Tại cơ sở chế biến của thương hiệu Pun coffee ở km 27 Hồ Chí Minh Tây, xã Hướng Phùng, tỉnh Quảng Trị, chúng tôi được vợ chồng anh Phan Hồng Phong giới thiệu và tự tay pha cà phê nổi tiếng của vùng đất Khe Sanh. “Các anh chị hãy uống và cảm nhận. Đây là loại cà phê đặc sản ngon nhất Việt Nam được trồng ở độ cao kiêu hãnh 600m đấy ạ”, anh Phong nói.
Anh Phong là thế hệ thứ ba làm cà phê ở Hướng Phùng, sau người Pháp và những người dân đi kinh tế mới. Anh sinh ra, lớn lên ở “thủ phủ” cà phê Hướng Phùng, chứng kiến hết thăng trầm sướng khổ của người làm cà phê Khe Sanh.
Đầu thế kỷ 20, người Pháp đã đến Khe Sanh, thấy được thế mạnh của đất này với cây cà phê, họ đã xây dựng đồn điền để trồng cà phê. Từ đó, Khe Sanh đã được thế giới biết đến với những sản phẩm cà phê nổi tiếng.
Trải qua thời gian, Hướng Hóa bây giờ trở thành một trong những vùng trồng cà-phê lớn nhất miền trung. Từ nương rẫy, cây cà phê ra hoa, tạo quả, cho thu hoạch, trải qua kỹ thuật chế biến, cà phê trở thành sản phẩm thương mại có giá trị lớn.
Rồi không ngờ, một giai đoạn dài tiếp theo thương hiệu cà phê arabica Khe Sanh hầu như vắng bóng trên thị trường bởi nhiều yếu tố khác nhau. Thời gian này, anh Phong ấp ủ kế hoạch tìm lại chỗ đứng cho thương hiệu cà phê Khe Sanh.
Năm 2019, anh Phan Hồng Phong cùng vợ là chị Lương Ngọc Trâm quyết tâm xây dựng lại chất lượng cà phê arabica Khe Sanh với thương hiệu mới Pun Coffee trên tâm thế làm cà phê sạch, chất lượng cao để khách hàng thay đổi thói quen sử dụng cà phê.
Quyết định táo bạo của vợ chồng anh lúc bấy giờ khiến mọi người ngỡ ngàng, thậm chí nói “hơi điên”, song vợ chồng anh muốn tiếp nối sự nghiệp mà ba chồng đã đeo đuổi mấy chục năm qua.
Ngày xưa, bố ruột anh Phong là một trong những người đi tiên phong phát triển cây cà phê Arabica ở Hướng Phùng. Ông làm theo cách truyền thống, mua xô quả xanh chín nên chất lượng hạt không cao. Đến khi vợ chồng anh về chỉ tập trung mua cà phê chín đỏ 100% về chế biến.
Khi đang hăng say làm cà-phê và mùa vụ thu hoạch đầu tiên vừa kết thúc thì bất ngờ đại dịch Covid-19 bùng phát, mọi thứ đều gặp khó khăn vì bị phong tỏa không thể xuất khẩu, ngành cà phê ảnh hưởng nặng nề nhất khi hệ thống các quán phải đóng cửa, anh chị tưởng chừng phải bỏ cuộc giữa đường. Cũng chính thời điểm đó, anh cùng vợ ngồi tính toán lại con đường phát triển bền vững.
“Tụi mình có cây cà phê nào đâu, chỉ thu mua rồi chế biến thôi”, chị Trâm cười nói. Song, thay vì chỉ tham gia công đoạn cuối như bao năm vẫn làm, cả hai đều xác định giờ phải liên kết sản xuất thành chuỗi để đảm bảo từ khâu đầu vào đến đầu ra sản phẩm. Bởi, sản phẩm cà phê ngon bắt nguồn từ thổ nhưỡng, phương pháp canh tác, hái lượm và chế biến.
