Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội tối 28/4 công bố số liệu trên. So với năm ngoái, số học sinh không thi lớp 10 năm nay ít hơn 2.000, trong khi tổng số dự thi (125.000) tăng gần 23.000 em.
Trường THPT có tỷ lệ chọi cao nhất là THPT Yên Hòa – 1/3,35. Chỉ tiêu của trường là 765, có tới hơn 2.500 học sinh đăng ký nguyện vọng 1. Đứng thứ hai là THPT Lê Quý Đôn – Hà Đông với tỷ lệ 1/3.
Những trường góp mặt trong top 10 tỷ lệ chọi cao nhất còn có Nguyễn Thị Minh Khai, Kim Liên, Phan Đình Phùng, Cầu Giấy, Thăng Long, Trần Phú, Hoàn Kiếm.
Nếu xét riêng nguyện vọng 1, Yên Hòa và Lê Quý Đôn vẫn đứng đầu, theo sau là Kim Liên, Việt Đức, Phan Đình Phùng. “Nhân tố” bất ngờ là THPT Tùng Thiện với vị trí 12, nhận 1.400 nguyện vọng.
Tính tổng cả ba nguyện vọng, THPT Bắc Lương Sơn cao nhất với hơn 7.500. Các trường trong top 10 nhóm này chủ yếu nằm ở ngoại thành, thường lấy 3-4 điểm chuẩn mỗi môn, như Đại Mỗ, Minh Quang, Đại Cường, Lưu Hoàng.
Năm nay, chỉ tiêu lớp 10 công lập là hơn 82.660 (đã tính cả ba trường mới là Hoàng Quán Chi, Việt Hùng, Minh Châu), tương đương hơn 56%.
Kỳ thi diễn ra ngày 30/5-1/6. Điểm thi, điểm chuẩn lớp 10 công lập ở Hà Nội dự kiến được công bố từ ngày 19 đến 22/6.
Tin Gốc: Vnexpress
Giáo Dục
Xác định số lượng tuyển sinh theo quy định mới, trường ĐH chuẩn bị ra sao?

Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư 34 quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh CĐ ngành giáo dục mầm non, thay thế thông tư năm 2022 (áp dụng khóa tuyển sinh 2027), với những điểm mới được cho là tác động đáng kể tới chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên (GV) của các trường ĐH.
Theo thông tư này, để xác định số lượng tuyển sinh, GV phải ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tối thiểu 3 năm. Điều đó có nghĩa năm 2025 hay 2026 một trường ĐH tuyển được 50 tiến sĩ, 15 thạc sĩ thì số lượng GV mới này không được tính để xác định chỉ tiêu. Quy định mới cũng đưa ra số lượng người học quy đổi trên GV quy đổi không theo nhóm ngành như trước (ví dụ kỹ thuật là 20 sinh viên (SV)/GV, kinh tế 25 SV/GV) mà tính chung là 40 SV/GV cho tất cả nhóm ngành.
Đặc biệt, hệ số quy đổi của GV có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS), trình độ tiến sĩ đều bằng 1 trong khi quy định cũ là GS = 5, PGS = 3 và tiến sĩ = 2. Bên cạnh đó thạc sĩ trước đây có hệ số 1 thì giờ giảm còn 0,75.
Tất cả những con số trên mới chỉ thể hiện năng lực đào tạo. Còn số lượng tuyển sinh được tính theo công thức: năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến trong năm.
Những điểm nói trên đã tác động trực tiếp tới việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Theo tính toán của một lãnh đạo trường ĐH tại TP.HCM, nếu theo cách tính mới này, chỉ tiêu tuyển sinh các trường có thể sẽ giảm từ 10 - 30%.
Lấy ví dụ, một trường ĐH đào tạo khối ngành kinh tế (có tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 25 SV/GV) có 5 GS, 10 PGS, 100 tiến sĩ và 80 thạc sĩ. Nếu tính theo cách cũ, thì 5 GS được xác định 5 x 5 x 25 = 650 chỉ tiêu, 10 PGS được tuyển 10 x 3 x 25 = 750 chỉ tiêu, 150 tiến sĩ sẽ được tuyển 100 x 2 x 25 = 5.000 chỉ tiêu, 100 thạc sĩ được tuyển 100 x 25 = 2.500 chỉ tiêu. Tổng chỉ tiêu là 8.900.
Nếu tính theo cách mới (tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 40 SV/GV), năng lực đào tạo của GS là 5 x 40 = 200 chỉ tiêu, PGS là 10 x 40 = 400 chỉ tiêu, tiến sĩ là 100 x 40 = 4.000; thạc sĩ là 100 x 0,75 x 40 = 3.000. Tổng năng lực đào tạo lúc này là 7.600, tính ra đã giảm tới 1.300. Chưa kể khi tính theo công thức mới, chỉ tiêu = năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến, thì số lượng có thể còn giảm thêm.
Tiến sĩ Trần Hữu Duy, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, cho biết: "Thông tư này nhằm siết quy mô đào tạo ĐH để nâng cao chất lượng và tăng quy mô đào tạo sau ĐH (tối thiểu 15% tổng chỉ tiêu). Một trường mà có nhiều GS, PGS, tiến sĩ thì tỷ lệ chỉ tiêu sẽ giảm khá nhiều so với cách tính cũ".
