Ngày 22.4, đại diện FLC Zoo Safari Park Quy Nhơn (phường Quy Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai; trước đây thuộc TP.Quy Nhơn, Bình Định) cho biết một cá thể hổ Bengal tại đây đã sinh 3 hổ Bengal con trong điều kiện hoàn toàn tự nhiên.
Theo đơn vị này, 3 hổ Bengal con chào đời cách đây gần một tháng, sau thời gian mang thai khoảng 113 ngày. Ngay từ khi phát hiện hổ cái mang thai, đội ngũ chăm sóc đã chủ động tách riêng cá thể này vào khu chuồng nuôi chuyên biệt nhằm đảm bảo an toàn tối đa.
Trong suốt thai kỳ, hổ mẹ được áp dụng chế độ dinh dưỡng nghiêm ngặt, bổ sung đầy đủ vi chất thiết yếu như sắt, canxi và vitamin B12 để duy trì thể trạng tốt nhất. Nhờ đó, quá trình sinh nở diễn ra thuận lợi, đảm bảo sức khỏe cho cả hổ mẹ và 3 hổ Bengal con.
Chỉ một ngày sau khi chào đời, các hổ con được nhân viên thú y kiểm tra sức khỏe, vệ sinh rốn và xác định giới tính trước khi đưa trở lại với mẹ. Quy trình chăm sóc được thực hiện chặt chẽ nhằm giảm thiểu rủi ro trong giai đoạn đầu đời.
Hiện nay, khi đã gần một tháng tuổi, 3 hổ Bengal con trở thành điểm nhấn thu hút đông đảo du khách khi đến tham quan FLC Zoo Safari Park Quy Nhơn. Các cá thể này vẫn đang được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng sữa mẹ để tận dụng nguồn kháng thể tự nhiên, giúp tăng sức đề kháng.
Theo các chuyên gia, trong khoảng 1,5 tháng tuổi, 3 hổ Bengal con sẽ bắt đầu làm quen với thức ăn là thịt, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình phát triển.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cà phê yến sào Đắk Lắk đang gây chú ý khi kết hợp 2 nguyên liệu tưởng chừng đối lập: cà phê - nông sản quen thuộc của Tây nguyên và yến sào - thực phẩm cao cấp từ biển. Sự xuất hiện của sản phẩm này mang đến trải nghiệm mới, đồng thời mở ra hướng đi khác cho ngành chế biến nông sản.
Ý tưởng tạo ra cà phê yến sào không đơn giản như cách gọi tên. Chia sẻ với PV Thanh Niên, ông Phạm Duy Khiêm (ở phường Tuy Hòa, Đắk Lắk) cho biết, thách thức lớn nhất nằm ở yếu tố kỹ thuật, đặc biệt là khả năng hòa tan của yến sào khi kết hợp với cà phê hòa tan.
"Yến sào khi gặp nước nóng thường vón cục hoặc khó hòa quyện với bột cà phê", ông Khiêm nói và cho biết ông đã mất hơn 6 tháng thử nghiệm với hàng trăm mẻ pha chế để tìm ra công thức phù hợp.
Mục tiêu của ông là tạo ra ly cà phê yến sào vẫn giữ được hương thơm đặc trưng của cà phê Đắk Lắk, đồng thời người uống có thể cảm nhận vị béo thanh và dấu ấn của yến sào trong từng ngụm.
"Cà phê là đặc sản của rừng núi, yến sào là tinh túy của biển cả. Việc kết hợp hai nguyên liệu này trong một sản phẩm quà tặng giúp giới thiệu diện mạo mới, đa dạng hơn cho đặc sản Đắk Lắk", ông Khiêm chia sẻ.
Sau nhiều lần điều chỉnh, công thức cuối cùng của cà phê yến sào Đắk Lắk tạo ra thức uống có vị đắng nhẹ, không quá ngọt, hương cà phê rõ nét và hậu vị béo đặc trưng của yến sào. Đây được xem là điểm khác biệt giúp sản phẩm tạo dấu ấn trên thị trường cà phê hòa tan.
Theo ông Khiêm, trong bối cảnh người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe, việc bổ sung yếu tố dinh dưỡng vào thức uống quen thuộc như cà phê là hướng đi phù hợp. Ông kỳ vọng cà phê yến sào có thể trở thành thức uống phổ biến, góp phần nâng cao giá trị hạt cà phê Đắk Lắk.
Không chỉ dừng ở trải nghiệm cá nhân, sản phẩm này còn góp phần làm phong phú danh mục quà tặng đặc sản. Cà phê yến sào mang đến lựa chọn mới cho du khách, bên cạnh các sản phẩm truyền thống như cà phê bột hay trà túi lọc.
