Hình ảnh vệ tinh được Cơ quan Hàng không và vũ trụ Mỹ (NASA) công bố tuần này cho thấy thủ đô Mexico City (Mexico) đang lún xuống gần 25cm mỗi năm – trở thành một trong những đô thị có tốc độ lún nhanh nhất thế giới, theo Hãng tin AP ngày 3-5.
Là một trong những khu vực đô thị rộng lớn và đông dân nhất thế giới, với diện tích khoảng 7.800km vuông và khoảng 22 triệu dân, Mexico City và các thành phố xung quanh được xây dựng trên nền một hồ nước cổ đại. Nhiều con phố của thủ đô Mexico từng là kênh đào.
Việc bơm nước ngầm quy mô lớn và quá trình đô thị hóa đã làm thu hẹp đáng kể tầng chứa nước ngầm, dẫn đến Mexico City bị sụt lún trong hơn một thế kỷ.
Nhiều di tích và công trình kiến trúc cổ – như nhà thờ Metropolitan khởi công xây dựng từ năm 1573 – bị nghiêng hẳn sang một bên. Tầng chứa nước ngầm bị thu hẹp cũng góp phần gây ra tình trạng thiếu nước trong nhiều năm.
Ông Enrique Cabral, nhà nghiên cứu địa vật lý tại Đại học Tự trị quốc gia Mexico, cho biết: “Một phần cơ sở hạ tầng của Mexico bị thiệt hại, bao gồm tàu điện ngầm, hệ thống thoát nước, hệ thống cấp nước, hệ thống nước sinh hoạt, nhà ở và đường phố. Đây là một vấn đề rất lớn”.
Theo báo cáo mới được công bố, ở một số khu vực, hiện tượng này đang diễn ra với tốc độ trung bình 2cm mỗi tháng. Đáng chú ý, các khu vực này gồm sân bay và tượng đài Thiên thần Độc lập nổi tiếng.
Các ước tính của NASA dựa trên các phép đo được thực hiện từ tháng 10-2025 đến tháng 1-2026 bởi vệ tinh NISAR, có khả năng theo dõi những thay đổi theo thời gian thực trên bề mặt Trái đất. Đây một phát kiến chung giữa NASA và Tổ chức Nghiên cứu không gian Ấn Độ.
Trong nhiều thập kỷ, Chính phủ Mexico hầu như phớt lờ vấn đề này và chỉ gia cố nền móng cho vài công trình. Nhưng sau những đợt khủng hoảng nước bùng phát gần đây, ông Cabral cho biết các quan chức đã bắt đầu tài trợ cho nhiều nghiên cứu hơn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

"Tôi có thể xác nhận rằng một cuộc gặp giữa phái đoàn của Cuba và Mỹ gần đây đã được tổ chức ở Cuba" - ông Alejandro Garcia, Phó tổng vụ trưởng phụ trách vấn đề về Mỹ thuộc Bộ Ngoại giao Cuba, chia sẻ với báo Granma (Cuba) ngày 20-4.
Ông Garcia thông tin phía Mỹ tham dự cuộc gặp gồm các trợ lý ngoại trưởng từ Bộ Ngoại giao Mỹ, trong khi phía Cuba do đại diện cấp Thứ trưởng Ngoại giao dẫn đầu.
Tuần trước trang tin Axios (Mỹ) tường thuật các quan chức trong chính quyền ông Trump đã tổ chức nhiều cuộc họp tại Havana vào ngày 10-4 với các quan chức Cuba.
Theo Axios, các nhà đàm phán Mỹ đã đưa ra một số điều kiện để tiếp tục đàm phán với Cuba, trong đó có việc trả tự do cho các tù nhân chính trị nổi bật.
Tuy nhiên, ông Garcia đã bác bỏ những thông tin này.
"Trong cuộc gặp, không bên nào đưa ra thời hạn hay có những phát biểu mang tính đe dọa như báo chí Mỹ đã đưa tin. Toàn bộ quá trình trao đổi đều mang tính tôn trọng và chuyên nghiệp" - ông Garcia khẳng định.
Ông Garcia nhấn mạnh rằng việc chấm dứt lệnh phong tỏa dầu mỏ kéo dài ba tháng của Mỹ đối với Cuba là "ưu tiên hàng đầu" của Chính phủ Cuba trong các cuộc đàm phán. Ông cũng cáo buộc Washington "tống tiền" khi đe dọa áp thuế đối với các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ sang Cuba.
Thời gian qua căng thẳng leo thang nhanh chóng giữa Mỹ và Cuba, hai quốc gia chỉ cách nhau khoảng 145km qua eo biển Florida.
