Theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng nay (3/5), trong tháng 4, cả nước có gần 20.400 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 246.800 tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 91.000 lao động, giảm 7,1% về số doanh nghiệp, tăng 9,7% về vốn đăng ký và giảm 7,5% về số lao động so với tháng 3.
So với cùng kỳ năm trước, tăng 33,9% về số doanh nghiệp, tăng 84,6% về số vốn đăng ký và giảm 28,7% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 4 đạt 12,1 tỷ đồng, tăng 18,1% so với tháng trước và tăng 37,9% so với cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh đó, cả nước còn có gần 9.500 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 19,8% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong tháng 4, có 8.863 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 75,2% so với tháng trước và tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2025; 5.388 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 14,5% và giảm 40,1%; có 3.473 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 9% và tăng 98,5%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, cả nước có 77.800 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 785.400 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký 356.900 lao động, tăng 50,7% về số doanh nghiệp, tăng 60,1% về vốn đăng ký và tăng 0,3% về số lao động so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong bốn tháng năm 2026 đạt 10,1 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2025. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 4 tháng năm 2026 là gần 1,9 triệu tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Bên cạnh đó, 4 tháng qua, cả nước có 41.600 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2025), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 4 tháng năm 2026 lên hơn 119.400 doanh nghiệp, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 29.900 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Theo khu vực kinh tế, 4 tháng đầu năm 2026, có 827 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 66,7% so với cùng kỳ năm trước; 18.900 doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 56,6%; gần 58.100 doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 48,7%.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Sáng 24/4, với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 98,4%), Quốc hội thông qua bổ sung dự toán thu NSNN năm 2024 và phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2024.
Theo đó, bổ sung dự toán thu NSNN năm 2024 là 13.760 tỷ đồng, bao gồm tăng thu ngân sách Trung ương là 3.408 tỷ đồng; tăng thu ngân sách địa phương là 10.352 tỷ đồng.
Đồng thời, phê chuẩn quyết toán NSNN năm 2024 với tổng số thu cân đối NSNN là 3.402.379 tỷ đồng, bao gồm cả số thu chuyển nguồn từ năm 2023 chuyển sang năm 2024, thu kết dư ngân sách địa phương năm 2023, thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định của Luật NSNN.
Tổng số chi cân đối NSNN là 3.587.655 tỷ đồng, bao gồm cả số chỉ chuyển nguồn từ năm 2024 sang năm 2025.
Bội chi NSNN là 323.308 tỷ đồng, bằng 2,8% GDP, không bao gồm kết dư ngân sách địa phương. Tổng mức vay của NSNN để bù đắp bội chi và trả nợ gốc là 611.200 tỷ đồng.
Quốc hội giao Giao Chính phủ chỉ đạo các Bộ, cơ quan trung ương, UBND các cấp và các đơn vị quản lý thu, chi NSNN; đồng thời, làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm người đứng đầu, các tập thể, cá nhân không chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật trong lập, chấp hành dự toán, quyết toán NSNN năm 2024; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Chính phủ tiếp tục chấn chỉnh, khắc phục các tồn tại, hạn chế, nâng cao chất lượng lập, quản lý, sử dụng NSNN. Đẩy nhanh việc thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công hằng năm; công tác thanh toán khối lượng hoàn thành và quyết toán các chương trình, dự án đầu tư theo đúng quy định của pháp luật.
Quản lý, sử dụng chặt chẽ số tăng thu NSNN gắn với điều hành và xây dựng kế hoạch huy động vốn vay bù đắp bội chi và trả nợ gốc của NSNN bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật.
Quản lý chặt chẽ các khoản chi chuyển nguồn, tạm ứng chi NSNN. Trong năm 2026, tiếp tục xử lý, thu hồi dứt điểm số tạm ứng quá thời hạn quy định; làm rõ các trường hợp không có khả năng thu hồi số kinh phí tạm ứng quá thời hạn quy định.
Thực hiện nghiêm các chế tài xử phạt, xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân không thực hiện đúng quy định của pháp luật về NSNN, nghị quyết của Quốc hội trong quản lý, thu hồi số tạm ứng NSNN.