Ông Khiêm cho biết thêm, yến sào Phú Yên vốn là sản phẩm chất lượng cao, được thị trường công nhận. Sau khi Đắk Lắk và Phú Yên sáp nhập, sự kết hợp này đã tạo nên cà phê yến sào Đắk Lắk, góp phần xây dựng và bảo hộ thương hiệu cho cả hai dòng sản phẩm đặc trưng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Đời Sống
Rau mầm gai là gì mà gây sốt mạng, nhiều người ở TP.HCM tìm mua không có?

Lướt mạng xã hội thời điểm này, nhiều người bắt gặp các clip thu hoạch, mua bán, nấu và thưởng thức một loại rau có cái tên khá lạ là rau mầm gai. Món ăn nấu từ loại rau này thậm chí trở thành "hot trend" với những clip đạt hàng triệu lượt xem, bình luận và chia sẻ.
Tài khoản Mai Tây Bắc với gần 800.000 người theo dõi, chuyên review các món ăn, ẩm thực Tây Bắc cũng chia sẻ về loại rau này. Clip với dòng mô tả: "Rau mầm gai, loại rau mọc hoang trên núi cao chỉ có vào mùa xuân" đang nhận về hơn 1 triệu lượt xem.
Trong clip, chị Mai Tây Bắc chia sẻ về hành trình mua rau mầm gai ở phiên chợ sớm tại Lào Cai, mỗi bó rau giá 10.000 đồng. Cô gái miền núi chia sẻ đây là loại rau đặc biệt, ở Việt Nam thường chỉ tìm thấy ở vùng núi cao Tây Bắc vào mùa xuân.
"Rau trên này được bà con người bản địa Hà Nhì đi hái trên rừng. Rau này có thể xào, luộc, chấm nước mắm, nấu với mì tôm. Mỗi bó thế này được bán với giá 5.000 - 10.000 đồng/bó tùy từng nhà. Để hái được rau này vất vả lắm, không dễ. Mùa rau này chỉ khoảng 2 tuần là hết nên mình tranh thủ mua nhiều về làm món ăn", chị Mai Tây Bắc chia sẻ.
Sau khi sơ chế, cô gái cho rau vào nồi nước sôi để chần qua, đảm bảo cho rau không quá chín, vẫn giữ được độ giòn, ngọt đặc trưng. Chị Mai Tây Bắc làm rau mầm gai đã xử lý xào với tỏi, ăn kèm với cơm.
"Rau giòn, ngọt, có mùi thơm đặc trưng. Để mọi người dễ hình dung nhất, rau này có mùi giống rau cần một tí. Rau không đắng, không nhớt mà có vị ngọt thanh, dễ ăn, rất ngon. Với các món rau rừng, mình nấu càng đơn giản càng ngon", nữ food reviewer chia sẻ.
Bên dưới clip, nhiều người bày tỏ sự bất ngờ khi lần đầu tiên biết tới loại rau này ở Việt Nam, tò mò về hương vị muốn mua ăn thử. Bên cạnh đó, nhiều người ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt ở TP.HCM cũng hỏi về cách mua.
"Mình xem các clip bên Trung Quốc họ hái và ăn suốt nhưng lần đầu biết ở Việt Nam cũng có rau này. Làm sao mua nhỉ?", Ích Phan bày tỏ. Tài khoản Hòa Võ Thị bình luận: "Muốn ăn quá!". "Ước gì có dịp lên Tây Bắc mùa này để ăn rau mầm gai, mình không biết mua ở đâu", nickname Nicola chia sẻ.
Tài khoản Mẹ Sam ở Hà Nội cho biết chị rất tò mò về loại rau "hot hit" này nên đã tìm mua. Tuy là người Lào Cai, nhưng với chị đây là lần đầu ăn thử loại rau này.
"Mình luộc ăn, chấm với nước tương tỏi ớt. Mầm rất ngọt, có vị đắng nhẹ nhẹ của rau rừng, có mùi thơm, hậu ngọt đọng lại ở cổ. Lần đầu tiên ăn, khá ngon", người phụ nữ chia sẻ.
Chị Phan Thảo (27 tuổi) hiện đang sống tại TP.HCM cho biết những clip ăn rau mầm gai gây sốt mạng khiến muốn ăn thử loại rau này. Tuy nhiên, dù hỏi thăm chính chủ các clip hoặc tìm nguồn mua, chị vẫn chưa mua được.
"Có vẻ ở ngoài Bắc mua dễ hơn so với trong Nam. Mình đã lên các sàn thương mại điện tử tìm mà cũng không có. Chắc có dịp phải đi Tây Bắc mùa này để thưởng thức", chị nói.