Anh Phong có thế mạnh về kỹ thuật rang xay và trồng trọt nên xây dựng một quy trình về vùng sản xuất nguyên liệu. Các vườn trồng liên kết phải thực hiện theo tiêu chuẩn loại bỏ hoá chất trong quá trình canh tác.
Chị Trâm tâm sự, ở đây bà con đều là người dân tộc Vân Kiều, canh tác cà phê độc canh theo thói quen lạm dụng hoá chất đã mấy chục năm. Sau một thời gian, đất đai không chỉ bạc màu, cây yếu, nhiều sâu bệnh mà môi trường cũng bị ảnh hưởng. Thế nên, vợ chồng chị phải đi gõ cửa từng nhà, thuyết phục cho được bà con thay đổi tập quán trồng truyền thống sang phương thức canh tác thuận tự nhiên.
“Bà con sợ rủi ro nên còn chần chừ, song Pun Coffee cam kết giá thu mua G+5, tức giá thị trường cộng thêm 5.000 đồng/kg cà phê tươi thì bà con gật đầu đồng ý làm theo”, chị nói.
Trong liên kết sản xuất, bà con là người được hưởng lợi đầu tiên. Theo thời gian, mọi người nhận thức tốt hơn nên hành trình của vợ chồng chị cũng nhẹ nhàng hơn. Cứ thế, từ vài hộ, giờ đã vài chục hộ liên kết. Vùng nguyên liệu cà phê cũng đã mở rộng ngày càng nhiều.
Đến khi quả chín được thu hoạch thì kỹ thuật chế biến vô cùng quan trọng. Vì đây là dòng cà phê đặc sản, khi chế biến phải làm sao đẩy được các hương thơm tự thân đặc trưng của cà phê arabica Khe Sanh lên cao nhất, tạo dấu ấn riêng không lẫn vào đâu được để từ đó định vị được bộ hương vị của cà phê Khe Sanh, Quảng Trị.
Điều đặc biệt là chuỗi giá trị các công việc tác động mà vợ chồng anh Phong đã làm được. Đó là xây dựng các chiến lược khác nhau tác động vào đời sống kinh tế, xã hội cho nhóm nông hộ liên kết, nhất là nông hộ yếu thế đồng bào thiểu số Vân Kiều.
Trong hành trình phát triển, vợ chồng anh Phong luôn nỗ lực để hoạt động, hỗ trợ thiết thực cho nhóm nông hộ như cung cấp cây giống cà-phê chất lượng cao để người dân thực hiện tái canh thay mới cây cà phê, hỗ trợ cây che bóng, cây lâm nghiệp để cùng triển khai dự án mang rừng về vườn cà phê, xây dựng các vùng cà phê trở thành các vùng nguyên liệu đặc sản, qua đó tạo việc làm thường xuyên cho người lao động tại chỗ; giúp đào tạo con em người dân tộc thiểu số học nghề, định hướng khởi nghiệp. Những hỗ trợ này dù đang còn nhỏ nhưng rất ý nghĩa.
Ông Phạm Huy Văn, Chủ tịch UBND xã Hướng Phùng cho biết, trong tổng số gần 3.400 ha cà phê đang cho thu hoạch của toàn tỉnh Quảng Trị, xã Hướng Phùng chiếm gần 62% diện tích. Nhờ những doanh nghiệp như Pun Cafe, những năm gần đây, đồng bào Bru Vân Kiều ở Hướng Phùng đã chú trọng hơn đến kỹ thuật canh tác, liên kết sản xuất và hướng tới mô hình trồng cà phê hữu cơ.
Một trong những điểm thay đổi rõ rệt là bà con đã bỏ dần thói quen thu hoạch theo kiểu “tuốt cả cây”. Đồng bào đã ý thức hơn về chất lượng, bởi họ thấy được lợi ích trực tiếp về giá bán, sức khỏe cây và uy tín sản phẩm cà phê mang thương hiệu Hướng Phùng.
