Trả lời:
Nước tiểu nổi bọt có thể do dòng tiểu mạnh, tiểu gấp, nước tiểu cô đặc do uống ít nước, nhịn tiểu lâu, hoặc trong bồn cầu còn chất tẩy rửa. Lúc này, bọt xuất hiện thoáng qua và tan nhanh.
Tuy nhiên, nếu nước tiểu thường xuyên có nhiều bọt, bọt dày, lâu tan, đặc biệt kèm theo phù mi mắt buổi sáng, phù chân, tăng huyết áp, đái tháo đường, tiểu máu, mệt nhiều, thì nên đi khám.
Thận có nhiệm vụ lọc máu nhưng vẫn giữ lại những chất quan trọng như albumin/protein. Khi hàng rào lọc của thận bị tổn thương, protein có thể lọt qua và đi ra nước tiểu, chính protein này có thể làm nước tiểu dễ tạo bọt hơn.
Tuy nhiên, không phải có protein niệu là gây tiểu bọt và ngược lại, tiểu bọt chỉ là dấu hiệu có thể gợi ý và liên quan với protein niệu chứ không đủ nhạy và không đủ đặc hiệu để chẩn đoán. Protein niệu đôi khi có thể tăng thoáng qua sau sốt, mất nước, vận động nặng hoặc nhiễm trùng…
Để chẩn đoán chính xác, bác sĩ chỉ định kiểm tra một số xét nghiệm cơ bản như:
Tổng phân tích nước tiểu để xem có protein, hồng cầu có bất thường.
Tỷ lệ albumin/creatinin niệu để phát hiện tổn thương thận sớm.
Creatinin máu và eGFR để đánh giá chức năng lọc của thận.
Đo huyết áp, kiểm tra đường máu nếu có yếu tố nguy cơ….
Tin Gốc: Vnexpress

Bác sĩ chuyên khoa 2 Châu Thị Anh, phụ trách Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á TP.HCM, giải đáp: Việc đổ mồ hôi thường được coi là một dấu hiệu tích cực cho thấy hệ thống "làm mát" của cơ thể đang hoạt động tốt. Tuy nhiên, để trả lời câu hỏi mồ hôi ra nhiều có phải là "khỏe" hay không, chúng ta cần nhìn vào ngữ cảnh và cơ địa của từng người. Dưới đây là cách hiểu đúng về hiện tượng này.
Mồ hôi thực chất là cơ chế điều tiết thân nhiệt. Khi nhiệt độ cơ thể tăng lên (do vận động, thời tiết hoặc sốt), não bộ sẽ kích hoạt các tuyến mồ hôi để giải phóng nước, từ đó làm mát da khi nước bay hơi.
Sự thích nghi của cơ thể: Những người có thể lực tốt thường bắt đầu đổ mồ hôi sớm hơn và nhiều hơn khi tập luyện. Đó là vì cơ thể họ đã học được cách làm mát hiệu quả để duy trì hiệu suất vận động lâu hơn.
Thải độc qua da: Mặc dù gan và thận đảm nhận 99% nhiệm vụ thải độc, nhưng mồ hôi cũng giúp loại bỏ một lượng nhỏ muối, kim loại nặng và làm sạch lỗ chân lông.
Không phải lúc nào "mướt mồ hôi" cũng là khỏe. Có những trường hợp đổ mồ hôi nhiều là biểu hiện của tình trạng sức khỏe không ổn định:
Đổ mồ hôi trộm (ban đêm): Nếu bạn đổ mồ hôi ướt sũng quần áo khi đang ngủ trong môi trường mát mẻ, đây có thể là dấu hiệu của nhiễm trùng, thay đổi nội tiết tố hoặc các vấn đề sức khỏe tiềm ẩn khác.
Tăng tiết mồ hôi (Hyperhidrosis): Đây là tình trạng các tuyến mồ hôi hoạt động quá mức ngay cả khi không có tác động của nhiệt độ hay vận động (thường ở lòng bàn tay, bàn chân, nách).
Vấn đề về chuyển hóa: Đổ mồ hôi nhiều kèm với run tay, sụt cân hoặc nhịp tim nhanh có thể liên quan đến cường giáp hoặc hạ đường huyết.
Mồ hôi lạnh: Nếu đột ngột đổ mồ hôi lạnh kèm theo đau tức ngực hoặc chóng mặt, đó có thể là dấu hiệu cảnh báo vấn đề về tim mạch.