Trước khi đại biểu Quốc hội biểu quyết, báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của các đại biểu quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, năm 2024, kết quả thu NSNN vượt dự toán là kết quả của sự phục hồi kinh tế tích cực hơn so với dự kiến tại thời điểm xây dựng dự toán, trong quá trình thực hiện, hiệu quả của các chính sách hỗ trợ và công tác quản lý thu được tăng cường.
Việc tăng thu NSNN trong bối cảnh kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn đã giúp Chính phủ giảm bội chi, có thêm nguồn lực để đầu tư phát triển và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
Về công tác quản lý nợ thuế của cơ quan thuế, theo báo cáo, trong tổng số nợ thuế năm 2024 do cơ quan thuế quản lý thì các khoản nợ liên quan đến đất là 63.208 tỷ đồng, chiếm 31,04% tổng số nợ. Số tiền nợ các khoản thu từ đất chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nợ, trong đó có rất nhiều khoản nợ do vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án phát sinh do giao đất, cho thuê đất từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Số tiền chậm nộp thuế đến thời điểm 31/12/2024 là 60.940 tỷ đồng, chiếm 37% tổng số tiền nợ thuế, tăng 53% so với cùng kỳ năm 2023. Nguyên nhân chủ yếu là do một bộ phận doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến hạn chế về dòng tiền và chậm thực hiện nghĩa vụ thuế.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Vinaconex nói gì về kế hoạch đầu tư vào Giày Thượng Đình, tham vọng khai thác quỹ đất nội đô?

Sáng 25/4, Tổng CTCP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex, HoSE: VCG) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, với nhiều nội dung được cổ đông quan tâm như diễn biến giá cổ phiếu, kế hoạch đầu tư dự án mới, cũng như các vấn đề liên quan đến thanh tra và kết quả kinh doanh.
Tại đại hội, câu chuyện giá cổ phiếu VCG diễn biến kém tích cực dù doanh nghiệp liên tục trúng thầu các dự án lớn như sân bay Long Thành hay cao tốc Bắc - Nam đã được cổ đông đặt thẳng vấn đề.
Trả lời nội dung này, Tổng Giám đốc Nguyễn Xuân Đông cho rằng giá cổ phiếu phụ thuộc vào thị trường và dòng vốn, đặc biệt là khối ngoại.
"Diễn biến cổ phiếu là do thị trường, chúng tôi không có bất kỳ tác động nào để giá cổ phiếu lên hay xuống. Chúng tôi cũng rất mong muốn giá cổ phiếu phải cao chứ không phải lình xình như thế này, nhưng đã lên sàn thì phải theo thị trường" ông nói, đồng thời cho biết thời gian qua trên thị trường nhiều quỹ đầu tư nước ngoài đã rút ròng do áp lực tỷ giá và các yếu tố vĩ mô.
Lãnh đạo Vinaconex thừa nhận diễn biến cổ phiếu "lình xình" là điều doanh nghiệp và cổ đông đều không mong muốn, song nhấn mạnh định hướng điều hành vẫn ưu tiên an toàn, hiệu quả bền vững hơn là các hoạt động truyền thông hay "đánh bóng" hình ảnh.
Theo ông Đông, mức cổ tức dự kiến 16% cho năm 2025 là cơ sở để duy trì sức hấp dẫn với nhà đầu tư dài hạn.
Đối với kế hoạch chi trả cổ tức, lãnh đạo doanh nghiệp cho biết sẽ thực hiện trong năm 2026, ngay sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết. Theo chia sẻ tại đại hội, Vinaconex đặt mục tiêu chi trả sớm và không kéo dài thời gian thực hiện, nhằm đảm bảo quyền lợi cho cổ đông.
Một nội dung đáng chú ý khác là kế hoạch gia tăng hiện diện tại Công ty Giày Thượng Đình - doanh nghiệp sở hữu khu "đất vàng" tại Nguyễn Trãi được đánh giá có vị trí thuận lợi tại Hà Nội.
Theo ban lãnh đạo, Vinaconex dự kiến tham gia vào dự án công trình xây dựng trên khu đất của Giày Thượng Đình với tỉ lệ sở hữu khoảng 24%, hợp tác cùng các đối tác khác để phát triển dự án. Khu đất này đã nằm trong danh mục được triển khai theo Nghị quyết của Tp.Hà Nội, với định hướng phát triển các tòa chung cư cao tầng, quy mô dân số hơn 3.000 người.
