trong đó nói rõ ưu tiên lắp đặt tại cơ quan, công sở, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và hộ gia đình; khuyến khích lắp đặt kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng nhằm giảm phụ tải giờ cao điểm và tăng khả năng tự chủ nguồn điện tại chỗ.
"Chỉ đạo rất rõ ràng. Đầu tư ĐMT cho cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ chế về vốn đầu tư, ưu đãi tín dụng đầu tư thế nào, phải nhanh chóng hơn. Hiện ĐMT mái nhà cho công sở dường như vẫn giậm chân tại chỗ. Ngoài ra, đã khuyến khích pin lưu trữ thì cũng cần có chính sách ưu đãi để giúp cân bằng phụ tải hệ thống. Tôi từng đề xuất nếu nhà đầu tư có lắp đặt hệ thống lưu trữ thì EVN cần mua điện với giá cao hơn mức bình quân. Bởi nếu không có nguồn điện này, EVN vẫn phải nhập khẩu hoặc mua điện từ những nguồn đắt đỏ", ông Ngô Đức Lâm nói.
Ông Nguyễn Quốc Việt đồng tình, muốn đẩy nhanh ĐMT cần sửa gấp Nghị định 58 về giới hạn công suất lắp đặt; đẩy nhanh triển khai nâng tỷ lệ bán điện lên lưới. Hiện Bộ Công thương đã có đề xuất cho phép bán lên lưới 50% (thay vì 20% công suất lắp đặt), song đề xuất này vẫn còn trên giấy. Bên cạnh đó, sớm có chính sách khuyến khích bán điện vào giờ cao điểm và ưu đãi cho các hệ thống có pin lưu trữ. Ông Việt nói: "Tháo được chốt nghẽn, chắc chắn điện tái tạo sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, cũng như tăng độ tin cậy, an ninh năng lượng".
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Saigon Marina IFC: Ngọn hải đăng giữa dòng di sản, thắp sáng khát vọng Việt Nam

Giữa tâm điểm của đại tiệc ánh sáng ấy, Saigon Marina IFC xuất hiện như một "ngọn hải đăng" rực rỡ bên dòng sông Sài Gòn, khẳng định vị thế của một biểu tượng kiến trúc mới, nơi giao thoa giữa di sản hào hùng và khát vọng tương lai.
Tọa lạc trên nền xưởng đóng tàu Ba Son huyền thoại - nơi từng là niềm tự hào công nghiệp của Đông Nam Á suốt hai thế kỷ, Saigon Marina IFC không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là sự tiếp nối tinh thần tiên phong của một "Sài Gòn Hoa lệ".
Trong đêm thống nhất, ánh sáng từ tòa tháp không chỉ hướng về tương lai mà còn soi rọi lại những giá trị di sản, tạo nên một sự kết nối vô hình nhưng mạnh mẽ giữa quá khứ hào hùng và hiện tại thịnh vượng. Pháo hoa không chỉ rực cháy trên bầu trời mà còn bùng nở trực tiếp từ các tầng cao và các lớp kiến trúc giật cấp của tòa tháp, tạo nên hiệu ứng thị giác đa tầng độc đáo. Đặc biệt, hệ thống LED phủ toàn bộ mặt đứng tòa tháp phối hợp nhịp nhàng cùng pháo hoa, biến Saigon Marina IFC thành một màn hình khổng lồ truyền tải những hình ảnh đầy cảm xúc: sắc đỏ quốc kỳ rực rỡ và những ngôi sao vàng lung linh trên nền trời đêm.
Xuyên suốt màn trình diễn, những thông điệp đầy tự hào đã được khắc họa sắc nét trên thân tòa tháp, như một lời cam kết đồng hành cùng sự phát triển của đất nước: "Đất nước trọn niềm vui, Vươn mình từ di sản Ba Son; Sài Gòn - Hòn Ngọc Viễn Đông, Tinh thần 30.4 & 1.5 bất diệt,…".
Đây minh chứng cho một Sài Gòn đang thay da đổi thịt từng ngày. Nếu quá khứ nơi đây là điểm xuất phát của những con tàu mang khát vọng ra khơi, thì nay đã trở thành tâm điểm của dòng chảy tài chính quốc tế (IFC). Sự hiện diện của Saigon Marina IFC chính là biểu tượng cho một Thành phố Hồ Chí Minh đang đón nhận những vận hội toàn cầu nhưng vẫn trân trọng từng nhịp thở của lịch sử.
Saigon Marina IFC đã thực sự trở thành một ngọn hải đăng mới - nơi ánh sáng không bao giờ tắt. Một Sài Gòn thống nhất, một Sài Gòn hoa lệ và một Sài Gòn đang vươn mình ra thế giới.
Một biểu tượng mới đã được thắp sáng. Và một nhịp đập mới của Sài Gòn hoa lệ đã bắt đầu.
Tin Gốc: Thanh Niên

