Tại hội thảo của Viện Milken – một tổ chức tư vấn kinh tế tại Mỹ – ngày 4/5, Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Kristalina Georgieva nhận định tình hình hiện tại đồng nghĩa kịch bản xung đột ngắn hạn trong báo cáo tháng trước của họ không còn khả thi. Theo kịch bản này, tăng trưởng toàn cầu chậm lại, còn 3,1%. “Mỗi ngày trôi qua, kịch bản mà chúng tôi đã đưa ra lại càng xa vời”, bà nói.
Thay vào đó, việc chiến sự vẫn tiếp diễn, giá dầu được dự báo quanh hoặc trên 100 USD một thùng, và áp lực lạm phát tăng tốc đồng nghĩa các kịch bản xấu hơn đã diễn ra. Hiện tại, lạm phát kỳ vọng vẫn được kìm hãm và điều kiện tài chính chưa bị thắt chặt. Tuy nhiên, những điều này có thể thay đổi nếu xung đột tiếp diễn.
“Nếu chiến sự kéo dài sang 2027 và giá dầu lên quanh 125 USD một thùng, hậu quả tồi tệ hơn rất nhiều. Lạm phát thực sẽ tăng, lạm phát kỳ vọng cũng khó kiểm soát”, bà nói.
Tháng trước, IMF công bố báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới. Trong đó, tổ chức này đưa ra 3 kịch bản. Với kịch bản lạc quan nhất, giả sử chiến sự không kéo dài, tăng trưởng toàn cầu xuống 3,1% năm nay, giảm 0,2 điểm phần trăm so với báo cáo hồi tháng 1.
Còn theo “kịch bản bất lợi”, chiến sự kéo dài hơn, giá dầu duy trì quanh 100 USD một thùng năm nay và 75 USD vào 2027. Tăng trưởng toàn cầu năm nay chỉ còn 2,5%.
Ở “kịch bản xấu nhất”, xung đột kéo dài hơn nữa và giá dầu leo thang, gây xáo trộn lớn trên thị trường tài chính, tăng trưởng về 2%. “Đây là mức tiệm cận suy thoái toàn cầu”, IMF cho biết. Lạm phát trong kịch bản này lên 5,8%.
Cũng tại sự kiện, Chủ tịch kiêm CEO hãng dầu khí Chevron (Mỹ) Mike Wirth cho biết tình trạng thiếu cung sớm lan ra toàn cầu, khi eo biển Hormuz bị phong tỏa hơn 2 tháng qua. Đây là tuyến đường thủy vận chuyển 20% dầu thô và khí hóa lỏng toàn cầu trước chiến sự. Wirth dự báo các nền kinh tế sẽ co lại, bắt đầu từ châu Á, do nhu cầu phải điều chỉnh giảm theo nguồn cung.
Bà Georgieva cho biết IMF đang theo dõi sát ảnh hưởng của xung đột lên chuỗi cung ứng. Giá phân bón toàn cầu đã tăng 30-40%, đẩy thực phẩm đắt thêm 3-6%. Nhiều ngành công nghiệp khác cũng chịu ảnh hưởng.
“Tôi muốn nhấn mạnh là tình hình thực sự nghiêm trọng”, bà nói, bày tỏ lo ngại khi nhiều nhà hoạch định chính sách vẫn tin rằng cuộc khủng hoảng kết thúc trong vài tháng. Bà cho rằng việc giới chức tung ra các biện pháp hạn chế tác động lên người tiêu dùng và doanh nghiệp chỉ càng giữ nhu cầu dầu ở mức cao.
“Đừng thêm dầu vào lửa nữa. Tất cả những người trong phòng này đều biết khi nguồn cung giảm, nhu cầu cũng hạ theo”, bà cảnh báo.
Những nghị quyết vừa được ban hành liên quan tới các lĩnh vực quản lý nhà nước của các bộ: Công Thương; Nông nghiệp và Môi trường; Khoa học và Công nghệ; Giáo dục và Đào tạo; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Y tế, Công an, và nghị quyết chung của Bộ Tư pháp, bao hàm 7 bộ: Quốc phòng, Nội vụ, Tài chính, Xây dựng, Ngoại giao, Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước.
Theo đó, tổng thể 8 nghị quyết, về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính đã bãi bỏ 184 thủ tục hành chính, phân cấp xuống địa phương 134 thủ tục và đơn giản hóa 349 thủ tục.
Về điều kiện kinh doanh, các nghị quyết nêu trên bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa bốn điều kiện kinh doanh.
Tổng số lượng văn bản sửa đổi, bổ sung là 164 văn bản. Trong đó có 2 nghị quyết của Chính phủ và 155 nghị định; 6 quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Như vậy, với việc ban hành 8 nghị quyết cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, Chính phủ đã hoàn thành cơ bản 4/4 chỉ tiêu về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, phân cấp phân quyền được giao.
Trong đó, tổng số thủ tục hành chính cấp Trung ương chỉ còn khoảng 27%, đạt mục tiêu Kết luận số 18 mà Trung ương đề ra là không quá 30%.
Cùng đó, tỉ lệ cắt giảm thời gian, chi phí tuân thủ giải quyết thủ tục hành chính so với năm 2024 đều vượt trên 50% đáp ứng yêu cầu của Kết luận số 18.
Sau cuộc họp ngày 5/4, Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ và đồng minh (OPEC+) thống nhất tăng hạn ngạch sản xuất thêm 206.000 thùng một ngày trong tháng 5. Mức tăng này tương đương tháng 4.