Hôm 18-4, chính phủ các nước Brazil, Mexico và Tây Ban Nha đã ra tuyên bố chung kêu gọi tôn trọng chủ quyền của Cuba cũng như tiến hành các cuộc đối thoại "chân thành và tôn trọng" với đảo quốc Caribê này.
Theo TTXVN, Cuba đang trải qua cuộc khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng, đặc biệt sau lệnh phong tỏa dầu mỏ của Mỹ, với tình trạng mất điện kéo dài ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày và quá trình vận hành của nền kinh tế.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Hôm qua (21.4), Reuters đưa tin Nhật Bản cùng ngày công bố cuộc đại tu lớn nhất về các quy định xuất khẩu quốc phòng trong nhiều thập niên, loại bỏ các hạn chế đối với việc bán vũ khí ở nước ngoài và mở đường cho xuất khẩu tàu chiến, tên lửa và các vũ khí khác.
Động thái trên củng cố cơ sở bứt phá của công nghiệp quốc phòng Nhật Bản khi đánh dấu bước chuyển mới khỏi những hạn chế từng nằm trong chính sách an ninh của Tokyo sau Thế chiến 2. Bước chuyển này được tiến hành song song việc Nhật Bản đang tăng cường hợp tác quốc phòng với các bên ở châu Á giữa bối cảnh trỗi dậy của Trung Quốc.
Trả lời Thanh Niên hôm qua, GS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế - Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) phân tích: "Mặc dù các quy định đã được nới lỏng một cách đáng kể, Nhật Bản vẫn duy trì một số rào cản kiểm soát nhất định. Chẳng hạn, việc xuất khẩu loại máy bay tiêm kích thế hệ mới hiện chỉ giới hạn ở những quốc gia đã ký kết hiệp ước quốc phòng với Nhật Bản và không đang trực tiếp tham gia vào các cuộc xung đột. Tuy nhiên, cuộc cải tổ này đánh dấu sự kết thúc dứt khoát của Tokyo đối với kỷ nguyên chủ nghĩa biệt lập quốc phòng nghiêm ngặt".
Tương tự, cũng trả lời Thanh Niên, TS Satoru Nagao (Viện Nghiên cứu Hudson, Mỹ) đánh giá: "Nhật Bản nới lỏng quy định xuất khẩu vũ khí vì các quy định vốn dĩ không thực tế. Điển hình trong thỏa thuận mới đây Nhật Bản xuất khẩu tàu chiến lớp Mogami cho Úc, vì quy định mà hai bên phải áp dụng hình thức "phát triển chung" thay vì xuất khẩu vũ khí. Nhưng về bản chất thì vẫn là xuất khẩu vũ khí".
"Trong khi đó, Nhật Bản cần xuất khẩu vũ khí để hỗ trợ việc tăng cường năng lực quân sự cho các đồng minh và đối tác trước các thách thức mới ở khu vực. Xuất khẩu vũ khí đòi hỏi quá trình đào tạo, bảo trì sửa chữa, cung cấp đạn dược để vận hành nên cần loại bỏ nhiều hạn chế để thực hiện. Ngoài ra, ngành công nghiệp quốc phòng toàn cầu đang tăng trưởng mạnh mẽ. Thị trường nước ngoài có thể đem đến nhiều cơ hội và duy trì dây chuyền sản xuất vũ khí của Tokyo. Thời gian qua, Mỹ thúc đẩy Nhật Bản chia sẻ gánh nặng an ninh trong khu vực này, nên nhu cầu nới lỏng quy định để xuất khẩu vũ khí càng lớn hơn với Tokyo", TS Nagao phân tích thêm.
Những năm qua, Tokyo không ngừng tăng cường xuất khẩu vũ khí song song việc dần loại bỏ các hạn chế trong quy định pháp luật về vấn đề này. Năm 2023, Nhật Bản thông qua kế hoạch cho phép xuất khẩu chiến đấu cơ, tên lửa và một số loại vũ khí sát thương cho 12 quốc gia bao gồm: Úc, Ấn Độ, Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Ý và 5 quốc gia Đông Nam Á. Đến tháng 3.2024, Nhật Bản nới lỏng các quy định nghiêm ngặt về chuyển giao thiết bị quân sự để cho phép xuất khẩu chiến đấu cơ thế hệ tiếp theo đang được nước này phát triển với Anh và Ý. Cùng năm 2024, Nhật Bản thông báo sẽ bán tên lửa Patriot cho Mỹ để Lầu Năm Góc bù vào kho vũ khí đang thiếu hụt vì tài trợ cho Ukraine.
