Trong Nghị quyết, Quốc hội đã thông qua mục tiêu tổng quát, trong đó phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân, phấn đấu GDP bình quân đầu người đến năm 2030 là 8.500 USD.
Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới. 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế đến năm 2030. 20 doanh nghiệp lớn tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đến năm 2030…
Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng trên, Quốc hội yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới lấy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại các ngành kinh tế, tập trung phát triển năng lực sản xuất; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống từ đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu và phát triển mạnh mẽ các ngành, lĩnh vực, mô hình kinh tế mới.
Chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài; đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các chính sách ưu đãi khác, áp dụng ưu đãi sau – ưu đãi theo kết quả.
Quốc hội cũng yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Trong đó bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số” gắn với kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
“Nâng cao năng lực dự báo, chủ động phòng ngừa, kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống”, Nghị quyết nêu.
Quốc hội nhấn mạnh viêc ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng.
Triển khai các giải pháp để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, nâng hạng thị trường chứng khoán. Ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế. Mở rộng tỉ lệ sở hữu nước ngoài tại các ngành nghề không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Yêu cầu hiện đại hoá hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, đẩy mạnh việc xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, sở hữu chéo, nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, giữ vững ổn định, an toàn hệ thống.
Tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước từ các nguồn: Lợi nhuận sau thuế và trích lập các quỹ, phát hành cổ phiếu, ngân sách nhà nước… theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế.
Phát triển lành mạnh và đa dạng hoá các nguồn vốn, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp trong nước, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, kinh tế tập thể.
Quốc hội cũng yêu cầu tập trung đầu tư các tuyến đường bộ cao tốc theo quy hoạch, các cảng biển cửa ngõ kết hợp trung chuyển quốc tế, các cảng hàng không lớn, tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị; đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc.
Xây dựng các tuyến giao thông trọng yếu kết nối liên vùng, kết nối các cảng biển, cảng hàng không và cửa khẩu quốc tế lớn. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao, bảo đảm an ninh năng lượng.
Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu. Đẩy mạnh liên kết vùng, nội vùng, mở rộng và tổ chức lại không gian phát triển phù hợp với hệ thống hành chính mới. Đẩy nhanh tốc độ, nâng cao chất lượng đô thị hoá.
Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản quan trọng, nhất là tài nguyên biển, đất hiếm. Phát triển và vận hành hiệu quả các thị trường bất động sản, quyền sử dụng đất, khoáng sản, năng lượng.
Quốc hội yêu cầu thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số”. Trong đó, xác định tầm quan trọng và yêu cầu chiến lược, cấp bách thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số” gắn với ổn định vĩ mô, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.
“Xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, phải cụ thể hoá trong các chương trình, kế hoạch công tác hằng năm, có nhiệm vụ, kết quả, sản phẩm cụ thể cho từng ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương gắn với trách nhiệm người đứng đầu; kiểm tra, giám sát, đánh giá dựa trên tiêu chí kết quả thực hiện”, Quốc hội yêu cầu.
Trong Nghị quyết, Quốc hội đã giao cụ thể mục tiêu tăng trưởng cho từng địa phương.
Cụ thể, địa phương được giao mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026-2030 cao nhất là Hải Phòng, với 13-13,5% tăng trưởng GRDP năm 2026 và bình quân giai đoạn 2026 – 2030 là 13-14%. Trong khi đó, Hà Nội được giao mục tiêu GRDP 2026 là 10-10,5% và 10,5-11% cho cả giai đoạn; Tp.HCM được giao 10% cho cả 2 mục tiêu.
Sáng 25/4, Tổng CTCP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex, HoSE: VCG) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, với nhiều nội dung được cổ đông quan tâm như diễn biến giá cổ phiếu, kế hoạch đầu tư dự án mới, cũng như các vấn đề liên quan đến thanh tra và kết quả kinh doanh.
