Ngày 23-4, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã ký các quyết định phê chuẩn kết quả bầu chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch UBND TP Hải Phòng nhiệm kỳ 2026-2031.
Cụ thể, tại quyết định số 719, Thủ tướng phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND TP Hải Phòng nhiệm kỳ 2026-2031 đối với ông Đỗ Thành Trung, Phó Bí thư Thành ủy Hải Phòng nhiệm kỳ 2025-2030.
Trước đó, ngày 20-4, tại kỳ họp thứ nhất HĐND thành phố Hải Phòng khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031, ông Đỗ Thành Trung, Phó Bí thư Thành ủy Hải Phòng được bầu giữ chức chủ tịch UBND TP Hải Phòng với 100% phiếu tán thành.
Ông Đỗ Thành Trung sinh năm 1976, quê tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Ông từng giữ chức vụ: Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thứ trưởng Bộ Tài chính; Phó Bí thư Thành ủy Hải Phòng nhiệm kỳ 2025-2030.
Cùng đó, tại Quyết định số 718, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ phó chủ tịch UBND TP Hải Phòng nhiệm kỳ 2026-2031.
Bao gồm các ông: Lê Anh Quân, Vũ Tiến Phụng, Lê Trung Kiên, Nguyễn Minh Hùng, Trần Văn Quân, Hoàng Minh Cường.
Cũng trong ngày 23-4, Thủ tướng Lê Minh Hưng ký các quyết định phê chuẩn kết quả bầu chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng nhiệm kỳ 2026-2031.
Cụ thể, tại Quyết định số 729 Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng nhiệm kỳ 2026-2031 đối với ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy Đà Nẵng.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng sinh năm 1974, quê tại Hà Nội, có trình độ chuyên môn tiến sĩ quản lý kinh tế.
Ông từng giữ nhiều chức vụ tại Ủy ban Kiểm tra Trung ương, sau đó được điều động, chỉ định giữ chức Phó bí thư Tỉnh ủy rồi Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình (cũ), Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Hưng Yên. Tháng 1-2026, ông được bầu làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Ngày 14-4, tại Kỳ họp thứ nhất, khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031 của HĐND thành phố Đà Nẵng, 100% đại biểu có mặt đã bầu ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thành ủy giữ chức Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Tại Quyết định số 727, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng nhiệm kỳ 2026-2031.
Bao gồm các ông: Hồ Kỳ Minh, Phan Thái Bình, Trần Nam Hưng, Trần Chí Cường, Lê Quang Nam, Trần Anh Tuấn, Hồ Quang Bửu và bà Nguyễn Thị Anh Thi.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Sắp thông xe cầu Đại Ngãi 2, người dân trông cầu Đại Ngãi 1 sớm hoàn thành

Ngày 25.4, ông Đinh Lê Thông, Giám đốc dự án cầu Đại Ngãi (Ban Quản lý dự án 85 - Bộ Xây dựng), cho biết dự án cầu Đại Ngãi bắc qua sông Hậu, nối Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ (trước đây là Trà Vinh và Sóc Trăng) đang được thi công đảm bảo tiến độ.
Trong đó, cầu Đại Ngãi 1 (gói thầu số 15-XL) có 24 mũi thi công với 47 cán bộ kỹ thuật, 253 công nhân và 77 máy móc thiết bị. Hiện, công trình được triển khai thi công bảo đảm chất lượng, an toàn lao động và vệ sinh môi trường, tiến độ thi công cơ bản đáp ứng yêu cầu.
Đối với cầu Đại Ngãi 2 (gói thầu số 11-XL) có 9 mũi thi công, với tổng số 55 nhân lực và 45 máy móc, thiết bị.
Theo ông Thông, cầu Đại Ngãi 2 đang được thi công bảo đảm chất lượng, tiến độ thi công phần cầu vượt tiến độ được duyệt, tiến độ phần đường đang chậm do khó khăn về vật liệu. Dự kiến, ngày 30.4 sẽ cho người dân lưu thông qua đoạn đường này. Với xe tải và xe khách từ 16 chỗ trở lên chưa được đi qua cầu.
