Ngày 16-4, Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng cho biết vừa điều trị một trường hợp bệnh nhi ngộ độc hóa chất nặng.
Bệnh nhi P.T.N. (2 tuổi) nhập viện trong tình trạng nôn ói nhiều, đi cầu phân lỏng màu xanh nhạt lẫn máu đỏ tươi. Qua khai thác bệnh sử, các bác sĩ ghi nhận trước đó bé nuốt phải tinh thể màu xanh do anh trai mang từ trường về sau buổi học thực hành.
Các bác sĩ xác định đây là tinh thể đồng sunfat (CuSO₄), hóa chất thường sử dụng trong các thí nghiệm khoa học.
Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng cho biết khi nhập viện, trẻ li bì, môi tím tái, mạch quay bắt nhẹ, thở gắng sức, SpO₂ thấp. Bệnh nhi được truyền dịch, thở oxy và chuyển đến khoa hồi sức nhi để tiếp tục điều trị.
Trong quá trình điều trị, tình trạng bệnh nhi diễn tiến nặng với suy chức năng đa cơ quan do độc tính của hóa chất.
Trẻ được điều trị hồi sức tích cực, gồm đặt nội khí quản thở máy, dùng thuốc vận mạch, truyền dịch, sử dụng thuốc tăng thải đồng qua nước tiểu, điều chỉnh rối loạn điện giải, toan kiềm và theo dõi sát các dấu hiệu sinh tồn.
Do diễn tiến nặng, bệnh nhi được chỉ định lọc máu liên tục nhằm hỗ trợ chức năng các cơ quan và kiểm soát các rối loạn nghiêm trọng.
Sau hơn 2 tuần điều trị hồi sức tích cực, tình trạng bệnh nhi dần cải thiện, qua giai đoạn nguy hiểm.
BS Võ Tấn Ngà, khoa cấp cứu – hồi sức tích cực và chống độc, cho biết đồng sunfat là hợp chất có màu xanh lam, dễ khiến trẻ nhỏ tò mò.
Khi nuốt phải, chất này có thể gây ngộ độc qua nhiều cơ chế, trong đó có tình trạng methemoglobinemia, làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu đến các mô.
Ngoài ra, ngộ độc đồng sunfat còn có thể gây tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, nôn ói dữ dội, tan máu cấp, tổn thương gan, suy thận cấp và rối loạn chuyển hóa nặng. Trường hợp nặng có thể dẫn đến suy chức năng đa cơ quan, cần điều trị hồi sức tích cực.
Các bác sĩ lưu ý những hóa chất phục vụ học tập khi được mang về nhà nếu không được bảo quản an toàn có thể trở thành nguy cơ đối với trẻ nhỏ.
Trẻ nhỏ có thói quen cầm nắm và đưa đồ vật vào miệng, vì vậy phụ huynh cần kiểm tra các vật dụng trẻ mang từ trường về, không để hóa chất trong tầm với, bảo quản ở nơi an toàn và có nhãn cảnh báo rõ ràng.
Khi nghi ngờ trẻ nuốt phải hóa chất cần đưa đến cơ sở y tế sớm, không tự ý gây nôn, không cho uống các dung dịch trung hòa khi chưa có hướng dẫn của nhân viên y tế, đồng thời mang theo mẫu hoặc bao bì hóa chất để hỗ trợ chẩn đoán.
Theo các bác sĩ, sự giám sát của gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc phòng tránh những tai nạn đáng tiếc cho trẻ nhỏ.
Bệnh viện Lý Gia ở thành phố Đài Trung, Đài Loan, Trung Quốc, mới đây tiếp nhận một ca ung thư đại trực tràng hy hữu, theo Next Apple News ngày 10/4. Bệnh nhân là một phụ nữ ngoài 60 tuổi, sụt 10 kg chỉ trong vòng 3 tháng. Ban đầu, bà ngỡ giảm cân thành công nên phấn khởi. Tuy nhiên sau đó, bà bắt đầu thấy bụng chướng đau, đi ngoài liên tục và phân không thành khuôn nên đến bệnh viện nội soi đại tràng.
Bác sĩ Lại Đại Phong, chuyên khoa Gan mật và Tiêu hóa, cho biết kết quả nội soi đại tràng cho thấy cách cửa hậu môn 50 cm có một khối u lớn. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng rối loạn tiêu hóa và sụt cân nghiêm trọng của bà.
Bác sĩ cho hay mặc dù cơ quan y tế đã triển khai chương trình tầm soát miễn phí bằng xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân (FIT) định kỳ 2 năm một lần, tháng nào bệnh viện cũng ghi nhận các ca mắc mới. Đặc biệt, người cao tuổi thường có tâm lý chịu đựng, ít có thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ, dẫn đến việc chỉ đi khám khi cơ thể đã xuất hiện các triệu chứng đau đớn, làm mất đi "giai đoạn vàng" trong điều trị.
Ung thư đại trực tràng là căn bệnh có số ca mắc mới đứng thứ hai trong danh sách 10 loại ung thư phổ biến nhất, chỉ sau ung thư phổi. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm ngay từ giai đoạn khởi đầu hoặc giai đoạn 1, tỷ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân có thể lên tới hơn 90%.