Tại đại hội, câu chuyện giá cổ phiếu VCG diễn biến kém tích cực dù doanh nghiệp liên tục trúng thầu các dự án lớn như sân bay Long Thành hay cao tốc Bắc - Nam đã được cổ đông đặt thẳng vấn đề.
Trả lời nội dung này, Tổng Giám đốc Nguyễn Xuân Đông cho rằng giá cổ phiếu phụ thuộc vào thị trường và dòng vốn, đặc biệt là khối ngoại.
"Diễn biến cổ phiếu là do thị trường, chúng tôi không có bất kỳ tác động nào để giá cổ phiếu lên hay xuống. Chúng tôi cũng rất mong muốn giá cổ phiếu phải cao chứ không phải lình xình như thế này, nhưng đã lên sàn thì phải theo thị trường" ông nói, đồng thời cho biết thời gian qua trên thị trường nhiều quỹ đầu tư nước ngoài đã rút ròng do áp lực tỷ giá và các yếu tố vĩ mô.
Lãnh đạo Vinaconex thừa nhận diễn biến cổ phiếu "lình xình" là điều doanh nghiệp và cổ đông đều không mong muốn, song nhấn mạnh định hướng điều hành vẫn ưu tiên an toàn, hiệu quả bền vững hơn là các hoạt động truyền thông hay "đánh bóng" hình ảnh.
Theo ông Đông, mức cổ tức dự kiến 16% cho năm 2025 là cơ sở để duy trì sức hấp dẫn với nhà đầu tư dài hạn.
Đối với kế hoạch chi trả cổ tức, lãnh đạo doanh nghiệp cho biết sẽ thực hiện trong năm 2026, ngay sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết. Theo chia sẻ tại đại hội, Vinaconex đặt mục tiêu chi trả sớm và không kéo dài thời gian thực hiện, nhằm đảm bảo quyền lợi cho cổ đông.
Một nội dung đáng chú ý khác là kế hoạch gia tăng hiện diện tại Công ty Giày Thượng Đình - doanh nghiệp sở hữu khu "đất vàng" tại Nguyễn Trãi được đánh giá có vị trí thuận lợi tại Hà Nội.
Theo ban lãnh đạo, Vinaconex dự kiến tham gia vào dự án công trình xây dựng trên khu đất của Giày Thượng Đình với tỉ lệ sở hữu khoảng 24%, hợp tác cùng các đối tác khác để phát triển dự án. Khu đất này đã nằm trong danh mục được triển khai theo Nghị quyết của Tp.Hà Nội, với định hướng phát triển các tòa chung cư cao tầng, quy mô dân số hơn 3.000 người.
Đây là khu đất nằm trong khu vực nội đô, có giá trị thương mại cao nếu được chuyển đổi công năng sang phát triển nhà ở. Dù chưa công bố chi tiết cấu trúc giao dịch, ban lãnh đạo cho biết định hướng là tham gia với vai trò nhà đầu tư phát triển, tận dụng kinh nghiệm trong lĩnh vực bất động sản để tối ưu hóa giá trị dự án.
Theo đánh giá của doanh nghiệp, việc tham gia vào Giày Thượng Đình không chỉ đơn thuần là một khoản đầu tư tài chính mà còn là bước đi chiến lược nhằm mở rộng quỹ đất tại khu vực lõi đô thị - nơi nguồn cung ngày càng khan hiếm.
Nếu triển khai đúng tiến độ, dự án có thể trở thành một trong những điểm đóng góp đáng kể cho kết quả kinh doanh trung hạn của Vinaconex.
Một nội dung khác cũng được cổ đông quan tâm là việc Vinaconex nằm trong kế hoạch thanh tra của Thanh tra Chính phủ trong quý II/2026. Trả lời vấn đề này, ban lãnh đạo cho rằng đây là hoạt động thanh tra theo kế hoạch, chủ yếu liên quan đến các dự án bất động sản và thủ tục đầu tư trước đây.