Đây là khu đất nằm trong khu vực nội đô, có giá trị thương mại cao nếu được chuyển đổi công năng sang phát triển nhà ở. Dù chưa công bố chi tiết cấu trúc giao dịch, ban lãnh đạo cho biết định hướng là tham gia với vai trò nhà đầu tư phát triển, tận dụng kinh nghiệm trong lĩnh vực bất động sản để tối ưu hóa giá trị dự án.
Theo đánh giá của doanh nghiệp, việc tham gia vào Giày Thượng Đình không chỉ đơn thuần là một khoản đầu tư tài chính mà còn là bước đi chiến lược nhằm mở rộng quỹ đất tại khu vực lõi đô thị - nơi nguồn cung ngày càng khan hiếm.
Nếu triển khai đúng tiến độ, dự án có thể trở thành một trong những điểm đóng góp đáng kể cho kết quả kinh doanh trung hạn của Vinaconex.
Một nội dung khác cũng được cổ đông quan tâm là việc Vinaconex nằm trong kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ trong quý II/2026. Trả lời vấn đề này, ban lãnh đạo cho rằng đây là hoạt động thanh tra theo kế hoạch, chủ yếu liên quan đến các dự án bất động sản và thủ tục đầu tư trước đây.
"Đây là việc bình thường thôi, không phải đáng lo lắm", đại diện công ty cho biết, đồng thời khẳng định các dự án đều tuân thủ quy định pháp luật.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Trở về từ chuyến du lịch lễ 30.4 - 1.5, anh Phạm Minh Tuấn Đức, Trưởng phòng Marketing một công ty phân phối ô tô tại TP.HCM, vẫn chưa hết ám ảnh: "Tôi vừa có chuyến hành trình dài từ TP.HCM đến An Giang và ngược lại. Nhìn bản đồ lộ trình qua cao tốc thể hiện trạng thái ùn tắc, tôi lập tức chuyển hướng sang QL1A, nhưng tình hình cũng không khá hơn. Lượng xe dồn về quá đông, trong đó chủ yếu là xe máy khiến không gian di chuyển chật hẹp. Đoạn đường từ Cần Thơ về TP.HCM bình thường chỉ mất tối đa 3 giờ, ngày 3.5 tôi phải di chuyển mất 5 giờ. QL1A hiện nay vẫn là tuyến đường huyết mạch nối TP.HCM và các tỉnh ĐBSCL nhưng thường xuyên ùn tắc vào cuối tuần, đặc biệt là những dịp lễ tết khiến người dân rất mệt mỏi".
Tương tự, ông Nguyễn Phong, ngụ Bến Tre (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long) cũng khổ sở vì vừa trải qua hành trình vài chục ki lô mét nhưng lại kéo dài mệt mỏi. Sáng 30.4, ông Nguyễn Phong rời TP.HCM về miền Tây nghỉ lễ, hành trình bình thường chỉ mất hơn 2 giờ nhưng vào lúc cao điểm thì gần như tê liệt từng đoạn. Từ khu vực cửa ngõ phía tây TP.HCM, đặc biệt đoạn đường Lê Khả Phiêu, các loại phương tiện nối đuôi kéo dài, nhiều thời điểm gần như đứng yên không thể di chuyển, có đoạn mất gần 30 phút để đi chưa tới 1 km. "Vấn đề không chỉ nằm ở lượng xe tăng đột biến mà còn đến từ hạ tầng chưa theo kịp tốc độ phát triển phương tiện. Các điểm giao cắt lớn trở thành "nút thắt cổ chai", khiến dòng xe dồn ứ kéo dài", ông Phong đúc kết.
Ở phía đông TP.HCM, QL51 cũng là nỗi ám ảnh của các bác tài và người đi đường. Dù đã có tuyến cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây giảm tải nhưng QL51 vẫn là tuyến đường di chuyển chính của nhiều phương tiện về Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ). Đặc biệt, mỗi khi cao tốc gặp sự cố, dòng xe lập tức được điều tiết lưu thông sang QL51 khiến áp lực căng thẳng và thường xuyên xảy ra ùn tắc.