Theo bác sĩ Lại, các nhóm có nguy cơ cao là những người có thói quen ăn đồ nướng, thực phẩm nhiều dầu mỡ, lười ăn rau quả hoặc có người thân trong gia đình từng mắc ung thư đại trực tràng. Ở giai đoạn đầu, ung thư đại trực tràng thường không có triệu chứng rõ ràng. Nhiều người chủ quan cho rằng đau bụng hay thay đổi thói quen đi vệ sinh chỉ là khó tiêu tạm thời hoặc ngộ độc thực phẩm mà không biết đó là hồi chuông cảnh báo sớm của ung thư.
Do các triệu chứng ban đầu thường không rõ ràng, nhiều người vẫn lầm tưởng đau bụng hay rối loạn tiêu hóa chỉ là ngộ độc thực phẩm nhẹ mà không biết đó là dấu hiệu cảnh báo ung thư. Các chuyên gia cảnh báo nếu xuất hiện các dấu hiệu như thói quen đại tiện thay đổi, phân có máu hoặc chất nhầy, phân mỏng dẹt, cảm giác đi ngoài không sạch, đau chướng bụng hoặc sụt cân không rõ nguyên nhân kéo dài trên hai tuần, người dân cần lập tức đi kiểm tra để có cơ hội điều trị kịp thời.
Phía sau mỗi ca ghép thận thành công là một cuộc đời được tái sinh từ ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.
Điển hình là trường hợp anh D.V.B (30 tuổi, Cần Thơ), người từng suy kiệt hoàn toàn vì suy thận mạn giai đoạn cuối vào năm 2021. Ở tuổi trai tráng, anh Bảo nặng chừng 37 kg, phải đối mặt với hàng loạt biến chứng nguy hiểm như suy tim độ 3, phù phổi cấp.
Nhưng rồi, trong lúc tuyệt vọng nhất, người cha 58 tuổi của anh Bảo đã quyết định hiến tặng một phần cơ thể để cứu con trai khi biết kỹ thuật ghép thận đã được triển khai tại Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ. Ca phẫu thuật kéo dài hơn 6 giờ vào tháng 8.2024 như nối lại mầm sống cho anh Bảo từ chính tình thương của cha.
Giờ đây, sau 20 tháng kể từ khi được ghép thận, anh Bảo đã hồi phục sức khỏe kỳ diệu, có thể lao động mưu sinh và vỡ òa hạnh phúc khi đón con gái nhỏ vừa chào đời. Một niềm hạnh phúc mà trước đây anh Bảo chưa từng dám mơ tới.
Khác với anh Bảo, câu chuyện của ông T.V.U.E (59 tuổi, Vĩnh Long) lại là minh chứng đầy xúc động cho nghĩa cữ nhân văn và sự tiếp nối sự sống từ người hiến chết não.
Sau nhiều năm kiệt quệ vì bệnh tật, ông E. may mắn khi nhận được quả thận phù hợp từ một người hiến chết não vào tháng 11.2025. Đây cũng là ca ghép tạng từ người chết não đầu tiên được thực hiện tại Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ.
Ca ghép thành công giúp ông E. trở lại với nghề thợ may để mưu sinh, sống những ngày tháng ý nghĩa với lòng biết ơn sâu sắc dành cho người ân nhân quá cố đã trao cho mình cơ hội sống thứ hai.
BS.CK2 Phạm Thanh Phong, Phó giám đốc Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ cho biết, đến nay, 20 bệnh nhân được ghép thận tại bệnh viện - bao gồm 15 ca cùng huyết thống, 3 ca vợ chồng và 2 ca từ người chết não - đều có sức khỏe ổn định, chức năng thận tốt và chất lượng cuộc sống đều được nâng lên rõ rệt. Hiện có 11 cặp ghép khác đang hoàn tất thủ tục và sẽ được ghép trong thời gian tới.
Thành quả của 20 ca ghép thận là minh chứng rõ nét cho năng lực làm chủ kỹ thuật khó và sự phối hợp nhịp nhàng của ê-kíp y bác sĩ Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ. Tuy nhiên, để có được thành tựu này, bệnh viện đã chuẩn bị một lộ trình dài hơi, đào tạo bài bản cũng như chuyển giao từ Bệnh viện Chợ Rẫy. Chính việc đầu tư có hệ thống này đã tạo nền tảng vững chắc để bệnh viện thực hiện thành công ca ghép đầu tiên vào ngày 25.4.2024. Đây cũng là ca ghép tạng thành công đầu tiên tại ĐBSCL, đưa Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ trở thành trung tâm ghép tạng thứ 26 của cả nước.
PGS-TS-BS Thái Minh Sâm (nguyên Trưởng khoa Ngoại Tiết niệu - Bệnh viện Chợ Rẫy), nhận định, đội ngũ bác sĩ tại Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ đã cho thấy sự tiến bộ vượt bậc về chuyên môn. Các ca phẫu thuật đều đạt kết quả tốt, minh chứng cho khả năng tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật hiệu quả. Tuy vậy, ghép thận là kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi đội ngũ y tế phải không ngừng học hỏi, cập nhật kiến thức và nâng cao kỹ năng để duy trì chất lượng điều trị lâu dài.
