Chiều 1/5, đại diện Bệnh viện Đa khoa khu vực Hướng Hóa cho biết số ca nghi ngộ độc thực phẩm liên quan đến bánh mì tiếp tục tăng, từ hơn 46 trường hợp ghi nhận rạng sáng nay lên 68 người vào chiều cùng ngày. Trong đó, một người đã xuất viện.
Các bệnh nhân hiện điều trị tại Khoa Cấp cứu – Hồi sức tích cực và Chống độc, Khoa Truyền nhiễm, sức khỏe tạm ổn định, không có ca nặng phải chuyển tuyến trên. Đa số bệnh nhân còn sốt cao, đau bụng quặn từng cơn, đại tiện phân lỏng nhiều lần, mệt mỏi.
Bệnh nhân chủ yếu từ 11 đến 15 tuổi, trong đó nhỏ nhất 28 tháng tuổi, lớn nhất 87 tuổi.
Theo UBND xã Tân Lập, tất cả bệnh nhân đều có chung nguồn thức ăn là bánh mì mua tại một cơ sở ở thôn Tân Sơn, trong khoảng thời gian từ ngày 28 đến 29/4. Cơ quan chức năng đang lấy mẫu thực phẩm và bệnh phẩm để kiểm tra, làm rõ nguyên nhân. Cơ sở bánh mì ngừng hoạt động từ ngày 30/4.
Thời gian qua, cả nước liên tục xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm sau khi ăn bánh mì. Nguyên nhân thường do nguyên liệu ăn kèm như pate, rau, thịt… nhiễm khuẩn Salmonella, gây nhiễm khuẩn chéo.
Tin Gốc: Vnexpress

Th.S Hoàng Duy Luân, bác sĩ Khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), cho biết việc tự ý sử dụng các dụng cụ, đai treo cổ để kéo giãn cột sống tại nhà mà không có sự chỉ định và giám sát của bác sĩ là cực kỳ nguy hiểm. Vùng cổ tập trung nhiều dây thần kinh, mạch máu quan trọng và các đốt sống nhạy cảm; một sai sót nhỏ cũng có thể dẫn đến những hậu quả không thể khắc phục được.
Bác sĩ Hoàng Duy Luân lưu ý nguy cơ nghiêm trọng nhất do tự sử dụng các dụng cụ kéo giãn cột sống tại nhà là tai biến về mạch máu và thần kinh, cũng như tổn thương cấu trúc cột sống.
Cụ thể, các tai biến về mạch máu và thần kinh bao gồm:
Bóc tách động mạch đốt sống: Lực kéo không đúng cách hoặc quá mạnh có thể gây tổn thương thành mạch máu, dẫn đến hình thành cục máu đông, gây đột quỵ não hoặc tử vong đột ngột.
Liệt vĩnh viễn: Nếu người dùng đang bị thoát vị đĩa đệm nặng hoặc có các tổn thương tủy sống tiềm ẩn, lực kéo có thể làm khối thoát vị chèn ép tủy cấp tính, gây liệt chi hoặc mất kiểm soát đại tiểu tiện (hội chứng đuôi ngựa).
Tổn thương cấu trúc cột sống bao gồm:
Nguy cơ gãy hoặc trượt đốt sống: Với những người có xương yếu (loãng xương) hoặc đang bị viêm nhiễm (lao cột sống), lực treo có thể làm gãy đốt sống hoặc gây trượt đốt sống cổ.
Tổn thương dây chằng và cơ: Kéo quá mức khiến các nhóm cơ và dây chằng quanh cổ bị giãn quá đà, gây đau đớn dữ dội, viêm nhiễm cục bộ và làm cột sống mất đi sự ổn định tự nhiên.
Ngoài ra còn có các biến chứng cấp tính khác:
Ngất xỉu và chóng mặt: Áp lực lên các xoang cảnh ở cổ có thể gây hạ huyết áp đột ngột hoặc thiếu máu cục bộ tạm thời, khiến người bệnh ngất ngay khi đang treo, dẫn đến ngã nhào và chấn thương.
Tăng huyết áp kịch phát: Sự lo lắng và đau đớn trong quá trình tự thực hiện có thể khiến huyết áp tăng vọt, đe dọa những người có tiền sử bệnh tim mạch.
Bác sĩ Hoàng Duy Luân lưu ý: Căn cứ vào hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, phương pháp kéo giãn cột sống được chỉ định với các trường hợp: thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm giai đoạn đầu, thoát vị đĩa đệm vừa và nhẹ; hội chứng đau lưng và thắt lưng do nguyên nhân ngoại vi (cơ, dây chằng); vẹo cột sống do tư thế. Việc thăm khám đánh giá tình trạng bệnh để chỉ định kéo giãn cột sống phải được thực hiện bởi bác sĩ chuyên khoa.