Giải thích cho đề xuất này, Bộ Tài chính cho biết, tỷ trọng dư nợ dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chỉ duy trì ở mức 19 - 20% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ khối DN này trong tổng số DN. Nguyên nhân phần lớn do mức hấp thụ tín dụng của DNNVV còn hạn chế, quy mô vốn nhỏ, sức chống chịu yếu, phương án kinh doanh thường xuyên biến động; năng lực chứng minh tính khả thi của dự án, phương án vay vốn còn yếu... Việc tiếp cận nguồn vốn qua Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV và Quỹ phát triển DNNVV còn nhiều hạn chế và các quỹ này chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng.
Thực tế, số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 4, dư nợ nền kinh tế đạt trên 19,4 triệu tỉ đồng, tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tín dụng cho khu vực DNNVV chỉ đạt gần 3,8 triệu tỉ đồng. Con số này chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, nhưng nếu so với vai trò đóng góp vào GDP và số lượng áp đảo của khối DNNVV trong nền kinh tế, tỷ trọng này vẫn chưa tương xứng với nhu cầu thực tế.
Đặc biệt, trong báo cáo tài chính của các ngân hàng, bất động sản áp đảo danh mục tài sản thế chấp, trong khi đây là điểm yếu của các DNNVV. Chẳng hạn, cuối năm 2025 dư nợ cho vay tại BIDV đạt 2,33 triệu tỉ đồng thì tổng tài sản đảm bảo đạt hơn 3,7 triệu tỉ đồng. Xét về cơ cấu, bất động sản vẫn là thành phần chủ chốt khi chiếm tới 2,6 triệu tỉ đồng, tương đương hơn 70% tổng giá trị tài sản thế chấp. Agribank cho vay 1,93 triệu tỉ đồng khi trong tổng số 3,73 triệu tỉ đồng tài sản thế chấp có đến 3,71 triệu tỉ đồng là bất động sản… Dư nợ mà các ngân hàng cho vay chiếm khoảng 70% tổng giá trị tài sản thế chấp.
Đặt trong bối cảnh Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, cùng với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả và hội nhập sâu rộng hơn với khu vực và thế giới, Bộ Tài chính đề nghị nghiên cứu sửa đổi toàn diện luật Hỗ trợ DNNVV.
Trong đó, bổ sung quy định thực hiện cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho vay DNNVV dựa trên cơ sở thẩm định phương thức sản xuất kinh doanh, phương án mở rộng thị trường đầu ra, cho vay dựa trên dữ liệu, dòng tiền, chuỗi giá trị, xem xét các tài sản bảo đảm bao gồm cả động sản, tài sản vô hình, tài sản hình thành trong tương lai và hình thức cho vay tín chấp. Đồng thời, bổ sung quy định hỗ trợ DNNVV, đặc biệt DN công nghiệp hỗ trợ, khởi nghiệp sáng tạo vay vốn ưu đãi để đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ mới, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và tín dụng xuất khẩu, tín dụng theo chuỗi cung ứng. Sửa đổi, bổ sung các quy định về Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV ở địa phương để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động cấp bảo lãnh tín dụng…
Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nhận xét: Khối lượng DNNVV nhiều nhưng khoản cho vay chỉ chiếm 20% trong tổng dư nợ ngân hàng là con số quá thấp. Việc cho vay dựa trên dòng tiền được nhiều ngân hàng tại Mỹ triển khai. Theo đó, ngân hàng cho khách vay tiền mua nguyên vật liệu sản xuất rồi bán lại cho đối tác, đối tác trả tiền cho khách hàng này vào tài khoản mở tại ngân hàng, ngân hàng thực hiện thu nợ.
Đơn giản vậy nhưng ông Hiếu thừa nhận, việc triển khai cho vay theo dòng tiền khó triển khai ở VN khi khách hàng vay có nhiều tài khoản ở nhiều ngân hàng khác nhau nên các nhà băng không thể kiểm soát được dòng tiền. Đó là chưa kể có tình trạng lập hồ sơ khống mua bán để thực hiện hồ sơ vay. Điều này dẫn đến phía ngân hàng yêu cầu tài sản thế chấp cho những khoản vay.