Dấu mốc 20 ca thành công đã góp phần quan trọng khẳng định vị thế của Bệnh viện ĐKTƯ Cần Thơ là trung tâm ghép tạng uy tín. Quan trọng hơn, tiến bộ này đã và đang giúp người dân miền Tây tiếp cận với các kỹ thuật y tế chuyên sâu nhất ngay tại địa phương, giảm bớt gánh nặng đường xa và thắp lên hy vọng cho nhiều cuộc đời cần được hồi sinh.
Những vụ ngộ độc thực phẩm liên tiếp gần đây, với không ít trường hợp là trẻ em, cho thấy kiến thức an toàn thực phẩm đóng vai trò thiết yếu, đặc biệt trong giai đoạn nắng nóng khi nguy cơ thực phẩm nhiễm khuẩn tăng cao.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Hoàng Thạch, Phó trưởng Khoa Nhi và Hồi sức sơ sinh, Bệnh viện đa khoa An Sinh (TP.HCM), mức độ nặng hay nhẹ của ngộ độc thực phẩm không giống nhau ở mỗi người, mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Trước hết là lượng thức ăn đã dùng, ăn càng nhiều, nguy cơ diễn tiến nặng càng cao. Tình trạng sức khỏe nền và thời điểm ăn cũng tác động đến mức độ nhiễm khuẩn.
Ăn sớm khi thực phẩm mới chế biến thì lượng vi khuẩn còn ít, trong khi ăn trễ khiến vi khuẩn có thời gian “nhân lên” nhiều hơn.
Ngộ độc do vi khuẩn: Do vi khuẩn sống xâm nhập vào thức ăn như Salmonella, E. coli, hoặc độc tố của vi khuẩn sẵn có trong thức ăn như Staphylococcus aureus, Bacillus cereus; thường xuất hiện với các triệu chứng tiêu hóa ban đầu như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng. Khi diễn tiến, vi khuẩn hay độc tố xâm nhập vào ruột và máu có thể gây sốt, đại tiện ra máu. Diễn tiến nặng có thể gây mất nước, sốc, nhiễm trùng huyết.
Ngộ độc do hóa chất: Từ các hóa chất nhiễm trong thực phẩm như thuốc trừ sâu, kim loại nặng, chất tẩy rửa, phụ gia cấm (hàn the, cồn công nghiệp). Thông thường ngộ độc do hóa chất khởi phát nhanh, diễn tiến nặng, có thể gây nôn dữ dội, co giật, rối loạn ý thức kèm dấu hiệu đặc hiệu của từng loại độc tố như tăng tiết đờm dãi, co đồng tử (ngộ độc phốt pho hữu cơ).
Thời gian khởi phát có thể nhanh trong vài phút đến vài giờ nếu là hóa chất có độc tính cao. Thường nặng hơn và dễ gây tử vong nếu không xử trí kịp thời.
Ngộ độc do bảo quản kém: Đây không phải một nhóm riêng biệt mà là yếu tố nguy cơ, khiến vi khuẩn phát triển mạnh và sinh độc tố trong thức ăn, vì vậy bản chất thuộc nhóm ngộ độc do vi khuẩn. Ví dụ: Cơm để qua đêm, thức ăn nấu chín nhưng để ở nhiệt độ phòng lâu có thể nhiễm Bacillus cereus, Salmonella và Staphylococcus aureus.
Theo bác sĩ Hoàng Thạch, thời thời gian ủ bệnh là khác nhau và phụ thuộc vào tác nhân, cụ thể:
Bên cạnh đó, bác sĩ Thạch cho biết việc nhiều người cùng ăn một món ăn nhưng có người bị ngộ độc, có người lại không là rất điển hình trong các vụ ngộ độc thực phẩm, vì:
Liều nhiễm khác nhau: Người ăn nhiều thường có nguy cơ cao hơn; người ăn ít hoặc không ăn món nhiễm sẽ không bị ảnh hưởng.
Phân bố độc tố không đồng đều: Không phải tất cả suất ăn đều nhiễm độc như nhau. Một số phần có nồng độ vi khuẩn/độc tố cao hơn.
Cơ địa từng người: Thông thường trẻ nhỏ, người già, người có bệnh nền, đang dùng một số thuốc như thuốc ức chế axit dạ dày sẽ dễ nhiễm hơn.
Miễn dịch và hệ vi sinh ruột khác nhau: Người đã từng tiếp xúc với vi khuẩn/độc tố trước đó và có miễn dịch thường sẽ ngộ độc nhẹ hơn người chưa từng tiếp xúc.
“Cách xử trí ban đầu khi vừa phát hiện hoặc nghi ngộ độc thực phẩm cũng rất quan trọng mà nhiều người thường chủ quan. Người ngộ độc được can thiệp y tế sớm sẽ giúp giảm mức độ nghiêm trọng, ngược lại việc đến viện muộn hoặc tự điều trị tại nhà dễ làm tăng nguy cơ biến chứng”, bác sĩ Thạch nói thêm.