"Đây là việc bình thường thôi, không phải đáng lo lắm", đại diện công ty cho biết, đồng thời khẳng định các dự án đều tuân thủ quy định pháp luật.
Gần đây, một số ý kiến băn khoăn về đề xuất nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh với cá nhân, chủ hộ kinh doanh, người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký trong dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế số 108/2025, Cục Thuế (Bộ Tài chính) đã thông tin để làm rõ nội dung này.
Theo đó, cơ quan thuế nhấn mạnh đây là quy định thu hẹp phạm vi áp dụng so với hiện hành, không phải siết chặt hơn.
Theo Nghị định 49/2025 đang có hiệu lực, với trường hợp người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, pháp luật không quy định ngưỡng nợ tối thiểu để áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.
Do đó, chỉ cần phát sinh khoản nợ thuế quá hạn, dù rất nhỏ, người nộp thuế vẫn có thể thuộc diện xem xét áp dụng biện pháp này nếu đã được cơ quan thuế thông báo và quá 30 ngày chưa khắc phục.
Dự thảo Nghị định mới lần này đã bổ sung ngưỡng nợ từ 1 triệu đồng trở lên, tức là loại trừ khỏi diện áp dụng một số lượng rất lớn người nộp thuế có số nợ nhỏ, mang tính kỹ thuật hoặc phát sinh do sai sót hành chính chưa kịp xử lý.
"Như vậy, xét về bản chất pháp lý, đây là bước nới lỏng điều kiện áp dụng, thể hiện sự tiếp thu ý kiến xã hội và tinh thần bảo vệ tốt hơn quyền đi lại hợp pháp của công dân", Cục Thuế khẳng định.
Ngoài ra, theo cơ quan thuế, số liệu cho thấy việc đặt ngưỡng là cần thiết để tránh tác động bất cân xứng vì có hơn 50% người nộp thuế ở trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng, số tiền thuế nợ chiếm khoảng 0,2% tổng số nợ thuế.
Theo Cục Thuế, con số này phản ánh rất rõ một thực tế: Hơn một nửa số đối tượng thuộc diện quản lý đặc biệt chỉ chiếm tỉ trọng nợ thuế rất nhỏ.
Vì vậy, nếu tiếp tục áp dụng cơ chế không có ngưỡng như hiện hành, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh có thể tác động đến số lượng lớn người nộp thuế vì các khoản nợ rất nhỏ, trong khi hiệu quả thu hồi ngân sách không tương xứng.
Việc bổ sung ngưỡng 1 triệu đồng là giải pháp nhằm bảo đảm nguyên tắc tương xứng giữa tính chất vi phạm và biện pháp quản lý nhà nước áp dụng.
Cục Thuế cũng lưu ý cần hiểu đúng bản chất của trạng thái "không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký". Một số ý kiến chỉ nhìn vào con số 1 triệu đồng để đánh giá mức ngưỡng thấp hay cao.
Thực tế, Cục Thuế cho rằng trường hợp này không đơn thuần là nợ thuế. Người nộp thuế thuộc trạng thái "không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký" là trường hợp đã vi phạm nghĩa vụ duy trì thông tin đăng ký thuế chính xác, gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm tra và thu hồi nợ thuế.
"Đây là hành vi làm gián đoạn kết nối quản lý giữa cơ quan nhà nước với người nộp thuế. Do đó, việc áp dụng biện pháp quản lý đối với nhóm đối tượng này không chỉ dựa trên số tiền nợ, mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh để né tránh nghĩa vụ tài chính với Nhà nước", Cục Thuế nêu.
Nói cách khác, theo cơ quan thuế, ngưỡng 1 triệu đồng không phải là thước đo duy nhất, mà là điều kiện bổ sung trong tổng thể các dấu hiệu vi phạm đã được xác định.
Bên cạnh đó, Cục Thuế cũng khẳng định quy trình áp dụng vẫn bảo đảm đầy đủ cơ hội khắc phục cho người nộp thuế bởi tạm hoãn xuất cảnh không áp dụng ngay khi phát sinh nợ thuế.