Tuy nhiên, con số trên được đánh giá khiêm tốn và chỉ có ý nghĩa trên giấy tờ, do các thành viên chủ chốt hiện khó nâng sản lượng. Tại vùng Vịnh, cơ sở hạ tầng đang chịu thiệt hại do các cuộc tấn công bằng tên lửa và thiết bị bay không người lái. Một số quan chức cho biết kể cả khi chiến sự chấm dứt và eo biển Hormuz được mở lại, các nước vẫn mất vài tháng để khôi phục hoạt động và đạt mục tiêu sản lượng.
Cuộc xung đột khiến eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa từ cuối tháng 2, chặn tuyến đường xuất khẩu của nhiều nước thành viên OPEC+ như Arab Saudi, UAE, Kuwait và Iraq. Đây là các quốc gia có khả năng nâng sản xuất mạnh nhất trước chiến sự.
Những nước khác trong OPEC+, như Nga, hiện cũng không thể tăng sản lượng, vì các lệnh trừng phạt của phương Tây và thiệt hại với cơ sở hạ tầng trong chiến sự Ukraine.
"Thực tế là số dầu được bổ sung ra thị trường rất ít. Khi eo biển Hormuz vẫn đóng, việc OPEC+ tăng sản xuất ít có ý nghĩa", Jorge Leon - cựu quan chức OPEC, hiện làm việc tại hãng tư vấn năng lượng Rystad Energy nhận định.
Mức tăng trên chỉ tương đương gần 2% lượng dầu bị thiếu hụt do eo biển Hormuz tê liệt. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy OPEC+ sẵn sàng nâng sản xuất ngay khi tuyến đường thủy này mở lại, các nguồn tin của Reuters cho biết.
Cuối tuần trước, Iran tuyên bố các tàu của Iraq được đi qua Hormuz. Dữ liệu vận tải ngày 5/4 cho thấy một tàu chở dầu thô của Iraq đã đi qua eo biển này.
JPMorgan tuần trước dự báo giá dầu có thể vượt 150 USD một thùng - cao nhất lịch sử, nếu dòng chảy năng lượng qua Hormuz gián đoạn đến giữa tháng 5.
Iran là một trong 22 thành viên của OPEC+. Tổ chức này giảm sản lượng từ 2022 nhằm ngăn dư cung trên thị trường khiến giá giảm. Từ tháng 4/2025, sản xuất của nhóm dần tăng lên, nhằm giành lại thị phần từ các đối thủ, như Mỹ. Tính đến hiện tại, họ tăng sản xuất thêm 2,9 triệu thùng một ngày.
Ngày 14/4, Tổng cục Hải quan Trung Quốc công bố số liệu thương mại tháng 3. Theo đó, kim ngạch nhập khẩu tăng 27,8% so với cùng kỳ năm ngoái, lên gần 270 tỷ USD. Tốc độ này cao hơn dự báo và cũng là mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 11/2021.
Báo cáo trên nối dài xu hướng tăng tốc nhập khẩu của Trung Quốc năm nay, nhờ nhu cầu nội địa cải thiện, nhu cầu hàng hóa tăng và các công ty bổ sung lại hàng tồn kho. Trong 2 tháng đầu năm, nhập khẩu nước này tăng gần 20%.
Đây là tín hiệu lạc quan với mục tiêu thúc đẩy tiêu dùng của Trung Quốc. Từ nhiều năm qua, các nhà kinh tế học đã kêu gọi nước này chuyển từ mô hình tăng trưởng phụ thuộc đầu tư và xuất khẩu sang dựa vào đột phá về tiêu dùng. Trong kế hoạch 5 năm công bố tháng trước, Bắc Kinh cũng cam kết tăng đáng kể tiêu dùng của các hộ gia đình.
Trong khi đó, xuất khẩu tháng 3 chỉ tăng 2,5% so với cùng kỳ năm ngoái, lên 321 tỷ USD. Hoạt động này chịu ảnh hưởng chủ yếu từ xung đột tại Trung Đông.
Hơn một tháng qua, xung đột liên quan đến Iran, Mỹ và Israel đã khiến eo biển Hormuz gần như bị phong tỏa, đe dọa nguồn cung năng lượng toàn cầu và làm gián đoạn các tuyến vận tải biển. Giá dầu Brent hiện vẫn trên 90 USD một thùng, tăng mạnh so với khoảng 60 USD trước khi xung đột nổ ra.
Chi phí nhiên liệu và bảo hiểm tăng đã đẩy cước vận tải lên cao. Việc phải đi đường vòng qua Mũi Hảo Vọng cũng khiến năng lực vận tải suy giảm. Gián đoạn nguồn cung hóa dầu và phân bón cũng làm tăng rủi ro đối với sản xuất công nghiệp và nông nghiệp.
Người phát ngôn Tổng cục Hải quan Trung Quốc Lu Daliang cho biết xung đột tại Trung Đông đã khiến giá nhiên liệu tăng mạnh trong thời gian dài, làm chi phí vận chuyển dầu tăng đáng kể. Đà tăng hiện đã lan sang chuỗi cung ứng toàn cầu, đẩy chi phí sản xuất và logistics của hàng hóa trên khắp thế giới đi lên, từ đó gây sức ép lên thương mại hàng hóa toàn cầu.
"Số liệu của chúng tôi cho thấy trong tháng 3, xuất nhập khẩu của Trung Quốc với Trung Đông đã chuyển từ tăng trưởng sang sụt giảm. Chúng tôi hy vọng tất cả các bên sẽ hành động để hạ nhiệt tình hình càng sớm càng tốt, khôi phục hòa bình và ổn định tại eo biển này cũng như Trung Đông", ông nói.