Chống chỉ định kéo giãn cột sống cổ khi bị tổn thương thực thể cột sống: ung thư, lao, viêm tấy áp xe vùng lưng; chấn thương cột sống có gãy xương biến dạng; bệnh lý tủy sống và ống sống; thoái hóa cột sống có các cầu xương nối các đốt sống; viêm cột sống dính khớp; loãng xương nặng; người bệnh già, suy kiệt; trẻ em; cao huyết áp, các bệnh tim nặng; phụ nữ có thai, đang có kinh nguyệt.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tổn thương thận cấp hay suy thận cấp là một tình trạng lâm sàng rất phổ biến, đặc biệt ở những người đang mắc bệnh lý nặng. Bác sĩ Nguyễn Văn Thanh, phó trưởng Khoa Nội Thận - Tiết niệu Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho biết một số loại thuốc điều trị có thể là nguyên nhân trực tiếp gây ra hoặc làm diễn tiến tổn thương thận cấp trở nên trầm trọng hơn.
Đối với những người bệnh đang có tổn thương thận hoặc đang trong quá trình điều trị, việc lựa chọn và kết hợp thuốc cần được cân nhắc kỹ lưỡng để hạn chế phối hợp các thuốc có chung nguy cơ gây độc. Việc nhận diện sớm và kịp thời ngừng sử dụng các tác nhân gây độc này có thể cải thiện đáng kể kết quả điều trị.
Theo bác sĩ, nguy cơ tổn thương thận cấp do thuốc sẽ gia tăng ở các nhóm, như:
Người đang trong tình trạng mất nước (bao gồm người cao tuổi uống không đủ nước, hoặc người đang bị nôn, sốt, tiêu chảy), nhiễm trùng huyết hoặc hạ huyết áp. Người bệnh đã có tiền sử mắc bệnh thận từ trước.
Người đang sử dụng phác đồ phối hợp nhiều loại thuốc có khả năng gây độc cho thận như: thuốc giảm đau chống viêm không steroid, kháng sinh, thuốc kháng nấm, lợi tiểu, thuốc hạ axit uric máu (allopurinol), thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể.
Một số loại thuốc gây tổn thương thận cấp phổ biển:
1: Kháng sinh nhóm minoglycoside (gentamicin, amikacin, tobramycin, ...): Thuốc gây độc trực tiếp lên ống lượn gần dẫn đến hoại tử ống thận cấp tính. Nguy cơ tăng lên khi điều trị kéo dài trên 5–7 ngày, nồng độ thuốc trong huyết thanh cao. Thuốc có thể gây suy thận cấp mà không có thiểu niệu (đái ít) và thường tăng creatinin huyết tương sau vài ngày dùng thuốc.
Phòng ngừa: chỉ định sử dụng ngắn ngày, theo dõi nồng độ thuốc huyết thanh, ùng 1 lần/ngày hơn là chia liều. Trường hợp có suy thận mà phải dùng thuốc, cần điều chỉnh liều theo mức lọc cầu thận.
2: Vancomycin: Gây tổn thương trực tiếp ống lượn gần, tăng gốc oxy hóa, viêm kẽ thận, đôi khi tổn thương cầu thận. Nguy cơ cao hơn khi dùng liều cao, kéo dài, hoặc kết hợp với aminoglycosid. Để phòng ngừa cần duy trì nồng độ vancomycin trong mục tiêu điều trị.
3: Thuốc chống viêm không steroid gây giảm tổng hợp prostaglandin dẫn đến co mạch tiểu động mạch đến ở cầu thận, viêm ống‑kẽ thận do phản ứng quá mẫn, thậm chí gây độc tế bào, rối loạn chức năng ống thận. Tình trạng thường gặp ở người bệnh có mất nước, cao tuổi, có bệnh thận nền, suy tim, xơ gan hoặc kết hợp với các thuốc giãn mạch đi của cầu thận và/hoặc thuốc lợi tiểu.
4: Thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể angiotensin gây giãn tiểu động mạch đi, làm giảm áp lực lọc cầu thận. Nguy cơ cao hơn ở người bị hẹp động mạch thận hai bên, hạ huyết áp nghiêm trọng, thiếu dịch hoặc kết hợp lợi tiểu và/hoặc thuốc gây co mạch đến của cầu thận. Đề phòng ngừa, cần dùng liều thấp và tăng dần theo đáp ứng và dung nạp thuốc.
5: Allopurinol chủ yếu dùng để giảm axit uric trong máu và điều trị bệnh gút. Thuốc có thể gây tổn thương thận cấp do tổn thương ống thận, phản ứng quá mẫn với thuốc. Nguy cơ tăng lên nếu người bệnh đã có suy thận từ trước và cần điều chỉnh liều thuốc theo chức năng thận.
Đề phòng ngừa, cần đảm bảo đủ dịch, uống liều thấp tăng dần theo đáp ứng và dung nạp, giảm liều theo mức lọc cầu thận. Xét nghiệm sàng lọc người mang gen HLA‑B58:01 trước khi dùng allopurinol kéo dài có thể giúp giảm nguy cơ phản ứng quá mẫn nặng.