Rau mầm gai (hay nụ gai, nụ rồng gai) là chồi non của cây gai rừng, một loại cây dại mọc ở vùng núi cao phía Bắc Việt Nam. Đây là loại rau đặc sản mùa xuân, được ưa chuộng nhờ hương vị giòn, thơm, đắng nhẹ, và giàu dinh dưỡng, thường được ví là "nhân sâm".

Cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 - 7 km, chùa Diệu Viên không chỉ là nơi tu hành thanh tịnh mà còn là biểu tượng của lòng từ bi, nơi dung dưỡng những mảnh đời bất hạnh. Là ngôi chùa sư nữ đầu tiên tại cố đô, Diệu Viên đã tồn tại hơn 1 thế kỷ, chứng kiến sự thăng trầm của Phật giáo Việt Nam và góp phần quan trọng vào đời sống tinh thần, từ thiện xã hội của vùng đất thần kinh.
Có thể nói, lịch sử chùa Diệu Viên gắn liền với truyền thống Phật giáo Huế, nơi vốn là cái nôi của nhiều danh lam thắng cảnh từ thời chúa Nguyễn đến triều nhà Nguyễn. Theo các tài liệu lịch sử, trước khi trở thành ni viện, nơi đây từng là am thờ tự của một vị quan lớn triều vua Tự Đức (1847 - 1883).
Đến cuối triều vua Khải Định (1916 - 1925), khu đất được chuyển nhượng cho cụ bà Ưng Dinh (nhũ danh Hồ Thị Thế Anh), một phật tử mộ đạo. Cụ bà cùng một số cư sĩ khác đã quản lý và duy trì nơi thờ tự, dần dần chuyển hướng sang việc tiếp nhận ni cô tu hành.
Năm 1924, dưới sự phát tâm của các cư sĩ phật tử và cụ bà Ưng Dinh cùng bà Nguyễn Thị Khương, chùa được chính thức xây dựng trên một ngọn đồi thuộc xã Thanh Thủy. Sư bà Thích Nữ Hướng Đạo, thế danh Phan Thị Huệ, sinh năm 1905 tại Quảng Điền (Huế) đang tu học tại chùa Từ Hiếu được thỉnh về khai sơn trụ trì.
Đây là mốc son quan trọng, đánh dấu sự ra đời của ngôi chùa sư nữ đầu tiên tại Huế. Chùa ban đầu khá khiêm tốn, nằm sâu trong núi, giữa không gian thâm sơn cùng cốc, với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ bao quanh: núi Ngũ Phong làm hậu chẩm, mang lại khí thiêng liêng và thanh tịnh.
Chỉ 2 năm sau, vào cuối năm 1926, dưới triều vua Bảo Đại, chùa được ban sắc tứ "Diệu Viên Sư Nữ Tự". Danh hiệu này không chỉ khẳng định vị thế pháp lý mà còn ghi nhận công đức của ni chúng trong việc hoằng dương Phật pháp. Sư bà Hướng Đạo, với đức hạnh và tài năng, đã nhanh chóng thu hút nhiều ni cô và Phật tử về tu học, biến nơi đây thành trung tâm tu hành cho ni giới.
Từ một am nhỏ, chùa Diệu Viên không ngừng được trùng tu, mở rộng để đáp ứng nhu cầu tu học và hoạt động từ thiện. Các đợt trùng tu lớn diễn ra trong nhiều năm, trong đó năm 1929 là lần trùng tu đầu tiên sau khi thành lập, củng cố kiến trúc cơ bản và mở rộng khuôn viên. Vào năm 1953 được mở rộng quy mô, xây dựng thêm các công trình phụ trợ.
Mãi cho đến năm 2001 chùa được trùng tu hoàn chỉnh và quan trọng nhất, khánh thành ngày 23.3.2001. Chùa trở nên khang trang, thanh tịnh hơn với kiến trúc truyền thống Huế: mái cong, cột gỗ, tường rào chỉnh chu, hài hòa với thiên nhiên. Chùa quay hướng tây nam, tạo không gian thoáng đãng, yên bình.
Kiến trúc chùa mang đậm phong cách cổ kính Huế, chính điện thờ Phật Thích Ca, các gian thờ Bồ tát Quan Âm, các vị tổ sư ni giới. Khuôn viên rộng lớn với vườn cây, ao sen, tạo cảm giác an lạc. Từ chỗ "thâm sơn cùng cốc", nhờ đường Võ Văn Kiệt mở ra và đô thị hóa, chùa nay trở thành điểm đến dễ dàng tiếp cận, thu hút Phật tử gần xa.
Sau khi sư bà Hướng Đạo viên tịch năm 1974 (bây giờ tháp yên nghỉ của sư bà Thích Nữ Hướng Đạo vẫn còn tại khuôn viên chùa), các ni trưởng kế nhiệm như sư bà Thích Chơn Thông rồi kế tiếp là ni trưởng Thích Nữ Chơn Hiền tiếp tục dẫn dắt chùa.