Lượng mồ hôi mỗi người tiết ra rất khác nhau và phụ thuộc vào gien di truyền, cân nặng, môi trường và trang phục. Bởi số lượng tuyến mồ hôi trên cơ thể mỗi người là khác nhau, người có khối lượng cơ thể lớn hơn thường tỏa nhiều nhiệt hơn và cần nhiều mồ hôi hơn để làm mát, độ ẩm cao khiến mồ hôi khó bay hơi, làm bạn có cảm giác mình ra mồ hôi nhiều hơn bình thường.
Đổ mồ hôi là bình thường, nhưng quan trọng nhất là bạn phải bù nước và điện giải. Nếu lượng mồ hôi ra nhiều một cách bất thường (không do vận động, không do nóng) hoặc kèm theo các triệu chứng mệt mỏi, sụt cân, bạn nên kiểm tra sức khỏe định kỳ.
Bạn nên lưu ý nếu hiện tượng đổ mồ hôi đi kèm với các "dấu hiệu đỏ" sau như: Đổ mồ hôi đêm thường xuyên gây ướt sũng ga giường dù phòng mát; đi kèm triệu chứng toàn thân như sốt, sụt cân không rõ nguyên nhân, đau ngực, hoặc đánh trống ngực; đổ mồ hôi không đối xứng - chỉ đổ mồ hôi ở một bên cơ thể (có thể liên quan đến vấn đề thần kinh).
Tin Gốc: Thanh Niên

Thế nhưng, ngày càng có những trường hợp chỉ cần cầm điện thoại lên đã thấy choáng, buồn nôn hoặc mệt mỏi, thậm chí sợ cầm vào điện thoại.
Chị N.T.M. (40 tuổi, nhân viên văn phòng tại Hà Nội) chia sẻ khoảng vài tháng gần đây, chị bắt đầu gặp tình trạng rất khó chịu: "Cứ cầm điện thoại lên là tôi thấy buồn nôn, chóng mặt, tay tê như kiến bò, nhiều lúc còn sợ không dám dùng nữa".
Trước đó, chị M. có tiền sử đau cột sống cổ do đặc thù công việc phải ngồi máy tính nhiều giờ mỗi ngày. Ngoài thời gian làm việc, chị vẫn thường xuyên sử dụng điện thoại để trao đổi công việc và giải trí.
"Ban đầu chỉ là mỏi cổ, rồi dần dần mỗi lần nhìn vào điện thoại lâu là thấy choáng nhẹ. Sau này chỉ cần cầm lên thôi cũng đã thấy khó chịu", chị chia sẻ.
Tình trạng này khiến công việc của chị bị ảnh hưởng đáng kể, khi nhiều lúc chị phải trì hoãn trả lời tin nhắn, hạn chế sử dụng điện thoại dù công việc yêu cầu liên tục.
BS Ngô Văn Quốc - trưởng khoa ngoại chấn thương Bệnh viện Lê Văn Thịnh (TP.HCM) - cho biết hiện nay số lượng bệnh nhân bị đau cổ vai gáy đến phòng khám xương khớp tăng dần theo từng năm và có xu hướng trẻ hóa.
Nếu quan sát kỹ sẽ thấy việc đau cổ, đau lưng do dùng máy tính, điện thoại trong tư thế xấu còn ảnh hưởng đến cả dáng đi, dáng ngồi. Những bệnh nhân này thường kèm theo gù lưng và người có xu hướng cúi người ra phía trước.
BS Nguyễn Tiến Lộc - khoa ngoại chấn thương Bệnh viện Lê Văn Thịnh - cũng giải thích cầm điện thoại trong thời gian dài khiến mắt đã quen với khoảng cách nhìn gần, nên khi vừa ngưng dùng để làm việc khác, mắt người dùng cần khoảng thời gian ngắn để thích nghi với sự thay đổi khoảng cách nhìn, dẫn đến tình trạng chóng mặt, buồn nôn do não bộ đang thích nghi với sự thay đổi.
Ngoài ra, trong thời gian dài cầm điện thoại ở một tư thế cũng khiến các gân ở cổ bàn tay phải gồng cứng liên tục để giữ màn hình ổn định. Điều này góp phần làm tăng áp lực ở cổ tay, gây ra tình trạng tê tay như người bị bệnh "hội chứng ống cổ tay".
