Hàng chục cảnh sát chống bạo động đội mũ bảo hiểm và mang khiên đã dàn hàng trên các con phố khi những người biểu tình đòi tăng lương tiến qua trung tâm thủ đô Caracas của Venezuela.
Cảnh sát đã bắn hơi cay khi người biểu tình tiến đến cách phủ tổng thống vài dãy nhà. Một người biểu tình bị thương ở cánh tay sau khi bị trúng đá ném trong cuộc hỗn loạn.
Những người biểu tình hô vang “vâng, chúng ta có thể!” khi họ tiếp tục đòi tăng lương trong bối cảnh mức lương hiện nay thấp đến mức nhiều người phải vô cùng chật vật để sinh tồn.
Những cuộc đụng độ mới phản ánh sự giận dữ ngày càng tăng ở Venezuela, khi Tổng thống lâm thời Venezuela Delcy Rodriguez bị cho là đã thất bại trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng chi phí sinh hoạt, theo AFP.
Hôm 8.4, bà Rodriguez đã thông báo trên truyền hình về việc tăng lương vào ngày 1.5 nhưng không tiết lộ mức tăng cụ thể.
Những người biểu tình đang yêu cầu tăng lương cơ bản chứ không chỉ tăng trợ cấp, vốn đã được tăng trong quá khứ trong khi tiền lương vẫn trì trệ. “Chúng tôi đang yêu cầu một mức lương đủ sống ngay bây giờ, bởi vì những gì bà Delcy Rodriguez nói tối qua là một trò đùa”, bà Mariela Diaz, một người về hưu 65 tuổi, nói.
Mức lương tối thiểu hằng tháng ở Venezuela là 130 bolivar (0,27 USD), thấp hơn khoảng 330 lần so với mức chuẩn nghèo của Liên Hiệp Quốc là 3 USD/ngày. Các công đoàn và người lao động phàn nàn về mức lương “chết đói” đã không được tăng từ năm 2022.
Ông Jesus Godoy, người đã cống hiến hơn 20 năm cho dịch vụ công, đã cho phóng viên AFP xem hai tờ 100 bolivar trong túi, tương đương khoảng 0,4 USD, và nói: “Tôi thậm chí không đủ tiền mua một gói bột mì”.
Ông Godoy cáo buộc các quan chức chính phủ “đi lại bằng những chiếc SUV cỡ lớn có vệ sĩ, trong khi người dân Venezuela bình thường phải chịu khổ”.
Phiếu trợ cấp của chính phủ giúp tăng thu nhập lên 150 USD/tháng, nhưng con số đó vẫn còn thiếu rất nhiều so với số tiền ước tính một gia đình cần để mua thực phẩm thiết yếu là 645 USD, theo AFP.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/2000-nguoi-venezuela-bieu-tinh-doi-tang-luong-185260410080250615.htm
Thế Giới
Nhật Bản phóng tên lửa trong tập trận ở Biển Đông, Trung Quốc phản ứng

Hai Bộ trưởng quốc phòng Nhật Bản và Philippines ngày 6.5 đã quan sát cuộc phóng hai tên lửa đối hạm Type-88 ở tỉnh Ilocos Norte của Philippines, cách Đài Loan khoảng 400 km. Hai quả tên lửa đã bắn trúng mục tiêu là một tàu hộ vệ Philippines đã ngừng hoạt động ở Biển Đông, khiến tàu bị chìm, theo giới chức.
Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 6.5 đã lên án cuộc phóng tên lửa Type-88 của Nhật Bản, gọi đó là "một ví dụ nữa về nỗ lực đẩy nhanh quá trình tái quân sự hóa của các lực lượng cánh hữu Nhật Bản".
Cuộc phóng hai tên lửa Type-88 hôm 6.5 là một phần của cuộc tập trận Balikatan (tạm dịch: vai kề vai) ở Philippines. Tham gia hoạt động quân sự này có quân đội Mỹ, Úc, Philippines và Nhật Bản cũng như các đơn vị từ Pháp, New Zealand và Canada.