Bà Trần Thị Xuyến (45 tuổi, ở xã Cù Lao Dung, thành phố Cần Thơ) cho biết, từ khi được đi qua cầu Đại Ngãi 2, việc buôn bán của bà thuận lợi hơn, đỡ mất hơn 1 giờ so với đi phà trước đây. "Từ hồi có cầu, tui đi qua Sóc Trăng có 20 phút, đỡ mất thời gian dữ lắm luôn. Tui mong cho cầu Đại Ngãi 1 cũng sớm hoàn thành để tui đi buôn bán thuận lợi, chứ đợi chờ phà mệt quá, nhất là những ngày cuối tuần và lễ", bà Xuyến hy vọng.
Tương tự, ông Trần Trọng Kha (52 tuổi, ở xã Tiểu Cần, Vĩnh Long) cho biết, thường đi công việc của gia đình ở Sóc Trăng cũ, trước đó phải mất tầm 2 giờ đi qua 2 phà mới qua được, giờ đỡ hơn 1 phà vì cầu Đại Ngãi 2 đã hoàn thành. Ông hy vọng cầu Đại Ngãi 1 cũng xong sớm để đi làm thuận tiện hơn.
Ông Đinh Lê Thông cho biết, tình hình giá xăng dầu tăng đã ảnh hưởng đến công tác mua, tập kết nhiên liệu để tổ chức thi công. Bên cạnh đó, giá nhiên liệu kéo theo giá cả toàn bộ các nguyên vật liệu khác và giá vận chuyển tăng theo.
Trong năm 2026, dự án cần khoảng 24.000 m3 đá, Ban Quản lý dự án 85 đã có văn bản gửi TP.HCM và tỉnh Đồng Nai đề nghị tiếp tục hỗ trợ nguồn đá. Tuy nhiên, đến nay nguồn đá cấp cho dự án đang rất hạn chế, dẫn đến nhiều lần chậm kế hoạch đổ bê tông do khó khăn về đá.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong quản trị quốc gia, những tháng ngày đầu của một Chính phủ nhiệm kỳ mới là thời gian xác lập cách thức vận hành. Đó là lúc Chính phủ trả lời những câu hỏi căn bản: sẽ quản lý hay kiến tạo, kiểm soát hay trao quyền, tập trung hay phân cấp?
Lịch sử cải cách cho thấy, những chính phủ thành công không phải là những chính phủ ban hành nhiều chính sách nhất, mà là những chính phủ định hình được “hệ điều hành” tốt cho cả nhiệm kỳ ngay từ những bước đi đầu tiên.
Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành đồng loạt 8 nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh ngay trong tháng đầu tiên của nhiệm kỳ không chỉ là một quyết sách hành chính thông thường. Đó là một tuyên bố chính trị - thể chế về cách Chính phủ lựa chọn hành động.
Điều này hoàn toàn phù hợp với cam kết khi phát biểu nhậm chức của Thủ tướng Lê Minh Hưng: xây dựng một Chính phủ hiện đại, kiến tạo và phục vụ nhân dân, đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà hạt nhân là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Một quyết định chưa từng có: quy mô, tốc độ và cách tiếp cận điểm gây ấn tượng mạnh nhất trước hết là quy mô cải cách.
Theo các nghị quyết được ban hành, Chính phủ tiến hành sửa đổi, bổ sung đồng bộ 163 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có tới 155 nghị định - một con số chưa từng có trong các đợt cải cách trước đây.
Trên cơ sở đó, 184 thủ tục hành chính được bãi bỏ, 134 thủ tục được phân cấp, và 349 thủ tục được đơn giản hóa. Không dừng lại ở đó, Chính phủ còn quyết định bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh, đồng thời đưa tỷ lệ thủ tục hành chính do cấp Trung ương trực tiếp giải quyết xuống còn khoảng 27%.
Mục tiêu đặt ra là giảm hơn 50% thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Những con số này không chỉ phản ánh quy mô, mà còn cho thấy một cách tiếp cận mới: đổi mới một cách căn cơ và có hệ thống, thay vì điều chỉnh từng phần nhỏ lẻ như trước đây.