Đây là loại bệnh thường gặp ở những người phải lao động bằng bàn tay liên tục như thợ hớt tóc, nghệ sĩ dương cầm.
Với một số người bệnh có cảm giác khó chịu ngay khi cầm điện thoại, BS Lộc cho hay cảm giác "khó chịu" này có thể đến từ nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên nếu "khó chịu" đến từ bàn tay thì nguyên nhân lớn nhất là do người bệnh mắc phải bệnh hội chứng ống cổ tay như đề cập.
Khi cúi đầu nhìn điện thoại, các cơ ở vùng cổ sẽ phải gồng cứng liên tục để đảm bảo đầu và cổ được giữ ổn định. Sau nhiều giờ dùng điện thoại, người dùng sẽ có cảm giác mỏi cổ do các cơ kể trên bị quá tải.
Đáng lưu tâm, với các video ngắn thường đánh vào tâm lý "thỏa mãn nhanh" của người dùng, chúng ta dễ dồn sự tập trung vào màn hình trong thời gian dài mà quên mất mình đang sử dụng điện thoại ở tư thế không tốt.
Với hiện tượng "cứ cầm điện thoại lên là buồn nôn, mệt, tê tay, thậm chí sợ sử dụng điện thoại" - chia sẻ với Tuổi Trẻ, ThS Hoàng Trọng Lân, chuyên gia tâm lý lâm sàng, cho rằng bên cạnh vấn đề bệnh lý cơ thể, tình trạng này có thể còn do yếu tố tâm lý.
Theo ThS Lân, ở những người có tiền sử đau cột sống cổ, việc duy trì tư thế cúi đầu trong thời gian dài khi dùng điện thoại có thể gây chèn ép thần kinh, rối loạn tuần hoàn vùng cổ - đầu. Hệ quả là xuất hiện các triệu chứng như tê tay, chóng mặt, buồn nôn.
Đáng chú ý, khi những trải nghiệm khó chịu này lặp lại nhiều lần, não bộ có thể hình thành một "liên kết có điều kiện". Ông Lân cho biết từng tiếp nhận một trường hợp điển hình, một nhân viên văn phòng sau thời gian dài bị đau cổ vai gáy, mỗi lần dùng điện thoại đều thấy choáng nhẹ và buồn nôn.
Ban đầu đây là phản ứng sinh lý do tư thế. Tuy nhiên về sau dù đã điều chỉnh tư thế và chỉ sử dụng trong thời gian ngắn, người này vẫn xuất hiện cảm giác khó chịu và dần né tránh việc sử dụng điện thoại.
"Điều này cho thấy yếu tố thể chất có thể là nguyên nhân khởi phát nhưng yếu tố tâm lý lại góp phần duy trì và làm trầm trọng thêm triệu chứng", ông Lân phân tích. Theo đó, một "vòng xoắn" có thể hình thành trải nghiệm khó chịu khiến não ghi nhớ, từ đó sinh ra lo âu dự đoán; lo âu lại làm tăng phản ứng sinh lý khiến triệu chứng rõ hơn và dẫn đến né tránh.
Theo chuyên gia, nếu không được can thiệp kịp thời, tình trạng này có thể tiến triển thành rối loạn lo âu. Người gặp vấn đề sẽ dần hạn chế hoặc sợ sử dụng thiết bị, thậm chí né tránh công việc, giao tiếp trực tuyến, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất làm việc và chất lượng cuộc sống.
Người có các dấu hiệu như triệu chứng kéo dài nhiều tuần không giảm, mức độ khó chịu tăng dần, xuất hiện hành vi né tránh hoặc lo lắng rõ rệt khi nghĩ đến việc sử dụng điện thoại nên tìm đến chuyên gia để được thăm khám. Việc đánh giá sớm giúp phân biệt rõ yếu tố thể chất và tâm lý, từ đó có hướng can thiệp.
Về nguyên tắc xử lý, ông Lân ví cột sống cổ như "nền tảng vật lý". Nếu nền tảng này gặp vấn đề như sai tư thế, căng cơ hay chèn ép nhẹ cần điều chỉnh tư thế, tập vật lý trị liệu để loại bỏ tín hiệu khó chịu từ cơ thể.
