Cục An toàn thực phẩm vừa có văn bản khẩn gửi sở y tế các tỉnh, thành phố; Sở An toàn thực phẩm TP.HCM và Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm trên cả nước, yêu cầu rà soát và xử lý sản phẩm thực phẩm ăn giặm HiPP theo cảnh báo từ châu Âu.
Theo thông tin từ Cơ quan An toàn Thực phẩm và Sức khỏe Áo ngày 19-4, Công ty HiPP (Đức – Thụy Sĩ) cùng chuỗi siêu thị SPAR đã thu hồi toàn bộ sản phẩm “HiPP Vegetable Carrot with Potato” (hũ 190g) tại khoảng 1.500 cửa hàng trên toàn nước Áo. Sản phẩm bị nghi ngờ có thể chứa thuốc diệt chuột.
Vì vậy, Cục An toàn thực phẩm đề nghị các đơn vị khẩn trương rà soát việc đăng ký bản công bố, tự công bố đối với sản phẩm hũ ăn giặm HiPP.
Đồng thời làm việc với công ty công bố sản phẩm hũ ăn giặm HiPP, yêu cầu công ty thông báo cho các đơn vị phân phối, người tiêu dùng ngừng việc sử dụng sản phẩm và tiến hành thu hồi theo khuyến cáo của nhà sản xuất.
Các đơn vị cần báo cáo về số lượng đã nhập khẩu, số lượng đã bán, số lượng còn tồn và đề xuất biện pháp xử lý các lô sản phẩm theo thông tin thu hồi nêu trên về Cục An toàn thực phẩm trước ngày 27-4.
Cục An toàn thực phẩm cũng đề nghị Sở Y tế các tỉnh, thành tuyên truyền thông tin cho người tiêu dùng biết để không sử dụng toàn bộ các lô sản phẩm hũ ăn giặm HiPP nêu trên.
Cục An toàn thực phẩm đã gửi công văn đến Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số – Bộ Công Thương, đề nghị cơ quan này thông báo cho các sàn thương mại điện tử, các website bán hàng và gian hàng trên sàn thương mại điện tử về sự việc trên.
Đồng thời phối hợp với chủ gian hàng, các nhà phân phối yêu cầu ngừng kinh doanh các lô sản phẩm nêu trên nếu có lưu hành tại Việt Nam, gỡ bỏ các thông tin đối với sản phẩm kém chất lượng và xử lý theo quy định của pháp luật (nếu có).
Trước đó, tại Áo đã phát hiện mẫu kiểm nghiệm từ hũ HiPP “cà rốt với khoai tây” (190g) do một khách hàng báo cáo tại khu vực Eisenstadt-Umgebung, đã cho kết quả dương tính với thuốc diệt chuột.
Cơ quan chức năng cho biết các hũ nghi vấn có thể nhận diện qua một số dấu hiệu như nhãn tròn màu đỏ ở đáy, nắp đã bị mở hoặc hư hỏng, không còn niêm phong an toàn hoặc có mùi bất thường.
Các mẫu sản phẩm thu giữ tại Cộng hòa Séc và Slovakia cũng ghi nhận dấu hiệu chứa chất độc trong những xét nghiệm ban đầu.
Ngày 8.4, theo thông tin từ Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ, các bác sĩ Khoa Ngoại Lồng ngực vừa can thiệp kịp thời bảo tồn chân trái cho một bệnh nhân bị đau chân kéo dài do bệnh lý động mạch chi dưới nặng có nguy cơ hoại tử và cưa chân.
Trước đó, bệnh nhân Ng.V.Đ (70 tuổi, quê ở An Giang) nhập viện trong tình trạng loét gót chân dần mở rộng, lâu lành, cẳng bàn chân trái đau dai dẳng kéo dài hơn 3 tháng cùng nhiều bệnh lý nền như tăng huyết áp, tiểu đường…
Qua thăm khám lâm sàng, các bác sĩ ghi nhận động mạch đùi, động mạch khoeo và động mạch dưới gối chân bên trái của bệnh nhân không bắt được. Kết quả siêu âm Doppler mạch máu chi dưới ghi nhận tắc động mạch chậu bên trái, mất phổ 3 pha động mạch đùi, khoeo chân trái. Bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính mạch máu chi dưới (CTA) để đánh giá cụ thể và chính xác hơn tình trạng bệnh lý mạch máu, vị trí tắc nghẽn, mức độ tổn thương mạch máu.
Kết quả cho thấy bệnh nhân bị tắc động mạch chậu bên trái, tắc 1/3 giữa động mạch đùi bên trái và xơ vữa rải rác các động mạch chi dưới khác.
Bệnh nhân được chỉ định can thiệp nội mạch để kịp thời tái thông các mạch máu bị tắc gồm động mạch chậu và động mạch đùi nông bên trái.
Quá trình can thiệp, bệnh nhân được nong bóng và đặt 1 stent 06 x 58 mm vào động mạch chậu trái và nong bóng động mạch đùi bên trái. Sau can thiệp, tình trạng của bệnh nhân được cải thiện rõ, chân ấm, giảm đau chân và tiếp tục điều trị nội khoa.
Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Văn Trang, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực, việc can thiệp kịp thời không chỉ giúp bệnh nhân giữ lại chân trái mà còn ngăn chặn nguy cơ hoại tử và phải cắt cụt chi. Với chân còn lại, bác sĩ đã xây dựng kế hoạch theo dõi, thăm khám định kỳ chặt chẽ nhằm phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm.