Mới đây, hợp đồng Nhật Bản cung cấp tàu hộ tống lớp Mogami cho Úc được 2 bên ký kết vào ngày 18.4. Theo đó, Nhật cung cấp 11 chiến hạm loại này cho Úc với tổng giá trị đơn hàng lên đến 6,8 tỉ USD. Có độ choán nước toàn tải hơn 5.000 tấn, tàu hộ tống lớp Mogami có khả năng tàng hình, tích hợp nhiều công nghệ hiện đại và vũ khí mạnh mẽ.
Thực tế, Nhật Bản nhiều năm qua phát triển nền công nghiệp quốc phòng hàng đầu thế giới, sản xuất nhiều loại vũ khí hiện đại. Đến nay, Nhật Bản đã tự lắp ráp chiến đấu cơ F-35, đồng thời đang tự phát triển chiến đấu cơ thế hệ 6. Trước đó, nước này tự sản xuất chiến đấu cơ Mitsubishi F-2 từ dòng F-16 của Mỹ, đồng thời phát triển máy bay săn ngầm Mitsubishi P-1 để thay thế P-3 Orion do Mỹ cung cấp.
Tokyo cũng nâng cấp các tàu khu trục chở máy bay trực thăng lớp Izumo để trở thành các tàu sân bay có thể mang theo chiến đấu cơ thế hệ 5 tàng hình F-35. Dòng tàu ngầm chạy bằng dầu diesel và điện của nước này cũng được đánh giá tối tân và năng lực tác chiến mạnh mẽ. Tương tự, các lớp tàu khu trục của Nhật Bản cũng sở hữu các hệ thống vũ khí hiện đại, uy lực. Hay xe tăng chiến đấu chủ lực T-10 của nước này luôn đứng cao trong các bảng xếp hạng toàn cầu.
Với nền tảng như thế, khi đẩy mạnh xuất khẩu vũ khí có thể giúp Nhật Bản tăng cường hiệu quả các hoạt động ngoại giao khi nước này không ngừng thúc đẩy hợp tác quân sự với nhiều bên trong khu vực. Qua đó, Tokyo có thể càng khẳng định vai trò quan trọng về an ninh quân sự ở châu Á - Thái Bình Dương.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã leo thang thế đối đầu với Iran vào ngày 12/4, khi tuyên bố kế hoạch phong tỏa hải quân tại eo biển Hormuz sau khi các cuộc đàm phán ngừng bắn kéo dài kết thúc mà không đạt được thỏa thuận.
Sau hơn 21 giờ đàm phán tại Islamabad với sự tham gia của quan chức Mỹ, Iran và Pakistan, Phó Tổng thống JD Vance xác nhận vào sáng sớm 12/4 rằng các cuộc đàm phán đã kết thúc mà không đạt được thỏa thuận mở lại tuyến hàng hải hay gia hạn lệnh ngừng bắn vẫn còn mong manh.
Căng thẳng gia tăng
Chỉ vài giờ sau khi đàm phán kết thúc, ông Trump đăng trên mạng xã hội rằng ông đã chỉ thị Hải quân Mỹ phong tỏa “mọi tàu thuyền cố gắng đi vào hoặc rời khỏi eo biển Hormuz”, đồng thời chặn các tàu trên vùng biển quốc tế trả “phí bất hợp pháp” cho Iran.
Ông cáo buộc Tehran rải thủy lôi và gây khó khăn cho hoạt động vận tải toàn cầu tại tuyến đường hẹp này, nơi khoảng 20% lượng dầu thế giới thường đi qua, đồng thời cảnh báo rằng “các quốc gia khác” sẽ tham gia cùng Mỹ.
Cùng lúc, ông Trump nhắc lại cảnh báo rằng các chính phủ nước ngoài không được cung cấp vũ khí cho Iran, cảnh báo hậu quả nghiêm trọng đối với bất kỳ quốc gia nào hỗ trợ Tehran.
Tuy nhiên, dù động thái này cho thấy sự chuyển hướng rõ rệt sang biện pháp gây áp lực mạnh mẽ, các chuyên gia quân sự và phân tích hàng hải cho rằng việc thực thi phong tỏa hải quân đối với Iran sẽ cực kỳ khó khăn.
Một cuộc phong tỏa hải quân đối với Iran sẽ là một trong những hành động quân sự quan trọng nhất của Mỹ. Nó sẽ kiểm tra liệu ưu thế hải quân của Mỹ có thể vượt qua chiến lược bất đối xứng của Iran hay không. Đây là chiến lược không nhằm đối đầu trực tiếp lực lượng Mỹ mà khiến việc vận tải trở nên nguy hiểm đến mức tự đình trệ.
