Chiều 23.4, với 492/493 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội thông qua luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
Theo quy định tại luật sửa đổi, đơn vị đầu mối do UBND cấp xã xác định có trách nhiệm cung cấp cho công dân cư trú trên địa bàn thông tin do HĐND, thường trực HĐND, chủ tịch UBND… tạo ra và thông tin do mình tạo ra.
Ngoài ra, cung cấp cho công dân khác thông tin nêu trên trong trường hợp liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
So với luật hiện hành, UBND cấp xã sẽ không còn phải cung cấp “thông tin do mình nhận được để trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn”.
Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, việc sửa đổi như đã nêu nhằm bảo đảm tính hợp lý, khả thi trong bối cảnh sắp xếp, mở rộng chức năng, nhiệm vụ của cấp xã.
Luật mới cũng tăng cường phân cấp, phân quyền khi giao UBND cấp tỉnh, cấp xã chủ động xác định đầu mối cung cấp thông tin, tạo sự linh hoạt trong tổ chức thực hiện.
Một số nội dung quan trọng khác như, luật sửa đổi bổ sung các quy định nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân trên môi trường số, phù hợp với xu thế phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Các hình thức công khai, cung cấp thông tin được mở rộng, đa dạng, khuyến khích áp dụng phương thức điện tử.
Cùng đó là mở rộng phạm vi thông tin phải công khai, thông qua việc liệt kê và bổ sung các nhóm thông tin quan trọng, gắn trực tiếp với đời sống dân sinh, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp.
Chiều cùng ngày, với 494/494 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội cũng đã thông qua luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Trợ giúp pháp lý.
Luật sửa đổi bổ sung nhóm “người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại” nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được trợ giúp pháp lý trong tố tụng hình sự.
Bên cạnh đó, việc xác định diện người được trợ giúp pháp lý cần dựa trên các chính sách xã hội cơ bản (giảm nghèo, ưu đãi người có công, chính sách dân tộc…), đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước.
Luật cũng quy định rõ tiêu chí, điều kiện áp dụng đối với từng nhóm đối tượng, bảo đảm tính minh bạch và khả thi. Đồng thời, bổ sung quy định mở “người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật” để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với yêu cầu thực tiễn trong từng giai đoạn.
Ngoài ra, luật sửa đổi siết chặt hơn tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý nhằm nâng cao chất lượng, phòng ngừa rủi ro liên quan đến phẩm chất đạo đức.
Các trường hợp (bổ sung) không được bổ nhiệm, cấp thẻ gồm: người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; người đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý.
Riêng về lĩnh vực trợ giúp pháp lý, luật sửa đổi giữ nguyên như quy định hiện hành, không mở rộng trợ giúp pháp lý sang lĩnh vực kinh doanh, thương mại.
Điều này nhằm bảo đảm đúng bản chất của trợ giúp pháp lý là chính sách an sinh xã hội, tập trung hỗ trợ các đối tượng yếu thế trong các lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền cơ bản của con người như dân sự, hình sự, hành chính.
Đồng thời, phù hợp với điều kiện nguồn lực của Nhà nước và thực tế hiện nay doanh nghiệp đã được thụ hưởng nhiều chính sách hỗ trợ pháp lý, ưu đãi khác.
Ngày 13.5, tại lễ công bố quyết định về công tác tổ chức, cán bộ Tổng công ty GTEL, lãnh đạo Cục Tổ chức cán bộ (Bộ Công an) đã công bố quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an chuyển nguyên trạng Tổng công ty GTEL thuộc Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05) về trực thuộc Bộ Công an.
Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Công an cũng quyết định thành lập Đảng bộ Tổng công ty GTEL trực thuộc Đảng ủy Công an T.Ư; quyết định điều động, bổ nhiệm đại tá Lương Đức Minh, Phó cục trưởng A05, giữ chức Chủ tịch Tổng công ty GTEL.
Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Lương Tam Quang chúc mừng Tổng công ty GTEL khi được nâng tầm trở thành đơn vị trực thuộc Bộ Công an. Bộ trưởng khẳng định quyết định nâng GTEL từ trực thuộc A05 lên trực thuộc Bộ Công an là sự ghi nhận những chuyển biến bước đầu của GTEL trong những năm gần đây.