Cuộc tập trận Balikatan năm nay kéo dài 19 ngày và dự kết thúc vào ngày 8.5, đã huy động khoảng 17.000 quân nhân, trong đó có cả binh sĩ Nhật Bản lần đầu tiên tham gia trong vai trò chiến đấu.
Ông Yee Kuang Heng, giáo sư về an ninh quốc tế tại Đại học Tokyo, nhận định cuộc phóng tên lửa nhằm đánh chìm tàu "đặc biệt quan trọng vì phòng thủ đảo là mối quan tâm chung của cả Nhật Bản lẫn Philippines".
Một yếu tố quan trọng khác là sự tham gia của Lữ đoàn Triển khai nhanh thủy quân lục chiến của Nhật Bản trong nội dung phản công đổ bộ với lực lượng Mỹ, Philippines và Canada, theo ông Heng.
Ông Heng nhận định với AFP: "Chiến dịch Balikatan 2026 cũng chứng kiến lần đầu tiên thủy phi cơ ShinMaywa US-2 của Nhật Bản được triển khai cho các hoạt động cứu hộ trên biển và y tế, điều này đặc biệt quan trọng do những tuyến đường biển dài trong khu vực".
Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã nỗ lực để có được khả năng "phản công" cũng như tăng chi tiêu quân sự và tăng cường hợp tác an ninh với các đồng minh trong khu vực, trong đó có Philippines, theo AFP.
Vào tháng trước, chính phủ của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae đã nới lỏng các quy định tự đặt ra của nước này để cho phép xuất khẩu các thiết bị quân sự sát thương, nhằm giành lấy thị phần lớn hơn trong thị trường toàn cầu đang bùng nổ.
Năm ngoái, tập đoàn Mitsubishi Heavy Industries của Nhật Bản đã giành được một đơn đặt hàng mang tính bước ngoặt để cung cấp 11 tàu chiến cho hải quân Úc. Thủ tướng Takaichi đã thăm Canberra trong tuần này.
Tin Gốc: Thanh Niên

Lễ duyệt binh Ngày Chiến thắng của Nga đã diễn ra tại Quảng trường Đỏ ở Moskva hôm 9/5 như thường lệ. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên sau gần hai thập kỷ, xe tăng và các khí tài quân sự khác không xuất hiện trong lễ kỷ niệm ngày Liên Xô đánh bại phát xít Đức trong Thế chiến II.
Trong cuộc họp báo ngày 9/5, Tổng thống Vladimir Putin thừa nhận một trong những lý do các khí tài quân sự không xuất hiện trong lễ Duyệt binh Chiến thắng năm nay là do "các lo ngại về an ninh", bên cạnh yêu cầu tác chiến ở chiến trường.
Trong các lễ Duyệt binh Chiến thắng trước đây, Nga thường xuyên phô diễn đội hình xe tăng, thiết giáp, tên lửa đạn đạo xuyên lục địa trên Quảng trường Đỏ, kể cả trong thời điểm quân đội nước này dồn lực cho chiến dịch tấn công ở Ukraine.
Nhưng tình hình năm nay đã có sự thay đổi rõ rệt, khi Ukraine phát triển các loại máy bay không người lái (UAV) có thể tập kích sâu hàng nghìn km bên trong lãnh thổ Nga. Trong cuộc tập kích đêm 6/5, UAV Ukraine đã nhắm vào tổ hợp sản xuất và hậu cần Nara ở thị trấn Naro-Fominsk, cách thủ đô Moskva khoảng 70 km về phía tây nam. Đây là cơ sở trực thuộc Bộ Quốc phòng Nga, có diện tích 2 km2 và được sử dụng để cất trữ, phân phối vật tư quân sự.