"Nhiều năm trước đây, Ngân hàng Nhà nước đã kêu gọi các ngân hàng thực hiện cho vay theo dòng tiền, nhưng việc triển khai còn giới hạn khi các ngân hàng sợ nợ xấu gia tăng, không đòi được. Chính sách cho vay sandbox kỳ vọng sẽ thúc đẩy nhiều hơn những phương thức cho vay như theo dòng tiền, tài sản hình thành trong tương lai… Sắp tới có thay đổi khi cơ quan thuế yêu cầu hộ kinh doanh, DN rõ ràng, minh bạch trong chế độ kế toán sẽ là yếu tố hỗ trợ phía ngân hàng triển khai mà không dựa hoàn toàn vào tài sản thế chấp", ông Nguyễn Trí Hiếu nói.
PGS-TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM, ủng hộ việc cho DN nói chung và DNNVV nói riêng vay dựa trên dòng tiền cũng như thí nghiệm sandbox bởi công nghệ hiện đại đã cho phép thực hiện những sản phẩm dịch vụ này.
Ông Huân phân tích, từ trước đến nay, các khoản vay của DN thường yêu cầu có tài sản đảm bảo. Hầu hết các khoản vay trong ngân hàng tài sản đảm bảo là bất động sản. Nhưng các DN mới thành lập, DN hoạt động mảng dịch vụ như công nghệ… thì lấy đâu ra bất động sản để thế chấp đảm bảo khoản vay? Trong khi đó, công nghệ hiện đại đã thực hiện kiểm tra dòng tiền nên hoàn toàn có thể triển khai cơ chế này nhằm khơi thông nguồn vốn cho DN.
"Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM xây dựng và triển khai cơ chế sandbox không chỉ mang ý nghĩa thử nghiệm đơn thuần mà còn là bước đi chiến lược trong việc hoàn thiện khung pháp lý đối với các công nghệ mới nổi, đặc biệt là blockchain và tài sản số. Sandbox sẽ cho phép các DN fintech, startup và các tổ chức tài chính thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới trong phạm vi và thời gian nhất định dưới sự giám sát của cơ quan quản lý, qua đó góp phần giảm thiểu rủi ro và tạo cơ sở để điều chỉnh chính sách một cách linh hoạt, sát với thực tiễn", ông Huân nói.
Riêng TS Nguyễn Đức Độ, nguyên Phó viện trưởng Viện Kinh tế tài chính, nói thẳng: DNNVV không tiếp cận được ngân hàng do không có tài sản thế chấp đã tồn tại khá lâu. Nhiều rào cản khiến DNNVV khó tiếp cận được vốn vay do có mức độ rủi ro cao hơn các DN khác. Độ cạnh tranh kinh doanh của DNNVV cao ở các lĩnh vực bán lẻ, sản xuất, đồng thời tính ổn định của nhóm này không cao bằng các DN lớn. Chính vì vậy khả năng trả nợ của họ cũng có độ rủi ro cao hơn. Thêm vào đó, tính công khai minh bạch về tài chính của nhóm DN này cũng là rào cản dẫn đến khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng… Đứng về yếu tố khách quan, DNNVV không hấp dẫn ngân hàng bằng các DN lớn. Trong khi đó, hoạt động ngân hàng như một DN nên họ đánh giá rủi ro cao. Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV dùng vốn nhà nước nên khi thẩm định khoản vay, họ cũng phải chịu trách nhiệm về việc đòi được nợ. Vì thế, TS Độ kỳ vọng cơ chế mới mở ra để khối DNNVV tiếp cận vốn ngân hàng trong thời gian tới.
"Việc cho vay theo dòng tiền sẽ khó có thể triển khai một cách đại trà. Tuy nhiên, khi có chính sách cởi mở hơn thì kỳ vọng những DN đáp ứng điều kiện có thể tiếp cận được vốn. Thêm vào đó, các DNNVV cũng nên thay đổi, minh bạch tài chính, có phương án sản xuất kinh doanh khả thi… thì mới tiếp cận được vốn", TS Nguyễn Đức Độ nhấn mạnh.