Dẫn chứng dự thảo, Cục Thuế cho rằng chỉ sau khi người nộp thuế đã được xác định thuộc trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đăng ký; cơ quan thuế đã gửi thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh và quá 30 ngày kể từ ngày thông báo, người nộp thuế vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì biện pháp này mới được xem xét áp dụng.
"Khoảng thời gian 30 ngày là khoảng đệm hợp lý để người nộp thuế kiểm tra, đối chiếu thông tin, thực hiện nộp tiền hoặc liên hệ cơ quan thuế xử lý vướng mắc", Cục Thuế nhấn mạnh và cho biết đã có khoảng 7.100 người nộp thuế chủ động liên hệ cơ quan thuế để hoàn thành nghĩa vụ và được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh.
Cục Thuế cũng khẳng định: Điều đó cho thấy cơ chế này vận hành theo hướng cảnh báo, tạo cơ hội khắc phục, sau đó mới áp dụng biện pháp hạn chế, chứ không phải chế tài áp đặt tức thời.
Cục Thuế cũng nhấn mạnh quy định là sự cân bằng giữa kỷ cương quản lý và bảo vệ quyền lợi người dân.
Quản lý thuế hiện đại đòi hỏi vừa nghiêm minh với hành vi không tuân thủ, vừa tránh gây hệ quả bất lợi không cần thiết cho người nộp thuế. Nếu giữ nguyên cơ chế không ngưỡng như Nghị định 49/2025, có thể phát sinh những trường hợp khoản nợ rất nhỏ vẫn dẫn đến áp dụng biện pháp mạnh.
Tuy nhiên, nếu đặt ngưỡng quá cao, nguy cơ phát sinh tâm lý chây ì, lợi dụng kẽ hở để kéo dài tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh.
Do đó, mức 1 triệu đồng là giải pháp dung hòa, vừa loại bỏ được phần lớn các khoản nợ rất nhỏ mang tính kỹ thuật, vừa duy trì hiệu lực răn đe cần thiết với hành vi không tuân thủ.
Có nên cho thuê vỉa hè để giải quyết bài toán kinh tế
Sở Xây dựng Hà Nội đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết của HĐND TP về thí điểm quản lý, sử dụng vỉa hè để kinh doanh, phát triển kinh tế đô thị và kinh tế đêm.
Theo dự thảo, các tổ chức, cá nhân, hộ kinh doanh có thể trả phí để thuê một phần mặt bằng dưới lòng đường, vỉa hè phục vụ hoạt động kinh doanh. Mức phí dao động từ 20.000-45.000 đồng/m²/tháng tùy khu vực, vị trí.
Đáng chú ý, không phải tuyến phố nào cũng được triển khai thí điểm. Thành phố đưa ra hàng loạt điều kiện như không thuộc khu vực bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, không xảy ra ùn tắc giao thông, vỉa hè rộng tối thiểu 3m và phải đảm bảo phần lối đi cho người đi bộ ít nhất 1,5m.
Ngoài ra, ít nhất 50% hộ dân, hộ kinh doanh trên tuyến phố phải đồng thuận thì việc thí điểm mới được triển khai.
Theo dự thảo, việc thí điểm sẽ triển khai theo 3 giai đoạn. Giai đoạn đầu thực hiện tại một số tuyến phố thuộc phường Hoàn Kiếm và Cửa Nam, sau đó mở rộng ra khu vực Vành đai 1 rồi Vành đai 3.
Sở Xây dựng Hà Nội cho rằng việc cho thuê có trả phí sẽ hạn chế tình trạng lấn chiếm trái phép, tạo thêm nguồn thu ngân sách và giúp quản lý hiệu quả hơn hoạt động kinh doanh vỉa hè.