Nga cho rằng đội hình hàng trăm xe tăng, thiết giáp và xe chở tên lửa tại các khu vực tập kết cho lễ kỷ niệm sẽ có nguy cơ trở thành mục tiêu cho các cuộc tấn công bằng UAV Ukraine.
Trong thời gian chuẩn bị cho sự kiện, dịch vụ Internet di động tại Moskva và St. Petersburg đã bị cắt với lý do an ninh, dường như để ngăn UAV Ukraine sử dụng sóng di động Nga phục vụ mục tiêu dẫn đường. Một lượng lớn các hệ thống phòng không đã được điều tới từ các vùng xa xôi của đất nước để bảo vệ cho buổi lễ.
Một ngày trước lễ duyệt binh, thỏa thuận ngừng bắn ba ngày và trao đổi 1.000 tù binh giữa Nga và Ukraine do Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố đã làm giảm bớt nỗi lo về nguy cơ tấn công của Ukraine. Ông Trump nói thêm rằng việc tạm dừng giao tranh có thể là "sự khởi đầu cho hồi kết" của cuộc chiến đã kéo dài sang năm thứ năm.
Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky cho biết Ukraine đồng ý ngừng bắn vì muốn giải cứu tù binh. Ông đồng thời ban hành một sắc lệnh "cho phép" cuộc duyệt binh diễn ra, trong đó cam kết rằng Quảng trường Đỏ sẽ không bị tấn công.
"Quảng trường Đỏ ít quan trọng đối với chúng tôi hơn là mạng sống của các tù binh Ukraine đang chờ được trở về nhà", ông viết trên Telegram.
Phát ngôn viên Điện Kremlin Dmitry Peskov đã mô tả sắc lệnh của ông Zelensky là "điều ngớ ngẩn". "Chúng tôi không cần sự cho phép của bất kỳ ai để tự hào về Ngày Chiến thắng của mình", ông Peskov nói với các phóng viên.
Dù vậy, các nhà bình luận của Economist cho rằng nỗi lo an ninh từ nguy cơ tấn công của Ukraine đã phủ bóng lên ngày lễ vốn để tôn vinh sức mạnh quân sự của nước Nga, phản ánh bước lùi của Moskva trên chiến trường cũng như hiệu quả ngày càng tăng từ các cuộc tấn công tầm xa của Ukraine.
"Các cuộc duyệt binh thường là sự kiện để phô diễn sức mạnh và lòng dũng cảm, nhưng nếu nó được tổ chức với quy mô hạn chế và bị phá sóng Internet, đó là biểu hiện của cảm giác lo âu", Alexander Baunov, thành viên Trung tâm Carnegie Nga - Á Âu ở Berlin, nhận định.
Lần đầu tiên sau gần ba năm chiến sự, quyền chủ động trong cuộc chiến dường như đã nghiêng về phía Ukraine. Bản đồ mà Viện Nghiên cứu Chiến tranh (ISW) công bố cho thấy Nga đã mất quyền kiểm soát 113 km2 lãnh thổ trong 30 ngày qua. Đây là lần đầu tiên lực lượng Nga bị đẩy lùi kể từ tháng 8/2024.
"Nhìn tổng thể, có cảm giác cuộc chiến đang tới bước ngoặt. Nếu Nga vẫn không đạt được kết quả sau những nỗ lực đã bỏ ra, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu thấy một số mặt trận bắt đầu đổ vỡ", Lawrence Freedman, giáo sư danh dự về nghiên cứu chiến tranh tại Đại học Hoàng gia London, nhận định.
Nga hiện không công bố số liệu thương vong trên chiến trường, nhưng hồi tháng 3, Tổng thống Zelensky cho biết số lính Nga thiệt mạng gần gấp đôi số bị thương.
Tỷ lệ tử vong so với bị thương dường như đang tăng lên vì ước tính 80% thương vong hiện nay là do các drone góc nhìn thứ nhất (FPV) gây ra. Đây là loại drone gắn thuốc nổ, được điều khiển theo góc nhìn người lái để săn tìm binh sĩ đối phương và khiến việc sơ tán thương binh trở nên đầy rủi ro.