Ngoài ra, đại tướng Lương Tam Quang cho rằng quyết định này cũng là sự tin tưởng, kỳ vọng của Đảng, Nhà nước, Đảng ủy Công an T.Ư và Bộ Công an với sự phát triển mạnh mẽ, vươn mình, sớm thành hạt nhân nòng cốt, đi đầu dẫn dắt quá trình xây dựng công nghiệp an ninh tự lực, tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, có sức ảnh hưởng không chỉ trong nước mà sớm vươn tầm thế giới.
Đại tướng Lương Tam Quang đề nghị GTEL khẩn trương ổn định tổ chức bộ máy, xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và phấn đấu trở thành hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, doanh nghiệp đầu tàu phát triển công nghiệp an ninh.
Cạnh đó, đại tướng Lương Tam Quang cũng yêu cầu GTEL cần phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trực thuộc Bộ triển khai có hiệu quả chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp an ninh với tầm nhìn tổng thể, chiến lược và lâu dài.
Tổng công ty GTEL được thành lập năm 2007 trực thuộc Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an. Năm 2017, đơn vị này được chuyển giao nguyên trạng về A05.
Trải qua gần 20 năm xây dựng và phát triển, Tổng công ty GTEL là đơn vị hoạt động trên lĩnh vực công nghệ và công nghiệp an ninh, xây dựng hệ sinh thái dịch vụ đa dạng từ viễn thông, đến các dịch vụ công nghệ ứng dụng dữ liệu theo chương trình chuyển đổi số quốc gia và Đề án 06/CP của Chính phủ...
Theo phương án đề xuất, hệ thống nhà chờ gồm ba mẫu thiết kế phù hợp từng khu vực đô thị. Mẫu N01 dài khoảng 6 m, bố trí tại các vị trí có vỉa hè hẹp hoặc nhiều cây xanh. Mẫu N02 dài 12 m, dành cho khu trung tâm, thương mại, quảng trường, điểm du lịch, ga metro - nơi tập trung đông hành khách. Mẫu N03 dài dưới 5 m, áp dụng ở các khu vực có mặt bằng hạn chế.
Các mẫu nhà chờ được thiết kế theo hướng hiện đại, sử dụng vật liệu bền, phù hợp điều kiện ngoài trời. Nhiều tiện ích được tích hợp như màn hình LCD hiển thị thông tin tuyến, hệ thống chiếu sáng LED, bảng nhận diện ban đêm, camera an ninh, cổng sạc USB và Type-C phục vụ hành khách.
Song song đó, cơ quan chuyên môn cũng đề xuất 5 mẫu trụ dừng xe buýt mới với thiết kế dễ nhận diện, thân thiện hơn với người sử dụng. Một số phương án tích hợp năng lượng mặt trời, hệ thống chiếu sáng và camera nhằm tăng an toàn, đặc biệt vào ban đêm.
Trung tâm Quản lý giao thông công cộng đang lấy ý kiến người dân, hành khách, chuyên gia, kiến trúc sư và nhà thiết kế về tính tiện dụng, khả năng che mưa nắng, thẩm mỹ, nhận diện cũng như khả năng tiếp cận đối với người cao tuổi, người khuyết tật.
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, TP HCM hiện có 180 tuyến xe buýt với hơn 2.400 phương tiện hoạt động, cùng khoảng 6.241 vị trí nhà chờ và trụ dừng. Tuy nhiên, nhiều điểm hiện bị lấn chiếm, ảnh hưởng việc tiếp cận của hành khách.
Việc nâng cấp hệ thống nhà chờ, trụ dừng được xem là giải pháp hỗ trợ khi thành phố chuẩn bị triển khai chính sách miễn vé xe buýt trên toàn địa bàn.
Ngày 21.4, TAND tỉnh An Giang mở phiên tòa hình sự sơ thẩm, xét xử bị cáo Lê Văn Mót (60 tuổi, cựu Trưởng công an TP.Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang cũ, nay là tỉnh An Giang) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và bị cáo Nguyễn Thị Hằng (47 tuổi, ngụ tỉnh Ninh Bình) về 2 tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và rửa tiền.
Theo cáo trạng của Viện KSND tỉnh An Giang, giai đoạn 2018 - 2023, Lê Văn Mót là Trưởng công an, Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an TP.Phú Quốc, đồng thời là Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy và thành viên UBND TP.Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang) nên nắm rõ quy định, chủ trương, quy hoạch về quản lý đất đai tại Phú Quốc.