Theo KTS Trần Huy Ánh, Ủy viên Thường vụ Hội Kiến trúc sư Hà Nội, nhấn mạnh vỉa hè bản chất là không gian dành cho người đi bộ và cho rằng đề xuất cho thuê vỉa hè có thể nảy sinh mâu thuẫn về lợi ích giữa việc lấy lại vỉa hè để quy hoạch đô thị văn minh với việc cho thuê và quản lý. "Nếu cho thuê, liệu vỉa hè có còn không gian cho người đi bộ hay không? Chúng ta cần nghiên cứu kỹ lưỡng để bảo vệ công sản, đảm bảo không cá nhân hay tổ chức nào có thể lợi dụng tài sản công để biến thành lợi ích tư", ông Ánh nêu.
Khi lập lại trật tự vỉa hè lòng đường, xóa bỏ chợ cóc, chợ tạm, bà con buôn bán nhỏ và người thu nhập thấp là đối tượng phải hy sinh đầu tiên. Tuy nhiên, theo KTS Trần Huy Ánh, "không thể thỏa hiệp nửa vời, mà cần có giải pháp đồng bộ", bởi lẽ khó có thể lấy "cái nghèo" để biện minh cho sự tùy tiện, mất an toàn giao thông, mất vệ sinh đô thị, an toàn thực phẩm…
Theo KTS Trần Huy Ánh, giải pháp tốt nhất để hài hòa cả hai mục tiêu "lập lại trật tự vỉa hè - kỷ cương trật tự đô thị" và sinh kế của người dân là cần bố trí nơi buôn bán cho các gánh hàng rong, trà đá vỉa hè hoặc các hộ kinh doanh mặt đường. Đây là việc làm khó, nhưng có thể tham khảo nhiều bài học thành công tại Singapore có các khu chợ ẩm thực rất nổi tiếng cho các hộ kinh doanh ăn uống. Hay các khu phố ẩm thực tại các thành phố Seoul (Hàn Quốc), Đài Bắc (Đài Loan) và rất nhiều thành phố khác tại châu Âu…
Ông cũng băn khoăn các tiêu chí Hà Nội đưa ra để thí điểm cho thuê vỉa hè vẫn còn nhiều ẩn số khi triển khai, chẳng hạn thế nào là đủ lối đi cho người đi bộ khi mật độ, cường độ hoạt động đô thị mỗi tuyến phố một khác? Hoặc khi cho thuê gây ách tắc cục bộ, cần giải tỏa mà người được thuê chìa "hợp đồng cho thuê vỉa hè" thì các cơ quan chức năng căn cứ vào đâu để xử lý? Đặc biệt, mỗi vị trí vỉa hè gắn liền với một hộ gia đình mặt đường, để các hộ kết nối từ nhà ra phố hợp pháp, nếu cho thuê mà xảy ra tranh chấp thì xử lý thế nào?
Còn theo đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa xã hội, đề xuất của Hà Nội cần được nhìn nhận một cách bình tĩnh, thận trọng. Không nên cực đoan coi đây là giải pháp "mở khóa" cho kinh tế vỉa hè, cũng không nên vội vàng xem là sự hợp thức hóa tình trạng lấn chiếm. Thực tế cho thấy nếu chỉ cấm tuyệt đối nhưng không quản lý được thì dễ dẫn đến lấn chiếm tự phát, thu phí không chính thức, tiêu cực trong xử lý vi phạm. Vì vậy, đề xuất cho thuê trong khuôn khổ, có tiêu chí, thời hạn và thu phí là một hướng có thể cân nhắc.
Tuy nhiên, nữ đại biểu cũng lưu ý "ranh giới ở đây rất mong manh". Làm tốt thì chính sách giúp minh bạch hóa một thực tế đang tồn tại, tạo sinh kế hợp pháp, phát triển kinh tế đô thị, kinh tế đêm và tăng nguồn thu ngân sách. Ngược lại, làm không chặt thì sẽ biến thành hợp thức hóa lấn chiếm, làm suy giảm quyền đi bộ và tạo thêm cơ chế xin - cho trong quản lý đô thị.