Lính Nga phàn nàn rằng các drone của Ukraine gần như không phát ra tiếng động cho đến khi chúng lao xuống tấn công. Chúng sử dụng trí tuệ nhân tạo và được điều khiển bằng cáp quang để vô hiệu hóa các hệ thống gây nhiễu.
Alexy Chadayev, giám đốc một cơ sở phát triển và thử nghiệm drone ở thành phố Veliky Novgorod của Nga, tháng trước cho hay Nga đã "đánh mất vị thế" trong cuộc chiến drone với Ukraine trong 6 tháng qua và gặp khó khăn lớn trong việc đưa lực lượng tới gần tiền tuyến.
"Chúng tôi đang đối mặt vấn đề nghiêm trọng về việc điều khiển drone ở giai đoạn cuối. Hiện tới 90% tổn thất về drone của chúng tôi xảy ra ở giai đoạn này", ông Chadayev.
Nga cũng buộc phải hạn chế quy mô các đoàn xe vận tải tại Donetsk để tránh bị phát hiện. Mỗi lần chỉ hai xe tải được phép di chuyển cùng nhau, nhằm tránh nguy cơ bị drone Ukraine phát hiện và tập kích.
Ông Freedman cho rằng "vùng chết" do drone tạo ra hiện kéo dài khoảng 20 km tính từ tiền tuyến và đang ngày càng mở rộng sâu vào hậu phương Nga. Nga bị ảnh hưởng nhiều hơn Ukraine bởi họ là bên đang tìm cách tiến công.
Với Ukraine, phá hủy hệ thống hậu cần và khả năng hỗ trợ cho các đợt tấn công của Nga là lựa chọn hiệu quả hơn nhiều so với việc tiêu diệt số ít binh sĩ trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận.
Ở sâu phía sau tiền tuyến, Nga ngày càng chịu nhiều thiệt hại từ các drone tầm trung của Ukraine, có tầm hoạt động khoảng 50-300 km. Tổng thống Zelensky gần đây nói rằng số lượng drone loại này được Ukraine mua sắm từ đầu năm tới nay đã cao gấp 5 lần cả năm 2025.
Mục tiêu tấn công bao gồm các kho đạn, kho chứa drone, sở chỉ huy, bệ phóng tên lửa phòng không, radar và các điểm tập kết binh sĩ cùng xe bọc thép.
Bên cạnh đó, Moskva còn phải đối mặt các chiến dịch tập kích tầm xa của Ukraine với quy mô, tầm hoạt động và cường độ ngày càng lớn ngay trong lãnh thổ Nga. Tháng 3 là lần đầu tiên Ukraine vượt Nga về số vụ tấn công bằng drone tầm xa, theo Economist.
Các mục tiêu kinh tế và quân sự nằm sâu gần 2.000 km tính từ biên giới Ukraine hiện thường xuyên bị tập kích, khiến khoảng 70% dân số Nga nằm trong tầm hoạt động của drone Ukraine.
"Những cuộc tấn công này gây tác động tâm lý đáng kể đối với Nga", Seth Jones, nhà phân tích quân sự cấp cao tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế (CSIS) ở Washington, nói.
Ngày 25/4, bốn chiến đấu cơ hiện đại nhất của Nga bị hư hại trong cuộc tấn công nhằm vào sân bay quân sự Shagol ở dãy núi Ural phía nam đất nước. Đầu tháng 5, một nhà máy lọc dầu và trạm bơm tại Perm thuộc vùng Ural cũng bốc cháy.
Hạ tầng dầu khí tại nhiều khu vực và các đầu mối xuất khẩu dầu của Nga đang bị tập kích ngày càng thường xuyên. Theo Reuters, các cuộc tấn công vào cảng biển và nhà máy lọc dầu trong tháng 4 buộc Nga phải cắt giảm tới 400.000 thùng dầu mỗi ngày.