Ông Nguyễn Thanh Phong, Giám đốc một công ty vận tải tại P.Phú Mỹ (TP.HCM), kể: "QL51 là đường đi làm mỗi ngày của tôi, đường rất xấu và có nhiều đoạn gồ ghề, bong tróc, đầy ổ voi. Đáng nói là tuyến đường này thường xuyên xảy ra kẹt xe kéo dài, gây thiệt hại về thời gian, sức khỏe, chi phí của người dân; ngoài ra còn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tai nạn".
Theo ông Phong, trong quá trình vận chuyển của doanh nghiệp (DN) thì việc sử dụng tuyến đường cao tốc sẽ được ưu tiên vì phải đáp ứng yêu cầu về thời gian cho khách hàng. Tuy nhiên, cao tốc chưa thể phủ kín hết lộ trình, nhiều tuyến nhánh vẫn phải di chuyển qua quốc lộ và cần thiết phải được nâng cấp mở rộng để đáp ứng lượng phương tiện di chuyển đang tăng lên.
Ông Lê Văn Quyền, tài xế xe tải lâu năm tại TP.HCM, cũng nhìn nhận: thực tế hiện nay các tuyến quốc lộ quanh TP.HCM như QL13, QL1K, QL22... đều đang trong tình trạng quá tải, mặt đường nhỏ hẹp trong khi lượng xe lưu thông rất đông.
"Có những đoạn đường chỉ vài chục ki lô mét nhưng mất thời gian di chuyển rất nhiều. Ví dụ như QL22 và QL13, trên đường này có nhiều giao lộ giao cắt, thời gian dừng chờ đèn đỏ liên tục. QL13, dù đã được mở rộng một số đoạn phía Bình Dương (cũ) nhưng về tới TP.HCM lại bị thắt cổ chai ngay cửa ngõ, thường xuyên ùn tắc vì lượng phương tiện mỗi ngày di chuyển về trung tâm TP.HCM rất đông. Hay như đi từ Tây Ninh về TP.HCM chỉ khoảng hơn 60 km, nhưng có khi mất đến 4 giờ", ông Quyền than thở.
Thực tế, các tuyến quốc lộ đang trong tình cảnh quá tải nghiêm trọng đều đã có dự án mở rộng, nâng cấp nhưng hầu hết đều chậm trễ. Đơn cử, 4 "siêu dự án" mở rộng quốc lộ theo hình thức BOT trên đường hiện hữu của TP.HCM dù đã được Nghị quyết 98 mở cơ chế, nhưng thực tế triển khai đang vướng đủ đường.
Trong đó, dự án mở rộng QL13 bị coi là "nỗi ám ảnh" kinh niên của cửa ngõ đông bắc nhưng kế hoạch mở rộng thì nằm trên giấy suốt hơn 2 thập niên bế tắc. Sau khi được mở cơ chế, QL13 được quy hoạch mở rộng lên 60 m, tương đương 10 - 12 làn xe, với tổng mức đầu tư dự kiến gần 21.000 tỉ đồng, dự kiến khởi công ngay từ đầu 2026. Tuy nhiên, theo báo cáo mới nhất của Sở Xây dựng TP.HCM, dự án chia thành 2 thành phần gồm: bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại P.Hiệp Bình và đầu tư xây dựng tuyến chính thì cả 2 thành phần đều đang chậm tiến độ. Với tình hình triển khai thực tế, Sở Xây dựng đề xuất điều chỉnh tiến độ dự án, lùi tới đầu năm sau mới khởi công. Ba dự án còn lại gồm mở rộng QL1 (đoạn từ đường Kinh Dương Vương đến ranh tỉnh Tây Ninh); QL22; trục đường Bắc - Nam cũng loay hoay, nếu thuận lợi thì cuối năm nay mới có thể chính thức xây dựng.
Tại các địa phương lân cận như TP.Đồng Nai, tình hình cũng không mấy khả quan hơn khi nhiều tuyến quốc lộ như QL51, QL1A và QL20 dù đã được bàn giao cho địa phương quản lý từ giữa năm 2025 nhưng vẫn trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, hằn lún sâu; còn các kế hoạch đại tu quy mô lớn hầu hết phải chờ đến quý 3/2026 mới chính thức triển khai.