Cũng theo bác sĩ Nguyễn Văn Trang, bệnh động mạch chi dưới là tình trạng các động mạch, từ động mạch chủ bụng đến hệ mạch ở chân, bị hẹp, làm giảm lưu lượng máu nuôi cơ, da và thần kinh ở vùng phía dưới. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, bệnh có thể tiến triển gây teo cơ, loét, hoại tử chi, lan dần từ ngọn đến gốc, thậm chí buộc phải cắt cụt chi.
Hiện nay, phương pháp can thiệp nội mạch cho hiệu quả tương đương phẫu thuật bắc cầu, đặc biệt với các tổn thương trên gối. So với phẫu thuật, kỹ thuật này có nhiều ưu điểm như chỉ cần gây tê tại chỗ, tránh mổ lớn và giúp người bệnh phục hồi nhanh, có thể sinh hoạt bình thường sau 24 - 48 giờ.
Các triệu chứng ban đầu của ung thư thường mờ nhạt, dễ bị bỏ qua. Đến khi bệnh tiến triển nặng, việc điều trị không chỉ phức tạp hơn mà còn tốn kém hơn, theo Hindustan Times.
Ông Ankur Nandan Varshney, chuyên gia ung bướu Bệnh viện Medanta (Ấn Độ), cho biết ông thường gặp bệnh nhân từng nhận thấy thay đổi nhỏ trên cơ thể nhưng không đi khám. Các dấu hiệu như khối u nhỏ, ho kéo dài hay mệt mỏi bị bỏ qua vì không gây đau. Khi đến bệnh viện, bệnh đã tiến triển.
Do đó, việc nhận biết sớm dấu hiệu bất thường giúp tăng cơ hội điều trị ung thư hiệu quả.
Khối u không đau là dấu hiệu cảnh báo phổ biến. Vị trí thường gặp gồm vú, cổ, nách hoặc tinh hoàn.
Đây có thể là biểu hiện của sự phát triển tế bào bất thường. Khối u dù nhỏ vẫn cần được kiểm tra sớm.
Các vết loét ở nướu, lưỡi hoặc trong khoang miệng nếu kéo dài trên 10 - 14 ngày không lành có thể là dấu hiệu cảnh báo tiền ung thư hoặc ung thư, đặc biệt ở người hút thuốc lá. Khi gặp tình trạng này, cần đi khám sớm để được kiểm tra.
Chảy máu không rõ nguyên nhân là dấu hiệu cần theo dõi. Máu có thể xuất hiện ở miệng, trực tràng, nước tiểu hoặc âm đạo.
Chảy máu âm đạo bất thường có thể liên quan ung thư cổ tử cung. Máu trong đờm có thể liên quan ung thư phổi hoặc họng.
Ho kéo dài nhiều tuần hoặc thay đổi giọng nói liên tục cần được kiểm tra. Tình trạng này có thể liên quan đến ung thư phổi, họng hoặc thực quản. Người hút thuốc hoặc có nguy cơ cao cần đặc biệt chú ý.
Sụt cân bất thường hoặc mệt mỏi kéo dài là cũng là dấu hiệu cảnh báo. Các triệu chứng này có thể liên quan đến ung thư máu, phổi hoặc dạ dày. Tình trạng không cải thiện cần được thăm khám.
Ung thư phát hiện sớm thường dễ điều trị và ít phải can thiệp mạnh. Tỷ lệ sống được cải thiện rõ rệt khi bệnh được chẩn đoán kịp thời. Việc chậm trễ đi khám khiến cơ hội điều trị giảm.
Một nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí khoa học Journal of Nutrition, đã tìm ra mối liên hệ giữa việc tiêu thụ trứng và tỷ lệ mắc bệnh Alzheimer.
Nghiên cứu do các chuyên gia tại Trường Y Đại học Loma Linda (Mỹ) thực hiện, đã phân tích dữ liệu của 39.498 người tham gia ở độ tuổi trung bình 59, được theo dõi trong hơn 15 năm. Các nhà nghiên cứu đã đánh giá chế độ ăn uống và lối sống bằng bảng câu hỏi tần suất thực phẩm, đồng thời liên kết với hồ sơ y tế để xác định các trường hợp mắc bệnh Alzheimer.
Trong thời gian nghiên cứu, có 2.858 trường hợp mắc bệnh Alzheimer.
Kết quả đã phát hiện hóa ra ăn trứng còn giúp người lớn tuổi tránh được căn bệnh thoái hóa não bộ nguy hiểm ở người lớn tuổi này.
Cụ thể, so với những người không bao giờ hoặc hiếm khi ăn trứng, tỷ lệ nguy cơ mắc bệnh Alzheimer giảm dần theo tần suất tiêu thụ:
Ngược lại, hoàn toàn không ăn trứng có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer cao hơn đến 22%.
Các nhà nghiên cứu giải thích rằng trứng là nguồn giàu chất dinh dưỡng thiết yếu, cung cấp choline, tiền chất của acetylcholine và phosphatidylcholine rất quan trọng cho trí nhớ. Chúng chứa lutein và zeaxanthin giúp cải thiện hiệu suất nhận thức và giảm căng thẳng oxy hóa. Ngoài ra, trứng còn có protein giàu tryptophan, axit béo omega-3 DHA và vitamin B12 giúp hỗ trợ tính dẻo dai của khớp thần kinh, sự hình thành tế bào thần kinh và tính toàn vẹn của màng tế bào thần kinh. Các chất dinh dưỡng này hoạt động hiệp đồng để hỗ trợ khả năng phục hồi nhận thức.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, tiêu thụ trứng ở mức độ vừa phải, đặc biệt là người lớn tuổi, giúp giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Những phát hiện này cho thấy lợi ích bảo vệ thần kinh tiềm tàng của các chất dinh dưỡng có trong trứng khi được tiêu thụ như một phần của chế độ ăn uống cân bằng.