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Trương Việt Dũng vừa ký ban hành Quyết định số 2419 về việc phê duyệt Đề án "Phát triển Kinh tế đêm trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045".
Đề án nêu rõ: Đến năm 2035, kinh tế đêm trở thành một động lực quan trọng của kinh tế đô thị Hà Nội, đóng góp khoảng 7 - 8% GRDP, với tốc độ tăng trưởng bình quân 12 - 14%/năm trong các ngành dịch vụ, du lịch và công nghiệp văn hóa.
Khu vực kinh tế đêm trục cảnh quan sông Hồng trở thành Trung tâm kinh tế sáng tạo năng động, trung tâm công nghiệp văn hóa, hội tụ tinh hoa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và thương mại giá trị cao, kết nối các khu vực kinh tế đêm trong khu vực, đóng vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mới và khẳng định vị thế Thủ đô trên bản đồ sáng tạo khu vực và quốc tế.
Hình thành 6 - 8 khu kinh tế đêm trọng điểm và 15 - 20 không gian, tuyến phố hoạt động sau 24h, được quy hoạch đồng bộ, gắn với hệ thống giao thông công cộng; trong đó ít nhất 3 khu đạt tiêu chuẩn khu trải nghiệm văn hóa - du lịch đêm cấp khu vực.
Kinh tế đêm được quản lý theo hướng đô thị thông minh, với 80% - 90% giao dịch thanh toán không tiền mặt, 100% khu vực trọng điểm được trang bị hệ thống giám sát an ninh và hạ tầng số.
Định hướng đến năm 2045, Hà Nội trở thành trung tâm kinh tế đêm có sức cạnh tranh trong khu vực, với kinh tế đêm đóng góp trên 12% GRDP, hình thành thương hiệu "Thành phố trải nghiệm văn hóa ban đêm", sở hữu một số không gian và sự kiện đêm mang tầm quốc tế, thu hút 8 - 10 triệu lượt khách quốc tế tham gia hoạt động ban đêm mỗi năm.
Để triển khai hiệu quả kinh tế đêm, Hà Nội sẽ quy hoạch không gian theo 3 vùng quản lý gồm vùng động, vùng tĩnh và vùng chuyển tiếp nhằm bảo đảm phát triển phù hợp, hiệu quả.
Thành phố định hướng khai thác chiều sâu văn hóa, di sản tại khu vực Hoàn Kiếm, phố cổ, Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Tứ Trấn và vùng phụ cận; phát triển du lịch văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực truyền thống gắn với kiểm soát môi trường, trật tự đô thị.
Các tuyến phố đi bộ, công viên, khu vực Hồ Tây, hệ thống rạp hát, bảo tàng, triển lãm, không gian sáng tạo… sẽ được tổ chức các hoạt động nghệ thuật, trình diễn ánh sáng, lễ hội và sự kiện văn hóa nhằm thu hút nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo. Thành phố cũng thúc đẩy phát triển các tổ hợp dịch vụ kinh tế đêm quy mô lớn, từng bước hướng tới hoạt động kéo dài hoặc 24/7.
Ở khu vực ngoại thành như Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Sơn Tây, Ba Vì, Hương Sơn, Bát Tràng, Vạn Phúc và Hòa Lạc, Hà Nội sẽ phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng qua đêm, trải nghiệm làng nghề, lễ hội truyền thống và du lịch cộng đồng.
Đáng chú ý, Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật, Thương mại dịch vụ Hà Nội tại trục sông Hồng, dự kiến hoàn thành năm 2030, được định hướng trở thành biểu tượng kinh tế đêm văn hóa - sáng tạo của Thủ đô.
Thành phố cũng sẽ đa dạng hóa sản phẩm kinh tế đêm theo từng phân khúc thị trường; xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ số và nền tảng quản lý dùng chung; thúc đẩy thanh toán số, thương mại điện tử và kinh doanh đa nền tảng.