Từ năm ngoái đến nay, hòm thư của Bộ Xây dựng cũng ngập tràn kiến nghị của cử tri các địa phương, phản ánh nghịch lý cao tốc cứ nối dài nhưng bước xuống quốc lộ là kẹt và xuống cấp. Đơn cử, cử tri Thanh Hóa phản ánh sự xuống cấp nghiêm trọng của QL16 và QL217 đoạn qua xã Hà Lĩnh - nơi vốn là nút giao quan trọng kết nối với cao tốc Bắc - Nam nhưng hiện trạng đường vẫn chỉ ở quy mô cấp V lạc hậu. Cử tri tỉnh An Giang và Vĩnh Long kiến nghị sớm mở rộng QL91 và nâng cấp các đường tỉnh lên quốc lộ để đồng bộ hạ tầng ĐBSCL. Tại vùng Tây Nam bộ, dự án nâng cấp 3 tuyến quốc lộ trọng điểm (53, 62, 91B) phấn đấu kịp khởi công vào đầu năm nay, nhưng do những vướng mắc về mặt bằng nên vẫn đang ở trạng thái chờ…
Cử tri cả nước đều đề xuất Bộ Xây dựng tập trung đưa các dự án quốc lộ vào danh mục đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, song câu trả lời chung vẫn là đề nghị địa phương "tự rà soát, sắp xếp thứ tự ưu tiên" vì nguồn lực T.Ư có hạn.
Theo ông Lê Trung Tính, Chủ tịch Hiệp hội Vận tải ô tô hành khách TP.HCM, phát triển hạ tầng giao thông đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng và chiến lược giữa các loại hình đường bộ. Trong bối cảnh cao tốc đang được ưu tiên đầu tư mạnh mẽ, hệ thống quốc lộ vẫn giữ vai trò "xương sống" huyết mạch, đảm bảo sự lưu thông thông suốt và kết nối trực tiếp giữa các tỉnh, TP trên cả nước.
Ông Tính chỉ rõ: cao tốc và quốc lộ có chức năng hỗ trợ lẫn nhau chứ không phải để thay thế. Cụ thể, về nhu cầu vận tải, cao tốc ưu tiên tốc độ và sự thuận tiện cho các đối tượng cần di chuyển nhanh. Trong khi đó, quốc lộ là lựa chọn kinh tế cho các loại hàng hóa không yêu cầu quá khắt khe về thời gian, giúp DN tối ưu hóa chi phí khi phí cao tốc (đặc biệt là các dự án BOT) thường ở mức cao. Nói cách khác, quốc lộ giúp người dân và DN có thêm lựa chọn, hoặc trả phí để đi nhanh trên cao tốc, hoặc đi trên quốc lộ song hành.
Thực tế hiện nay, việc nâng cấp quốc lộ đôi khi chưa được quan tâm đúng mực, phần lớn do áp lực về nguồn vốn không đủ để triển khai song song cả hai hệ thống. Tuy nhiên, ông Lê Trung Tính cho rằng khi các tuyến cao tốc đã thu hút được nguồn vốn xã hội hóa từ DN, giảm bớt gánh nặng cho túi tiền quốc gia, thì ngân sách cần phải tập trung nguồn lực ngược lại để tăng tốc nâng cấp và mở rộng các tuyến quốc lộ.
Đánh giá rất cao nỗ lực của Chính phủ và ngành xây dựng trong nhiệm kỳ qua đã thần tốc kết nối dải cao tốc từ Bắc vào Nam, song TS Nguyễn Hữu Nguyên, chuyên gia đô thị thuộc Hội Quy hoạch phát triển đô thị TP.HCM, khẳng định rằng cao tốc không phải "chiếc đũa thần" có thể giải quyết bài toán kết nối giao thông, giao thương liên vùng. Thực chất, nếu ví giao thông là mạch máu của kinh tế thì cao tốc chính là động mạch chủ, còn mạng lưới quốc lộ lại như hệ tĩnh mạch. Động mạch thông suốt nhưng tĩnh mạch tắc nghẽn thì "cơ thể" kinh tế cũng sẽ rơi vào tình trạng đình trệ. Để "động mạch chủ" cao tốc không bị tắc nghẽn thì hệ thống "tĩnh mạch" quốc lộ cũng phải đủ khỏe để dẫn lưu giao thông. Chỉ khi hai hệ thống này vận hành nhịp nhàng thì dòng vốn đầu tư mới thực sự đổ về các vùng kinh tế, tạo ra giá trị thặng dư thực tế.