6: Thuốc cản quang tĩnh mạch gây ra bệnh thận do thuốc cản quang. Cơ chế thuốc gây co mạch thận, độc tính trực tiếp lên ống thận gây hoại tử ống thận cấp. Nguy cơ cao ở người mắc đái tháo đường, suy thận mạn, mất nước, dùng đồng thời thuốc khác (chống viêm không steroid, thuốc lợi tiểu, ức chế men chuyển, chẹn thụ thể).
Bác sĩ thường bù dịch đầy đủ trước và sau chụp phim có thuốc, tránh sử dụng thuốc cản quang không cần thiết hoặc hạn chế liều thuốc cản quang tối thiểu. Tránh dùng chống viêm không steroid trong 24–48 giờ trước/sau tiêm thuốc, ngưng hoặc điều chỉnh liều thuốc lợi tiểu,
7: Thuốc kháng nấm Amphotericin B gây co mạch thận và độc tính lên ống thận. Tuy nhiên thuốc dạng liposome (liposomal amphotericin B) gây độc thận ít hơn dạng deoxycholate. Đề phòng ngừa: Sử dụng dạng liposome nếu có điều kiện, bù dịch đủ trước truyền, điều chỉnh liều nếu có dấu hiệu suy thận.
8: Thuốc ức chế calcineurin (Cyclosporine, Tacrolimus) gây co mạch thận, tổn thương ống thận. Thuốc có thể gây suy thận mạn tính. Cần theo dõi nồng độ thuốc trong máu, giữ nồng độ trong mục tiêu, tránh liều cao kéo dài. Kết hợp đảm bảo đủ dịch, tránh kết hợp các thuốc khác có nguy cơ gây độc.
9: Thuốc lợi tiểu quai (nguy cơ tổn thương thận gián tiếp) nếu sử dụng quá liều gây lợi tiểu quá mức, giảm thể tích tuần hoàn.
10: Propofol (hiếm gặp nhưng quan trọng): Propofol là một thuốc gây mê tĩnh mạch tác dụng nhanh có thể gây suy thận cấp thông qua hội chứng truyền Propofol, liên quan đến tiêu cơ vân, nhiễm toan chuyển hóa, tổn thương cơ tim do truyền liều cao và kéo dài.
Một số biện pháp phòng ngừa chung:
- Đánh giá chức năng thận trước khi dùng các thuốc đặc biệt là các thuốc có nguy cơ gây tổn thương thận.
- Đánh giá các thuốc điều trị hàng ngày, tránh kết hợp nhiều thuốc cùng có nguy cơ gây độc cho thận, ưu tiên thuốc ít độc hơn nếu có lựa chọn.
- Đảm bảo đủ dịch (uống, truyền tĩnh mạch nếu cần), duy trì áp lực tưới máu đến thận đầy đủ.
- Theo dõi chức năng thận, gồm nước tiểu, cân nặng (hàng ngày), creatinine, mức lọc cầu thận và điện giải đồ huyết thanh (có thể 2-3 ngày/lần hoặc khoảng cách tùy từng trường hợp bệnh).
"Luôn nghĩ đến tổn thương thận cấp do thuốc khi thấy creatinine huyết thanh tăng trong vòng 48-72 giờ sau khi bắt đầu dùng thuốc mới", bác sĩ khuyên.
Tin Gốc: https://vnexpress.net/bac-si-neu-ten-10-loai-thuoc-co-the-tan-pha-than-cap-tinh-5060930.html

Trả lời:
Nước tiểu nổi bọt có thể do dòng tiểu mạnh, tiểu gấp, nước tiểu cô đặc do uống ít nước, nhịn tiểu lâu, hoặc trong bồn cầu còn chất tẩy rửa. Lúc này, bọt xuất hiện thoáng qua và tan nhanh.
Tuy nhiên, nếu nước tiểu thường xuyên có nhiều bọt, bọt dày, lâu tan, đặc biệt kèm theo phù mi mắt buổi sáng, phù chân, tăng huyết áp, đái tháo đường, tiểu máu, mệt nhiều, thì nên đi khám.
Thận có nhiệm vụ lọc máu nhưng vẫn giữ lại những chất quan trọng như albumin/protein. Khi hàng rào lọc của thận bị tổn thương, protein có thể lọt qua và đi ra nước tiểu, chính protein này có thể làm nước tiểu dễ tạo bọt hơn.
Tuy nhiên, không phải có protein niệu là gây tiểu bọt và ngược lại, tiểu bọt chỉ là dấu hiệu có thể gợi ý và liên quan với protein niệu chứ không đủ nhạy và không đủ đặc hiệu để chẩn đoán. Protein niệu đôi khi có thể tăng thoáng qua sau sốt, mất nước, vận động nặng hoặc nhiễm trùng...
Để chẩn đoán chính xác, bác sĩ chỉ định kiểm tra một số xét nghiệm cơ bản như:
Tổng phân tích nước tiểu để xem có protein, hồng cầu có bất thường.
Tỷ lệ albumin/creatinin niệu để phát hiện tổn thương thận sớm.
Creatinin máu và eGFR để đánh giá chức năng lọc của thận.
Đo huyết áp, kiểm tra đường máu nếu có yếu tố nguy cơ....
Tin Gốc: Vnexpress