Ngày 29/4, ông Zelensky nói các báo cáo nội bộ của Nga cho thấy cảng Novorossiysk và Ust-Luga đang hoạt động thấp hơn công suất lần lượt 38% và 43%. Tuy nhiên, tổng xuất khẩu dầu của Nga trong tháng 4 chỉ giảm khoảng 7%, còn doanh thu gần như tăng gấp đôi nhờ chiến sự Iran đẩy giá dầu tăng cao.
Diện tích rộng lớn của Nga cùng chiến dịch bào mòn hệ thống phòng không kéo dài của Ukraine khiến Moskva gần như không thể bảo vệ tất cả các mục tiêu quan trọng.
"Họ không thể chống drone bằng mạng lưới phòng thủ diện rộng. Trong khi đó, nhiều nơi cần phòng thủ thì lại không có", ông Jones nhận xét.
Trong khi Ukraine đã phát triển được nhiều loại drone giúp đánh chặn khoảng 95% UAV kiểu Shahed của Nga, Moskva dường như không đạt nhiều tiến triển trong việc sản xuất các phiên bản tương tự, theo Economist.
Tổng thống Putin hôm 9/5 cho rằng "cuộc xung đột đang đi đến hồi kết", nhấn mạnh ông sẵn sàng gặp Tổng thống Zelensky tại một quốc gia thứ ba, nhưng chỉ sau khi mọi điều kiện cho một thỏa thuận hòa bình đã được dàn xếp xong.
Câu hỏi then chốt hiện nay là liệu tình thế chiến trường hiện nay có góp phần thúc đẩy hai bên đi đến một thỏa thuận chấm dứt xung đột hay không. Ông Lawrence cho rằng điều này sẽ phụ thuộc vào những tháng tới, đặc biệt là việc Nga có thể đối phó với ưu thế về drone của Ukraine thế nào.
"Thực tế là họ đang chật vật ở tiền tuyến và gần như mọi thứ đều không diễn ra thuận lợi", ông nói.
Dù vậy, ông Putin vẫn thể hiện sự lạc quan. "Phương Tây đã chờ đợi suốt nhiều tháng để thấy Nga thất bại, để thấy quốc gia này sụp đổ. Nhưng tính toán đó đã không thành", ông nói. "Và rồi họ cứ sa lầy vào lối mòn để giờ đây không thể thoát ra được".
Tin Gốc: Vnexpress

Tính đến ngày 14/4, hai bên đều sử dụng “lá bài Hormuz” như công cụ gây sức ép trong đàm phán và định hình cán cân khu vực.
Hormuz - “van năng lượng” biến thành chiến trường chiến lược
Trong nhiều thập niên, eo biển Hormuz luôn được coi là van điều tiết của thị trường năng lượng toàn cầu. Tuy nhiên, bước sang đầu năm 2026, tuyến hàng hải này đã chuyển hóa thành bàn cờ chiến lược nơi Mỹ và Iran tiến hành cuộc đấu trí phức tạp, vừa răn đe quân sự vừa mặc cả ngoại giao.
Căng thẳng leo thang sau khi xung đột khu vực Trung Đông bùng phát cuối tháng 2. Theo VZ, lưu thông hàng hải qua eo biển bắt đầu bị gián đoạn mạnh từ thời điểm đó, khi Iran sử dụng các biện pháp quân sự nhằm gây áp lực sau các cuộc không kích của Mỹ và đồng minh.
Đến đầu tháng 4, cuộc đối đầu bước sang giai đoạn mới. Sau khi vòng đàm phán Mỹ - Iran ngày 11/4 tại Pakistan không đạt kết quả, Washington quyết định chuyển từ cảnh báo sang hành động. Ngày 13/4, Tổng thống Mỹ Donald Trump ra lệnh phong tỏa hàng hải đối với tàu ra vào các cảng Iran, động thái được xem là nhằm “tăng áp lực lên Tehran”, đồng thời vẫn để ngỏ khả năng đàm phán tiếp. Quyết định này lập tức làm thay đổi cán cân trên biển. Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ thông báo lực lượng hải quân sẽ kiểm soát toàn bộ tàu thuyền liên quan đến Iran, bắt đầu từ sáng ngày 13/4 theo giờ Mỹ.