Về hạ tầng giao thông, Hà Nội dự kiến tổ chức xe buýt trợ giá tới các khu vui chơi ban đêm, kéo dài thời gian hoạt động các tuyến đường sắt đô thị vào cuối tuần, ngày lễ; đồng thời phát triển du thuyền đêm trên sông Hồng từ cầu Long Biên tới bãi giữa vào năm 2030.
Đây là mô hình tiên phong kết hợp giữa dịch vụ công trực tuyến, tài chính hiện đại và tiện ích số nhằm xây dựng hệ sinh thái trải nghiệm toàn diện cho người dân.
Trạm Công dân số là hoạt động cụ thể hóa chủ trương của Chính phủ về chuyển đổi số quốc gia, hướng đến chính quyền số, xã hội số và công dân số. Tại đây, người dân có thể tiếp cận các dịch vụ thiết yếu một cách nhanh chóng, thuận tiện và minh bạch.
Theo đó, từ nay khách hàng tới Trạm Công dân số tọa lạc tại Onebank Celadon (số 36 đường Bờ Bao Tân Thắng, P. Tân Sơn Nhì, Hồ Chí Minh) và tại quảng trường nhạc nước Hòa Bình, Khu đô thị CityLand Park Hills, Phường Gò Vấp sẽ không chỉ thực hiện các giao dịch ngân hàng do Nam A Bank cung cấp chỉ trong "một chạm" mà có thể thực hiện nhanh chóng các thủ tục hành chính trực tuyến theo chuẩn của Bộ Công an và tích hợp các giải pháp chăm sóc sức khỏe, y tế - những nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày ngay tại một địa điểm được tích hợp hiện đại và dễ tiếp cận.
Cụ thể, người dân có thể thực hiện trọn vẹn 6 nhóm tính năng cốt lõi, bao gồm: Hành chính công, An ninh an toàn, Y tế số, Tiện ích dân sinh, Tra cứu và đóng phạt nguội, Tài chính – ngân hàng. Nhờ ứng dụng công nghệ hiện đại, các dịch vụ này có thể được xử lý ngay tại Trạm một cách nhanh chóng, an toàn, bảo mật.
Trạm Công dân số đặt tại các điểm kinh doanh của Nam A Bank được thiết kế đảm bảo sự hài hòa giữa nhận diện thương hiệu hiện đại của ngân hàng và các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của ngành Công an. Điểm chạm này hướng tới ba tiêu chí cốt lõi: Thân thiện – an toàn – hiện đại.
Đại diện Nam A Bank chia sẻ: "Việc triển khai Trạm Công dân số đã trở thành một hạ tầng kết nối, góp phần đưa các dịch vụ thiết yếu đến gần hơn với người dân. Khi phối hợp cùng các cơ quan chức năng, chúng tôi hướng tới việc tạo ra những điểm tiếp cận thuận tiện, minh bạch và đáng tin cậy, nơi người dân có thể đồng thời sử dụng dịch vụ công và dịch vụ tài chính tại cùng một điểm. Đây không phải là giải pháp ngắn hạn mà là định hướng lâu dài nhằm góp phần hình thành một hệ sinh thái số bền vững, trong đó người dân là trung tâm và công nghệ đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển".
Trạm Công dân số tại các điểm kể trên là hoạt động thí điểm được nghiên cứu, xây dựng trong suốt nhiều tháng qua, dưới sự phối hợp chặt chẽ đến từ cơ quan chức năng, Nam A Bank và đối tác giải pháp hạ tầng GoTrust.
Giai đoạn tiếp theo, Nam A Bank cam kết sẽ tiếp tục tối ưu hóa vận hành, phối hợp chặt chẽ cùng các cơ quan chức năng để nhân rộng mô hình mang ý nghĩa thiết thực này tại nhiều khu vực khác, đặc biệt là các đô thị trọng điểm.