Điểm thứ hai là tốc độ triển khai. Việc ban hành đồng loạt 8 nghị quyết ngay trong tháng đầu nhiệm kỳ cho thấy đây không phải là những quyết định mang tính thử nghiệm, mà là những lựa chọn đã được cân nhắc kỹ lưỡng và triển khai với quyết tâm cao.
Trong quản trị công, tốc độ không đơn thuần là yếu tố kỹ thuật. Khi cải cách được thực hiện nhanh và đồng bộ, đó là dấu hiệu của một chính phủ không chỉ có ý chí, mà còn có năng lực hành động.
Điểm thứ ba, và quan trọng hơn cả, là cách tiếp cận. Những gì diễn ra không chỉ là “cắt giảm thủ tục”, mà là thiết kế lại cách vận hành của hệ thống hành chính. Chính phủ không chỉ giảm số lượng quy định, mà đang thay đổi logic vận hành của quyền lực nhà nước một cách thực chất và hiệu quả.
Nếu nhìn sâu vào nội dung của 8 nghị quyết, có thể thấy rõ ba chuyển dịch lớn - ba lựa chọn mang tính chiến lược của Chính phủ trong cách thức vận hành.
Trong một thời gian dài, hệ thống quản lý của chúng ta vận hành theo logic tiền kiểm: phải xin phép trước khi làm, phải được chấp thuận trước khi triển khai. Cách tiếp cận này giúp giảm rủi ro, nhưng lại tạo ra chi phí tuân thủ lớn, làm chậm dòng chảy của nền kinh tế.
Với 8 nghị quyết lần này, việc bãi bỏ hàng loạt điều kiện kinh doanh và thủ tục tiền kiểm cho thấy một chuyển dịch rõ ràng: từ kiểm soát trước sang quản trị rủi ro trong quá trình vận hành.
Nhà nước không còn đứng ở vị trí “giữ cửa”, mà chuyển sang vai trò thiết lập tiêu chuẩn, giám sát và xử lý vi phạm trên cơ sở dữ liệu và quy định của pháp luật. Đây là một thay đổi không chỉ về công cụ, mà về triết lý quản lý. Không phải kiểm soát trước để tránh rủi ro, mà là quản lý rủi ro một cách chủ động và linh hoạt.
Một trong những nội dung nổi bật của các nghị quyết là việc phân cấp 134 thủ tục hành chính, qua đó giảm mạnh tỉ lệ thủ tục do cấp Trung ương trực tiếp giải quyết.
Điều này cho thấy một lựa chọn rõ ràng: Trung ương không còn ôm việc, mà chuyển sang tập trung vào thiết kế thể chế và giám sát, trong khi trao quyền thực thi cho địa phương.
Phân quyền, nếu chỉ dừng lại ở giao việc, sẽ không tạo ra thay đổi thực chất. Nhưng nếu đi kèm với trách nhiệm giải trình và đo lường kết quả, nó sẽ trở thành động lực để nâng cao hiệu quả quản trị.
Ở đây, điều đáng chú ý không phải chỉ là “phân cấp bao nhiêu”, mà là cách phân quyền trong hệ thống hành chính - một yếu tố cốt lõi của năng lực thực thi quốc gia.
Từ kiểm soát sang kiến tạo: Định vị lại vai trò của Nhà nước
Có lẽ chuyển dịch sâu sắc nhất nằm ở cách Chính phủ định vị lại vai trò của mình đối với nền kinh tế.
Khi 890 điều kiện kinh doanh được bãi bỏ, thông điệp gửi đi là rất rõ: doanh nghiệp không còn là đối tượng cần được kiểm soát chặt chẽ, mà là chủ thể cần được trao quyền để phát triển. Nhà nước không đứng ở vị trí “cấp phép để cho tồn tại”, mà chuyển sang vai trò kiến tạo môi trường để phát triển.
Đây chính là bước chuyển từ một nền hành chính quản lý sang một nền hành chính kiến tạo - một chuyển dịch đã được nhắc đến nhiều năm, nhưng chỉ thực sự trở nên rõ nét khi được cụ thể hóa bằng những quyết định có quy mô lớn như lần này.