Iran đáp trả bằng những ngôn từ cứng rắn. Theo đó, Lực lượng hải quân của Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) cảnh báo rằng mọi “động thái sai lầm” của đối phương có thể dẫn tới “vòng xoáy chết chóc” tại eo biển, kèm theo hình ảnh tàu quân sự trong tầm ngắm.
Sự đối đầu này khiến eo biển Hormuz không chỉ là điểm nóng quân sự, mà còn là “công cụ mặc cả chính trị”. Giới nhà quan sát phương Tây nhận định, cả Mỹ và Iran đều không muốn đóng hẳn tuyến vận tải này, bởi nó sẽ gây ra cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu, nhưng sẵn sàng tạo ra “mức độ bất ổn có kiểm soát” để gây sức ép chiến lược.
Chiến lược của Mỹ - kiểm soát tuyến hàng hải để tạo lợi thế đàm phán
Giới chuyên gia cho rằng, Mỹ đang lựa chọn chiến thuật “phong tỏa có chọn lọc”, nhằm làm suy yếu kinh tế Iran nhưng tránh gây tắc nghẽn toàn bộ dòng chảy thương mại quốc tế. Theo thông tin từ giới phân tích và dữ liệu thị trường, lệnh phong tỏa của Mỹ có thể khiến khoảng 2 triệu thùng dầu/ngày của Iran không thể tiếp cận thị trường, qua đó gia tăng áp lực lên Tehran.
Mỹ lập luận rằng động thái này là phản ứng trước việc Iran đe dọa tuyến vận tải toàn cầu. Các quan chức Mỹ cáo buộc Tehran “đe dọa bất kỳ con tàu nào di chuyển qua eo biển”, đồng thời khẳng định Mỹ sẽ áp dụng nguyên tắc “không cho tàu Iran đi qua” nếu căng thẳng tiếp diễn.
Đáng chú ý, chiến lược của Mỹ không chỉ là quân sự. Việc phong tỏa được triển khai song song với các tín hiệu ngoại giao. Một số nguồn tin cho biết Mỹ vẫn cân nhắc nối lại đàm phán trong tuần, bất chấp căng thẳng trên biển.
Điều này cho thấy Washington đang sử dụng eo biển Hormuz như một “đòn bẩy kép”: vừa tạo sức ép kinh tế lên Iran; đồng thời duy trì cánh cửa đàm phán và kiểm soát rủi ro leo thang quân sự.
Tuy nhiên, chiến thuật này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các nhà phân tích quốc tế cảnh báo rằng việc Mỹ phong tỏa eo Hormuz từ xa có thể mở rộng xung đột sang “chiến tranh trên biển”, làm tăng giá dầu và gây tổn thất kinh tế toàn cầu.
Một yếu tố khác khiến chiến lược của Mỹ phức tạp hơn là việc lệnh phong tỏa chưa hoàn toàn hiệu quả. Dữ liệu theo dõi tàu cho thấy nhiều tàu chở dầu vẫn vượt eo biển sau khi lệnh có hiệu lực, đặt ra câu hỏi về khả năng thực thi. Thậm chí, một tàu bị Mỹ trừng phạt vẫn đi qua eo biển, “thử thách” lệnh phong tỏa, theo dữ liệu vận tải được các hãng truyền thông phương Tây dẫn lại. Những diễn biến này cho thấy Mỹ đang kiểm soát chiến lược nhưng chưa nắm hoàn toàn thực địa - một đặc điểm điển hình của cuộc đấu trí “vùng xám”.