Các cuộc đàm phán tại Islamabad, được quan chức Mỹ mô tả là căng thẳng và toàn diện, nhằm giải quyết việc Iran hạn chế tàu thuyền qua eo biển và kéo dài lệnh ngừng bắn. Tuy nhiên, việc kết thúc mà không có thỏa thuận đã loại bỏ rào cản ngoại giao cuối cùng ngăn leo thang.
Trước đó, ông Trump từng ám chỉ có thể chấp nhận mở lại một phần eo biển như một phần của thỏa thuận, nhưng tuyên bố mới cho thấy sự kiên nhẫn của ông dường như đã cạn. Giới chức quân sự Mỹ cho biết các cuộc tấn công trong hơn 1 tháng qua đã phá hủy phần lớn hải quân truyền thống của Iran. Tuy nhiên, các nhà phân tích nhấn mạnh đây không phải công cụ chính của Tehran.
Thế khó với kế hoạch
Iran vận hành hai lực lượng hải quân: hải quân chính quy và lực lượng hải quân của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC). Lực lượng IRGC tập trung vào hoạt động tác chiến bất đối xứng với xuồng cao tốc, tàu tên lửa nhỏ, tàu rải mìn và UAV, phù hợp với vùng nước hẹp của vịnh Ba Tư.
Hơn 60% số xuồng tấn công nhanh của IRGC vẫn còn nguyên vẹn sau nhiều tuần bị Mỹ tấn công, và tiếp tục là mối đe dọa lớn đối với vận tải biển, theo Newsweek. Iran cũng có tàu ngầm cỡ nhỏ hoạt động ở khu vực hẹp của eo biển nước nông, có thể phóng ngư lôi.
Mặt khác, tại điểm hẹp nhất, eo biển Hormuz chỉ rộng khoảng 32km. Điều này tạo lợi thế cho chiến thuật bất đối xứng: Các xuồng nhỏ khó bị phát hiện, có thể ẩn trong tàu cá dân sự hoặc căn cứ ven bờ.
Ngoài ra, Iran có thể tấn công từ đất liền bằng tên lửa chống hạm đặt trên xe tải, cho phép tấn công mà không cần triển khai tàu.
Mặt khác, Iran được cho là sở hữu hàng nghìn thủy lôi. Việc rải mìn có thể thực hiện bí mật và việc rà phá rất chậm, nguy hiểm. Chỉ riêng nguy cơ thủy lôi cũng đủ khiến các công ty vận tải dừng hoạt động.
Iran sở hữu kho thủy lôi hải quân lớn tích lũy qua nhiều thập kỷ, bao gồm thủy lôi tiếp xúc phát nổ khi va chạm, thủy lôi từ tính phát hiện tín hiệu từ trường của thân tàu, thủy lôi âm thanh phản ứng với tiếng chân vịt, và thủy lôi áp suất cảm nhận sự thay đổi áp lực nước khi tàu đi qua.
Các biến thể tiên tiến hơn có thể phân biệt giữa các loại tàu khác nhau, thậm chí được lập trình để chỉ kích nổ với tàu chở dầu lớn mà bỏ qua tàu quét mìn nhỏ hơn.
Thêm vào đó, Iran đã có đội xuồng không người lái (USV) mang thuốc nổ có khả năng tấn công tàu. Điều này khiến việc kiểm soát tuyến hàng hải càng trở nên phức tạp.
Theo các chuyên gia, mục tiêu quan trọng hàng đầu của Iran không phải là thắng trong cuộc đối đầu trực diện với Mỹ. Họ chỉ cần khiến tuyến vận tải đủ trở nên rủi ro là đã thành công trong việc làm gián đoạn hàng hải và đạt được mục tiêu.
Một số chuyên gia cho rằng Mỹ có thể tận dụng ưu thế hải quân để ngăn chặn hoạt động xuất khẩu dầu của Iran, gây áp lực kinh tế lớn mà không cần chiến dịch quân sự kéo dài.
Sau khi đàm phán bất thành, cả Mỹ và Iran đang đánh giá lại lập trường của đối phương. Việc thực thi phong tỏa sẽ đòi hỏi triển khai hải quân quy mô lớn và phối hợp với các đồng minh.
Các công ty vận tải, bảo hiểm và thị trường năng lượng toàn cầu đang chuẩn bị cho tình trạng gián đoạn kéo dài. Ngay cả khi chưa có phong tỏa toàn diện, việc Mỹ siết kiểm soát và Iran tiếp tục gây sức ép cũng có thể khiến lưu lượng vận tải qua eo biển Hormuz duy trì ở mức thấp, tiếp tục gia tăng áp lực lên Washington.
Tin Gốc: Dân Trí