Những chuyển dịch nói trên không chỉ mang ý nghĩa về mặt thể chế, mà còn có tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Với doanh nghiệp, việc cắt giảm thủ tục và điều kiện kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm đáng kể chi phí tuân thủ - không chỉ là chi phí chính thức, mà cả những chi phí không chính thức vốn là một gánh nặng lâu nay.
Quy trình nhanh hơn, rõ ràng hơn cũng giúp doanh nghiệp tăng tốc độ ra quyết định, nâng cao khả năng cạnh tranh.
Với người dân, việc giảm thủ tục và giảm tiếp xúc trực tiếp với cơ quan hành chính sẽ góp phần giảm rủi ro nhũng nhiễu, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Với nền kinh tế, ý nghĩa lớn nhất là khơi thông dòng chảy nguồn lực. Khi các rào cản thủ tục được dỡ bỏ, nguồn vốn, ý tưởng và năng lực sản xuất có thể vận hành nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Đây chính là điều kiện cần để đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới. Quan trọng hơn, những quyết định này góp phần tái thiết niềm tin - niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh, niềm tin của người dân vào hiệu quả của bộ máy hành chính.
Đúng như Thủ tướng Lê Minh Hưng đã phát biểu khi nhậm chức: tôi ý thức sâu sắc rằng, lòng tin của nhân dân là nguồn lực lớn nhất của quốc gia.
Thực tế, trong tất cả các cuộc làm việc với các bộ ngành sau khi nhậm chức, Thủ tướng luôn nhấn mạnh yêu cầu tập trung, dứt khoát cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.
Ông nêu rõ, đây là một trong những giải pháp nhanh nhất, ngắn nhất để hoàn thiện thể chế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, tác động trực tiếp ngay tới tăng trưởng với mục tiêu 2 con số và quan trọng hơn cả, sẽ giúp củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Thách thức của lựa chọn: cải cách thực chất tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng, lựa chọn này đi kèm với những thách thức không nhỏ.
Thứ nhất, chuyển sang hậu kiểm đòi hỏi một hệ thống dữ liệu và năng lực giám sát hiện đại. Nếu không có công cụ phù hợp, việc giảm tiền kiểm có thể dẫn đến rủi ro trong quản lý.
Thứ hai, phân quyền đòi hỏi phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực mới. Nếu không, có thể xuất hiện tình trạng buông lỏng hoặc “đẩy trách nhiệm” giữa các cấp.
Thứ ba, và quan trọng nhất, là thay đổi tư duy của bộ máy. Nếu tư duy quản lý cũ vẫn tồn tại, thì cải cách trên giấy có thể không chuyển hóa thành thay đổi trong thực tế.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chỉ rõ, điều quan trọng là tinh thần chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về đổi mới tư duy phải được quán triệt không chỉ ở cấp lãnh đạo các bộ hay địa phương, mà phải xuống tới cấp các vụ cục, đơn vị trực thuộc, cấp thực thi.
Bởi lẽ, cải cách lớn nhất không nằm ở văn bản, mà nằm ở cách bộ máy thực thi nó mỗi ngày. Một lựa chọn đã được xác lập những tháng ngày đầu không quyết định toàn bộ nhiệm kỳ, nhưng nó quyết định hướng đi của Chính phủ.
Với việc ban hành 8 nghị quyết lần này, Chính phủ đã phát đi một tín hiệu rõ ràng: lựa chọn con đường cải cách thực chất, trao quyền và kiến tạo phát triển.
Với quyết tâm mạnh mẽ, những quyết định này không chỉ làm cho thủ tục nhanh hơn, chi phí thấp hơn. Quan trọng hơn, nó có thể làm cho nền kinh tế vận hành theo một logic hoàn toàn khác - logic của niềm tin, của hiệu quả và của tăng trưởng. Chính phủ đã cam kết là hành động, nỗ lực hết sức mình để kiến tạo cho sự phát triển, đem đến cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân.