Chiến lược của Iran - răn đe bất đối xứng và “ngoại giao rủi ro”
Trong khi Mỹ tận dụng ưu thế hải quân, Iran lựa chọn chiến thuật bất đối xứng, tạo rủi ro mà không đối đầu trực diện. Tehran khẳng định mọi mối đe dọa đối với eo biển Hormuz sẽ “gây chấn động thương mại toàn cầu”, đồng thời nhấn mạnh eo biển là lợi ích sống còn của Iran.
Chiến lược của Iran gồm ba lớp: Thứ nhất, răn đe quân sự “vùng xám”. Iran sử dụng tàu nhỏ, UAV, thủy lôi và cảnh báo hải quân nhằm tạo tâm lý bất ổn, khiến chi phí bảo hiểm vận tải tăng và gây áp lực lên các nền kinh tế phụ thuộc dầu mỏ. Thứ hai, chiến thuật “đe dọa nhưng không đóng cửa”. Tehran hiểu rằng phong tỏa hoàn toàn eo Hormuz sẽ gây thiệt hại cho chính mình. Do đó, họ duy trì mức độ bất ổn vừa đủ để giữ đòn bẩy. Thứ ba, tận dụng kênh đàm phán. Các nguồn tin cho thấy hai bên vẫn cân nhắc vòng đàm phán mới tại Pakistan và eo biển Hormuz tiếp tục trở thành chủ đề mặc cả quan trọng.
Một điểm đáng chú ý là Iran không phản ứng bằng tấn công trực diện. Điều này cho thấy Tehran ưu tiên “ngoại giao rủi ro”: tạo áp lực nhưng tránh chiến tranh tổng lực. Chiến lược này từng được Iran áp dụng trong các cuộc khủng hoảng trước đây và tiếp tục phát huy hiệu quả trong bối cảnh 2026, khi Mỹ muốn tránh mở rộng xung đột.
Thế giằng co và hệ lụy địa chính trị toàn cầu
Cuộc đấu trí giữa Mỹ và Iran tại eo biển Hormuz đang mang tính chất giằng co. Hai bên đều muốn thể hiện quyết tâm nhưng không vượt “lằn ranh đỏ”.
Một mặt, Mỹ kiểm soát các tàu liên quan đến Iran; mặt khác, nhiều tàu vẫn đi qua, cho thấy lệnh phong tỏa chưa hoàn toàn chặt chẽ. Trong khi đó, Iran tiếp tục cảnh báo mạnh mẽ nhưng chưa có hành động đóng eo biển hoàn toàn. Điều này phản ánh chiến lược kiềm chế của cả hai phía.
Hệ lụy lớn nhất của thực trạng trên là đối với thị trường năng lượng. Việc phong tỏa eo Hormuz có thể khiến hàng trăm tàu bị kẹt và làm gián đoạn chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, cuộc đấu trí còn kéo theo cạnh tranh giữa các cường quốc.
Các nước nhập khẩu dầu như Ấn Độ và châu Âu đều theo dõi sát tình hình, bởi bất kỳ gián đoạn nào cũng tác động đến kinh tế toàn cầu. Ngoài ra, eo Hormuz còn trở thành đòn bẩy chính trị trong đàm phán rộng hơn. Một số nguồn tin cho biết Mỹ yêu cầu Iran mở hoàn toàn eo biển như một phần của thỏa thuận hòa bình, trong khi Tehran coi đây là lợi ích chiến lược không thể nhượng bộ.
Cuộc đấu trí chưa có hồi kết
Giới chuyên gia nhận định, cuộc đấu trí giữa Mỹ và Iran tại eo Hormuz không đơn thuần là cuộc đối đầu quân sự truyền thống, mà là sự kết hợp phức hợp của nhiều công cụ quyền lực. Hai bên đồng thời sử dụng răn đe hải quân, thông qua triển khai lực lượng và kiểm soát tuyến hàng hải, gây áp lực kinh tế bằng các biện pháp phong tỏa hoặc đe dọa gián đoạn dòng chảy năng lượng, tiến hành chiến tranh tâm lý nhằm tác động tới thị trường và dư luận quốc tế, đồng thời duy trì các kênh mặc cả ngoại giao để giữ không gian đàm phán.