Bà Nga nhấn mạnh nguyên tắc cao nhất phải là vỉa hè có thể được khai thác tạm thời, nhưng không được thương mại hóa như một mặt bằng kinh doanh thông thường. Quyền đi bộ, an toàn giao thông, trật tự đô thị và lợi ích công cộng phải đứng trước lợi ích kinh doanh của một nhóm chủ thể cụ thể.
Đề xuất trên nhanh chóng nhận được nhiều ý kiến từ các hộ kinh doanh nhỏ tại Hà Nội, đặc biệt ở khu vực phố cổ – nơi nhiều gia đình sống dựa vào hoạt động buôn bán vỉa hè suốt nhiều năm.
Chị Hoàng Loan, hộ kinh doanh tại phố Hàng Bè cho biết trước đây khi thành phố siết quản lý vỉa hè, nhiều hộ phải dọn toàn bộ hàng hóa vào trong nhà khiến việc buôn bán gặp nhiều khó khăn. "Nếu thành phố cho thuê vỉa hè với mức 45.000 đồng/m²/tháng thì tôi đồng ý, vì như thế người kinh doanh sẽ dễ thở hơn, ổn định hơn để còn sinh sống. Chúng tôi chủ yếu sống nhờ buôn bán nên nếu có cơ chế phù hợp để vừa kinh doanh vừa đúng quy định thì rất mừng", chị nói.
Còn bà Kim Hải, người dân phố Lương Văn Can (phường Hoàn Kiếm) cho rằng việc cho thuê vỉa hè nếu được quản lý bài bản sẽ minh bạch và công bằng hơn tình trạng lấn chiếm tự phát như hiện nay.
"Vỉa hè là tài sản công cộng nên nếu sử dụng để kinh doanh thì việc nộp phí vào ngân sách là hợp lý. Trước đây nhiều hộ vẫn lấn chiếm để buôn bán nhưng Nhà nước không thu được nguồn thu nào. Nếu tổ chức cho thuê công khai, khu nào đủ điều kiện mới được làm và vẫn đảm bảo lối đi cho người dân thì sẽ minh bạch hơn rất nhiều", bà Hải nói.
Theo bà, thay vì "cấm rồi lại tái lấn chiếm", việc đưa hoạt động kinh doanh vỉa hè vào khuôn khổ quản lý có thể giúp thành phố vừa đảm bảo trật tự đô thị, vừa giữ được sinh kế cho người lao động.
Nhiều ý kiến cho rằng kinh tế vỉa hè từ lâu đã trở thành một phần đời sống đô thị Hà Nội, đặc biệt tại các tuyến phố du lịch và khu vực phát triển kinh tế đêm. Nếu được quản lý bài bản, việc cho thuê có thể giúp hạn chế tình trạng lấn chiếm tự phát, đồng thời tạo thêm nguồn thu cho ngân sách.
Chủ yếu vẫn do phương thức quản lý
Lại không ít ý kiến cho rằng, sau thời gian thành phố ra quân siết trật tự đô thị, diện mạo nhiều tuyến phố đã thay đổi rõ rệt. Hà Nội cần ưu tiên xây dựng hình ảnh đô thị văn minh thay vì mở rộng kinh doanh trên vỉa hè.
Du khách thích sự nhộn nhịp của phố cổ, nhưng họ cũng cần một thành phố sạch sẽ, thông thoáng. Nếu quản lý không chặt, tình trạng rác thải, nước thải, tiếng ồn và lấn chiếm sẽ quay trở lại rất nhanh. Không ít tuyến phố trung tâm từng nhiều lần tái diễn cảnh hàng quán, xe máy lấn kín vỉa hè sau mỗi đợt ra quân xử lý.
Vì vậy, nhiều người cho rằng bài toán quan trọng nhất không nằm ở việc có cho thuê hay không, mà là khả năng quản lý thực tế của chính quyền địa phương.