Không gian xanh mát ở chùa
ẢNH: ĐÀO MINH TUẤN
Ni trưởng Chơn Hiền trụ trì lâu năm, góp phần phát triển mạnh mẽ các hoạt động từ thiện. Hiện nay, sau khi sư bà Chơn Hiền viên tịch, chùa vẫn duy trì truyền thống ni giới Bắc tông với sự dẫn dắt của các ni trưởng cao tuổi nên ni chúng siêng năng tu học và phục vụ chúng sinh.
Điều làm nên tên tuổi Diệu Viên không chỉ là việc tu hành mà còn là tinh thần "từ bi hỷ xả" qua các hoạt động thực tiễn. Từ những năm 1950 - 1960, chùa đã tiên phong trong việc nhập thế giúp đời vào năm 1958, mở cơ sở sản xuất tương chao, nhang trầm, bánh trái - vừa tự túc kinh tế, vừa tạo việc làm cho ni chúng và thanh thiếu nữ địa phương.
Đến năm 1959, ngôi chùa thành lập bệnh xá, khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho đồng bào nghèo. Quan trọng hơn là vào năm 1960, mở viện dưỡng lão, tiếp nhận cụ già neo đơn, tàn tật. Viện dưỡng lão đã tồn tại cho đến hôm nay.
Viện dưỡng lão Diệu Viên là mái ấm cho hàng chục cụ già bất hạnh. Dù có lúc gián đoạn do thiếu kinh phí, viện vẫn hoạt động trở lại nhờ sự hỗ trợ của phật tử và nhà hảo tâm. Các cụ được chăm sóc chu đáo hằng ngày với 3 bữa ăn ngon, thuốc men, sinh hoạt tinh thần. Nhiều câu chuyện cảm động về những mảnh đời lưu lạc được ni cô dỗ dành, xoa dịu.
Chùa còn mở trường mẫu giáo phục vụ cộng đồng và các hoạt động từ thiện khác. Những hoạt động này không chỉ giúp đỡ cộng đồng mà còn góp phần lan tỏa hình ảnh Phật giáo nhập thế, gần gũi với đời sống nhân dân Huế.
Chùa Diệu Viên là minh chứng sống động cho sự phát triển của ni giới Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ 20, khi ni chúng bắt đầu có vai trò độc lập hơn trong hoằng pháp. Là ngôi chùa nữ đầu tiên trên đất Huế, chùa mở đường cho nhiều ni viện khác sau này như Diệu Đức, Diệu Nghiêm.
Về văn hóa, chùa gắn bó với di sản Huế - vùng đất "thiền môn". Kiến trúc, nghi lễ và sinh hoạt ni chúng góp phần bảo tồn bản sắc Phật giáo Huế: thanh tịnh, trang nghiêm nhưng gần gũi. Du khách đến đây không chỉ chiêm bái mà còn cảm nhận sự bình an giữa non nước hữu tình.
Hiện nay, chùa tiếp tục phát triển bền vững. Diệu Viên trở thành điểm tham quan tâm linh lý tưởng cho du khách trong và ngoài nước. Mỗi dịp lễ lớn như Phật đản, Vu lan, đông đúc phật tử hành hương về chùa.
Hơn 100 năm tồn tại, chùa Diệu Viên từ một am nhỏ đã vươn mình thành ni viện danh tiếng, biểu tượng của lòng từ bi và sự kiên trì
Hơn 100 năm tồn tại, chùa Diệu Viên từ một am nhỏ đã vươn mình thành ni viện danh tiếng, biểu tượng của lòng từ bi và sự kiên trì. Sự hình thành gắn với công đức của sư bà Hướng Đạo và các cư sĩ tiền bối, sự phát triển nhờ tinh thần nhập thế của ni chúng qua các thập kỷ. Trong dòng chảy lịch sử Huế, Diệu Viên không chỉ là nơi thờ tự mà còn là "bóng mát cuộc đời" cho muôn vàn phận người.
Đến với Diệu Viên, nhiều người sẽ cảm nhận được hơi thở của Phật pháp giữa thiên nhiên Huế mộng mơ. Ngôi chùa khiêm nhường nhưng rạng rỡ ánh từ bi, tiếp tục viết tiếp hành trình hoằng dương chính pháp và cứu độ chúng sinh trên mảnh đất cố đô thiêng liêng. Đây không chỉ là di sản kiến trúc - lịch sử mà còn là bài học sống về lòng nhân ái, đáng để thế hệ hôm nay và mai sau gìn giữ và phát huy.
Tin Gốc: Thanh Niên