Song song đó cần can thiệp vào "cách não đã học và ghi nhớ trải nghiệm". Liệu pháp tâm lý, đặc biệt theo hướng nhận thức - hành vi, giúp người bệnh điều chỉnh lại nhận thức và hành vi. Người bệnh có thể tập tiếp xúc lại với điện thoại từng bước, bắt đầu từ thời gian ngắn, ở tư thế đúng và trong trạng thái thư giãn, sau đó tăng dần.
"Hiểu đơn giản là vừa chỉnh lại cơ thể, vừa "dạy lại" não rằng việc sử dụng điện thoại là an toàn. Khi hai quá trình này diễn ra song song, triệu chứng sẽ giảm bền vững", ông Lân nói.
Tin Gốc: https://tuoitre.vn/chong-mat-buon-non-met-moi-vi-dung-dien-thoai-2026041008171333.htm

Trả lời:
Tình trạng không thể uống hết 2 lít nước lọc một ngày không phải là dấu hiệu "yếu" mà cho thấy hệ thống điều hòa nước của cơ thể đang hoạt động hiệu quả. Các cơ chế sinh học như giảm cảm giác khát, tăng bài tiết nước tiểu và tạo cảm giác đầy bụng được thiết kế để ngăn cơ thể hấp thu quá nhiều nước trong thời gian ngắn.
Nước là nhu cầu sinh tồn nên cơ thể có cơ chế kiểm soát rất nghiêm ngặt. Chỉ cần nồng độ muối trong máu tăng nhẹ, não bộ lập tức phát tín hiệu khát để thúc đẩy việc uống nước. Ngược lại, khi cơ thể đã nhận đủ nước, các tín hiệu "tắt khát" sẽ được kích hoạt rất nhanh. Chỉ cần vài tín hiệu từ miệng, họng và dạ dày khi nước vừa được uống vào, não đã nhận biết rằng cơ thể sắp được bù nước. Khi đó, cảm giác khát giảm ngay cả trước khi nước được hấp thu hoàn toàn. Đồng thời, thận bắt đầu tăng thải nước tiểu để giữ cân bằng dịch.
Các nghiên cứu thần kinh học cho thấy khi cơ thể đã đủ nước, việc nuốt thêm trở nên khó khăn hơn rõ rệt. Điều này giải thích vì sao nhiều người cảm thấy rất khó uống tiếp khi đã uống quá nhiều nước.
Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác là cảm giác căng dạ dày. Khi uống nước liên tục, dạ dày nhanh chóng bị giãn ra và tạo cảm giác đầy bụng. Trong các thử nghiệm sinh lý, nhiều người bắt đầu cảm thấy "no nước" sau khoảng 400-700 ml.
Trái ngược với nước lọc, bia lại tác động đến cơ thể theo nhiều con đường khiến người uống dễ tiêu thụ nhiều hơn. Bia thường được uống lạnh, có ga và có hương vị đặc trưng. Các yếu tố này làm tăng cảm giác sảng khoái và dễ uống. Khí CO₂ trong bia còn có thể tạo ra hiện tượng ợ hơi, giúp giảm áp lực trong dạ dày, khiến người uống cảm thấy "nhẹ bụng" hơn dù lượng chất lỏng đã khá lớn.
Thứ hai là tác động của rượu lên não bộ. Ethanol trong bia là một chất hướng thần, có khả năng kích hoạt hệ thống thưởng của não, đặc biệt là hệ dopamine. Chỉ riêng mùi hoặc vị bia cũng có thể làm tăng cảm giác muốn uống thêm, ngay cả khi lượng cồn chưa đủ gây say.
Không chỉ vậy, rượu bia còn làm suy giảm khả năng kiểm soát hành vi. Khi nồng độ cồn trong máu tăng, não bộ trở nên kém nhạy với các tín hiệu nội cảm như đầy bụng hoặc "đủ rồi". Điều này khiến người uống dễ tiếp tục uống dù cơ thể đã bắt đầu quá tải. Khi uống nhiều bia trong thời gian dài, tổng lượng cồn lớn vẫn có thể gây mất nước, rối loạn điện giải và nhiều nguy cơ sức khỏe khác.
Bác sĩ Nguyễn Huy HoàngHội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam
Tin Gốc: https://vnexpress.net/vi-sao-nghien-bia-nhung-luoi-uong-nuoc-5057689.html