Chính sự đan xen giữa biện pháp “cứng” và “mềm” này khiến Hormuz trở thành điểm nóng mang tính chiến lược, nơi các động thái quân sự chỉ là một phần trong tổng thể cuộc cạnh tranh rộng hơn về ảnh hưởng và lợi ích.
Cả Mỹ và Iran đều nhận thức rõ rằng một cuộc chiến tranh toàn diện tại Vịnh Ba Tư sẽ kéo theo hệ quả nghiêm trọng không chỉ đối với hai nước, mà còn đối với kinh tế toàn cầu. Việc đóng hoàn toàn eo biển Hormuz - tuyến vận chuyển 20% nguồn cung năng lượng thế giới, có thể làm gián đoạn thương mại, đẩy giá dầu tăng vọt và kéo theo phản ứng dây chuyền về kinh tế - chính trị.
Vì vậy, hai bên đều lựa chọn chiến lược “leo thang có kiểm soát”: duy trì sức ép đủ lớn để giành lợi thế, nhưng tránh vượt qua lằn ranh có thể dẫn tới xung đột trực diện. Kết quả là eo Hormuz luôn ở trạng thái căng thẳng cao độ, song vẫn chưa rơi vào khủng hoảng toàn diện.
Trong ngắn hạn, kịch bản nhiều khả năng vẫn là sự giằng co kéo dài. Mỹ có thể tiếp tục duy trì các biện pháp kiểm soát hàng hải và phong tỏa hạn chế nhằm gây sức ép kinh tế, trong khi Iran đẩy mạnh các biện pháp răn đe bất đối xứng như tuần tra dày đặc, cảnh báo quân sự hoặc các hoạt động “vùng xám”. Song song với đó, các kênh ngoại giao vẫn được duy trì, bởi cả hai bên đều coi eo Hormuz là một “đòn bẩy” quan trọng trong quá trình thương lượng. Điều này khiến cuộc đối đầu mang tính chất vừa cạnh tranh vừa kiềm chế, khó có khả năng kết thúc nhanh chóng.
Tuy nhiên, rủi ro leo thang vẫn luôn hiện hữu. Chỉ một sự cố ngoài ý muốn trên biển, chẳng hạn một tàu thương mại bị tấn công, va chạm giữa lực lượng hải quân, tính toán sai lầm trong quá trình áp sát, hoặc hành động đơn phương của một bên thứ ba, cũng có thể phá vỡ trạng thái cân bằng mong manh. Khi đó, cuộc đấu trí có thể nhanh chóng chuyển thành đối đầu trực diện, kéo theo nguy cơ mở rộng xung đột trong khu vực.
Trong bối cảnh đó, eo biển Hormuz đang trở thành tâm điểm của địa chính trị Trung Đông năm 2026. Đây không chỉ là tuyến vận tải năng lượng quan trọng, mà còn là “bàn cờ chiến lược” nơi hai đối thủ lâu năm thử thách giới hạn của nhau, đo lường quyết tâm và khả năng chịu đựng.
Mọi động thái tại khu vực đều được cộng đồng quốc tế theo dõi chặt chẽ, bởi diễn biến tại Hormuz không chỉ ảnh hưởng đến an ninh khu vực mà còn có thể tác động trực tiếp tới ổn định kinh tế toàn cầu. Thế giằng co vẫn tiếp diễn, cuộc đấu trí giữa Mỹ và Iran tại đây nhiều khả năng còn kéo dài trong thời gian tới, khi chưa bên nào sẵn sàng lùi bước nhưng cũng không muốn vượt qua ngưỡng xung đột toàn diện.
Tin Gốc: Dân Trí