Tin Gốc: Thanh Niên

Phát biểu tại phiên thảo luận tổ về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội sáng 10/4, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026, cần triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp và tạo ra kết quả cụ thể.
Ông cho rằng một trong những trọng tâm là thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân. Khi khu vực này duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số, nền kinh tế mới có thể đạt mức tăng trưởng tương ứng. Cùng với đó, cần hình thành thêm nhiều tập đoàn tư nhân lớn đủ năng lực đảm nhận các dự án quy mô quốc gia.
Dẫn chứng thực tế, ông nêu nhiều công trình lớn do doanh nghiệp tư nhân thực hiện đã bảo đảm tiến độ và chất lượng, trong khi các dự án do Nhà nước triển khai thường mất 3-4 năm để hoàn tất thủ tục. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để phát huy hiệu quả nguồn lực tư nhân.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị chuyển mạnh mô hình tăng trưởng sang dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết 57. Trong đó, ứng dụng trí tuệ nhân tạo là yếu tố quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý, xây dựng pháp luật và kiểm soát dữ liệu, kể cả trong hoạt động của Quốc hội.
Đối với điều hành vĩ mô, ông đề nghị Chính phủ linh hoạt, chủ động ứng phó với các yếu tố bên ngoài như xung đột quốc tế; đồng thời bảo đảm tăng trưởng cao đi kèm kiểm soát lạm phát và thực hiện chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm.
Chủ tịch Quốc hội cũng đồng tình định hướng của Thủ tướng Lê Minh Hưng về việc tập trung vốn đầu tư công cho các dự án lớn có tính lan tỏa, tránh dàn trải và cơ chế "xin - cho". Ông đề nghị đẩy nhanh xử lý các dự án tồn đọng, công trình trọng điểm để nâng cao hiệu quả đầu tư.
Trước yêu cầu tăng trưởng cao trong 5 năm tới, ông đề xuất cải cách theo hướng "năm hóa", gồm số hóa, xanh hóa, tối ưu hóa nguồn lực, thông minh hóa quản trị và hài hòa hóa lợi ích. Việc phát triển kinh tế cần gắn với bảo đảm công bằng xã hội, chú trọng giáo dục, y tế, đào tạo nghề và tạo việc làm.
Ông cũng đề nghị quản lý thay đổi theo hướng giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm. Cùng với đó là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm; Trung ương giữ vai trò kiến tạo và giám sát.
Ông cho biết Quốc hội sẽ tập trung quyết định các dự án lớn mang tính quốc gia như điện hạt nhân Ninh Thuận, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP HCM, thay vì phân bổ các khoản vốn nhỏ lẻ.
Ông nhấn mạnh tầm nhìn năm 2026 là không lãng phí một ngày, không chậm trễ một tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng và không bị động trong một năm. Trách nhiệm phải được làm rõ cho từng cơ quan, địa phương để công việc trôi chảy, tránh tình trạng cán bộ sáng cắp ô đi chiều cắp ô về mà không có sản phẩm.
Đại biểu Nguyễn Thị Tuyến, Phó bí thư Đảng ủy Chính phủ, cho rằng để đạt tăng trưởng hai con số cần các giải pháp đột phá, trong đó có khai thác hiệu quả kinh tế biển. Bà đề nghị tận dụng lợi thế đường bờ biển dài, phát triển hệ thống 36 cảng biển và logistics, tạo động lực tăng trưởng và việc làm.
Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel Tào Đức Thắng thì đề xuất mở rộng không gian phát triển ra thị trường quốc tế để duy trì tăng trưởng hai con số. Theo ông, kinh nghiệm của Viettel cho thấy tăng trưởng từ thị trường nước ngoài chiếm 60-70%, giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô và duy trì đà phát triển dài hạn.
Ông cũng kiến nghị nâng cao hiệu quả đầu tư công theo hướng tiếp cận như doanh nghiệp, chú trọng đánh giá hiệu quả sau đầu tư. Đồng thời đề nghị hoàn thiện cơ chế xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế, bổ sung quy định về đối tượng khởi kiện nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của Việt Nam khi tham gia thị trường toàn cầu.
Sơn Hà