Đặc biệt, trong bối cảnh VN đã hoàn tất sắp xếp lại các đơn vị hành chính, như vùng đô thị TP.HCM hiện có tới 4 hạt nhân chính là TP.HCM - Bình Dương - Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Nai, thì vai trò của mạng lưới quốc lộ càng trở nên quan trọng. Không gian phát triển lớn hơn đặt ra thách thức khổng lồ về quản lý và kết nối.
Theo ông Nguyên, khi các huyện, xã sáp nhập, quốc lộ chính là sợi dây liên kết đảm bảo sự thống nhất về KT-XH. Nếu không đảm bảo mạng lưới quốc lộ thông suốt thì giao thương nội vùng vẫn sẽ bị chia cắt bởi những con đường nhỏ hẹp, xuống cấp, làm giảm hiệu quả của quy mô địa giới mới.
Bên cạnh đó, quốc lộ còn đóng vai trò là trục phát triển cho các đô thị vệ tinh mới hình thành sau sáp nhập. Không có một hệ thống đường gom và đường nhánh đủ mạnh từ quốc lộ thì các vùng sâu, vùng xa sau khi sáp nhập sẽ càng khó tiếp cận với dòng chảy kinh tế của các trung tâm lớn. Chưa kể, phương tiện lưu thông trên cao tốc chủ yếu là ô tô, xe tải lớn, xe cá nhân, xe khách đường dài, trong khi quốc lộ phục vụ đa dạng mọi phương tiện, từ xe đạp đến xe máy, xe hơi, còn có cả người đi bộ. Đồng nghĩa, chất lượng hệ thống quốc lộ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống dân sinh.
"Nói vậy để thấy nếu quốc lộ kẹt thì cao tốc cũng không thể phát huy hết hiệu quả. Cao tốc giúp xe chạy nhanh hơn, tiết kiệm thời gian hơn nhưng lưu thông hàng hóa từ nhà máy tới cảng, từ đường lớn tiếp cận vào từng xã, từng phường thì chỉ có quốc lộ mới làm được", ông Nguyễn Hữu Nguyên nhấn mạnh.
Về việc các dự án mở rộng các tuyến quốc lộ thường chậm trễ, kéo dài, TS Nguyễn Hữu Nguyên cho rằng nguyên nhân lớn nhất là do thiếu vốn và thiếu đất dành cho giao thông. Khác với đường cao tốc thường đi qua đất nông nghiệp hoặc khu vực thưa dân, quốc lộ thường được mở rộng trên nền đường cũ, nơi dân cư đông đúc nên quá trình giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn, vốn lớn.
Trong khi đó, mạng lưới đường cao tốc xây mới được phép kêu gọi vốn từ DN tư nhân, trong khi mở rộng, nâng cấp đường quốc lộ hiện hữu chỉ được sử dụng vốn từ ngân sách. Mặc dù việc xây dựng hạ tầng cơ sở của VN hiện đã được trợ lực rất lớn từ khối DN tư nhân, song ngân sách đầu tư cho hạ tầng vẫn thiếu so với nhu cầu. Vì thế, nâng cấp đường quốc lộ sẽ thường khó khăn hơn làm mới đường cao tốc.
Tuy vậy, chuyên gia này vẫn nhấn mạnh nhu cầu mạng lưới đường quốc lộ đã tới lúc cấp bách, Bộ Xây dựng cùng các địa phương cần rà soát tổng thể, so sánh với phần thiệt hại kinh tế nếu chậm trễ, từ đó xác định ưu tiên cho mạng lưới quốc lộ, vành đai, đường kết nối nội vùng.
Tin Gốc: Thanh Niên