Mót biết bà T.T.M.T (56 tuổi) và các ông L.V.T (41 tuổi), H.V.T (55 tuổi), T.D.C (53 tuổi, cùng ngụ TP.HCM) có nhu cầu mua đất, làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Phú Quốc nên giới thiệu với Nguyễn Thị Hằng (làm nghề mua bán đồ đồng). Sau đó, Hằng ký hợp đồng mua bán, nhận làm giấy đất để thu tiền, mặc dù cả Mót và Hằng đều biết rõ các thửa đất này là đất rừng, thuộc Nhà nước quản lý, không thể chuyển nhượng, không cấp giấy chủ quyền cho cá nhân.
Do tin tưởng Mót nên trong thời gian từ tháng 11.2021 đến tháng 3.2022, bà T.T.M.T và các ông L.V.T, H.V.T và T.D.C đã nhiều lần chuyển cho Mót, Hằng tổng số tiền hơn 67,74 tỉ đồng. Vì Mót và Hằng không thể làm giấy đất như đã hứa, đồng thời các bị hại không lấy lại được tiền nên làm đơn tố cáo cả hai. Đến ngày 9.4.2024, Mót và Hằng bị khởi tố, bắt tạm giam về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ngoài ra, Nguyễn Thị Hằng còn bị truy tố thêm tội rửa tiền. Bởi sau khi nhận tiền từ các bị hại, Hằng đã chuyển tiền cho con ruột và người quen tổng cộng hơn 20,94 tỉ đồng để mua nhà ở Phú Quốc, Hà Nội, để kinh doanh hàng hóa hoặc giữ giúp Hằng.
Trước đó, vào năm 2013, do phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên Nguyễn Thị Hằng bị TAND cấp cao tại Hà Nội tuyên phạt mức án 4 năm 6 tháng tù giam.
Tại tòa, bị cáo Nguyễn Thị Hằng khai nhận do tin tưởng và được Mót chỉ đạo nên bản thân có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Số tiền các bị hại chuyển khoản cho Hằng mua đất, làm giấy đất, nhiều lần Hằng chuyển khoản lại cho Mót hoặc đưa Mót tiền mặt khi Mót yêu cầu, nhưng không nhớ cụ thể là bao nhiêu tiền.
Riêng bị cáo Mót suốt quá trình điều tra và diễn biến ngày đầu phiên tòa đều không thừa nhận hành vi chiếm đoạt tiền của các bị hại. Trả lời tại phiên tòa, Mót chỉ nhận là người giới thiệu Hằng và các bị hại giao dịch mua bán và làm giấy đất.
Theo Viện KSND tỉnh An Giang tại phiên tòa, căn cứ lời khai của bị cáo Hằng và các bị hại; cùng kết quả giám định dữ liệu điện tử từ điện thoại của Mót, Hằng; kết quả trích xuất tài khoản ngân hàng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở bác lời khai nại của Mót. Viện KSND cho rằng bị cáo không thừa nhận là nhằm trốn tránh trách nhiệm hình sự.
Cáo trạng Viện KSND tỉnh An Giang đề nghị TAND tỉnh An Giang xét xử bị cáo Lê Văn Mót và Nguyễn Thị Hằng cùng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân. Riêng tội rửa tiền của bị cáo Nguyễn Thị Hằng, đề nghị TAND tỉnh An Giang áp dụng khung hình phạt tù từ 10 năm đến 15 năm. Đồng thời các bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại hơn 67,74 tỉ đồng đã chiếm đoạt.
Ngoài ra, đối với việc bà T.T.M.T, là bị hại trong vụ án, khai báo bản thân đã đến phòng làm việc của Mót đưa tiền mặt và tặng quà cho Mót nhiều lần (mỗi lần từ 500 triệu đồng đến 1 tỉ đồng), tổng cộng 3,5 tỉ đồng và 10.000 USD để nhờ Mót đẩy nhanh tiến độ làm giấy tờ đất, cơ quan điều tra chưa có đủ căn cứ xác định. Bị cáo Mót cũng không thừa nhận đã nhận tiền của bà T. Theo Viện KSND tỉnh An Giang, cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ số tiền này, nếu có căn cứ thì sẽ xử lý sau.
Ngày mai (22.4), phiên tòa sẽ tiếp tục với phần xét hỏi các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án.