Theo tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, việc xác định số lượng tuyển sinh của nhiều trường sẽ bị thu hẹp hoặc phải tính lại theo hướng thực chất hơn và ít phụ thuộc hơn vào hệ số ưu thế của một số học hàm, học vị cao.
"Trước đây, chỉ cần có một số lượng GS, PGS hoặc tiến sĩ thì tổng số GV quy đổi tăng lên rất mạnh, từ đó kéo theo năng lực đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh tăng tương ứng. Nay khi GS, PGS, tiến sĩ cùng được tính ở mức 1, khoảng chênh lệch đó gần như bị triệt tiêu. Vì vậy, những trường trước đây dựa khá nhiều vào hệ số cao của một đội ngũ GV có học hàm, học vị để xác định chỉ tiêu thì nay sẽ không còn lợi thế như trước. Trong khi những trường có đội ngũ ổn định nhưng không nhiều GS, PGS lại ít bị chênh lệch hơn trước", tiến sĩ Tuấn nhìn nhận.
Nhưng chính vì thế mặt bằng chỉ tiêu giữa các trường sẽ có xu hướng được kéo lại gần nhau hơn. Không còn chuyện cùng một số lượng GV, nhưng chỉ cần cơ cấu học hàm, học vị khác nhau là kết quả chỉ tiêu có thể chênh lệch rất lớn. Với mức quy đổi này kết quả xác định chỉ tiêu sẽ phản ánh sát hơn quy mô đội ngũ thực tế.
Theo tiến sĩ Trần Hữu Duy, cho đến thời điểm hiện tại, quy định GV phải tối thiểu có trình độ thạc sĩ, nên cho dù hệ số quy đổi có giảm thì vai trò của GV có trình độ thạc sĩ là không thay đổi. Tuy nhiên, qua đây cũng có thể thấy quan điểm của Bộ GD-ĐT rất rõ ràng, tiến tới hạn chế GV có trình độ thạc sĩ. Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các trường là phải khẩn trương có kế hoạch đào tạo nâng trình độ của GV, nếu không về lâu dài khi Bộ nâng chuẩn GV lên trình độ tiến sĩ thì sẽ rất khó khăn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng cho rằng quy định mới không hề làm giảm vai trò chính thức của GV trình độ thạc sĩ. Họ vẫn là lực lượng trực tiếp giảng dạy và đóng vai trò quan trọng trong vận hành chương trình đào tạo.
"Ở góc độ quy đổi chỉ tiêu, trọng số của đội ngũ thạc sĩ giảm ảnh hưởng tới những trường vốn dựa nhiều vào thạc sĩ. Nhưng về mặt vận hành, khi hệ số quy đổi thấp hơn, đóng góp của GV thạc sĩ vào năng lực tuyển sinh sẽ giảm so với trước. Điều này có thể dẫn đến việc họ được phân công nhiều hơn ở các học phần cơ bản hoặc đóng vai trò hỗ trợ trong nghiên cứu. Dù vậy, trong các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao, vai trò của GV thạc sĩ, đặc biệt là những người có kinh nghiệm thực tiễn, vẫn không thể thay thế. Vì vậy, vấn đề không phải là giảm vai trò mà là tái định vị vai trò cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn khẳng định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, nhận định: "Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ trương được thể hiện thông qua các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, quy định về xác định số lượng người học... theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đặc biệt là tăng tỷ lệ tiến sĩ. Tuy nhiên, cần có lộ trình phù hợp và phân loại rõ các mô hình ĐH. Nếu áp dụng cứng nhắc có thể dẫn đến giảm chỉ tiêu đào tạo và thiếu hụt nguồn nhân lực cho thị trường lao động".
Để thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ GV trình độ cao, trong 3 năm trở lại đây và thời gian tới, Trường ĐH Công thương TP.HCM không tuyển thạc sĩ, chỉ tuyển tiến sĩ trở lên với chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn đánh giá nguồn GV trình độ tiến sĩ ở VN vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành mới hoặc liên ngành, hoặc có những ngành chưa đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Khi tiêu chuẩn được nâng lên đồng loạt, các trường sẽ cạnh tranh rất mạnh để thu hút nhân sự, mà số lượng tiến sĩ trong thời gian tới không thể tăng nhanh như trước đây nên dẫn đến chi phí tăng cao và không phải trường nào cũng có lợi thế như nhau.
"Nếu không có sự linh hoạt trong triển khai và lộ trình hợp lý thì các quy định này có thể làm giảm tính năng động và dẫn đến những hệ lụy không mong muốn như méo mó cơ cấu ngành đào tạo, đặc biệt là gia tăng chi phí học tập. Vì vậy, cần có cơ chế điều chỉnh phù hợp theo từng nhóm ngành, từng loại hình cơ sở đào tạo, thì khi đó mục tiêu nâng cao chất lượng mới có thể đạt được mà không làm triệt tiêu động lực phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn đề xuất.
"Nước ta hướng tới mục tiêu đó là tốt; tuy nhiên tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ của nước ta hiện nay rất thấp. Do đó Bộ cần phải có lộ trình phù hợp cho các trường để nâng chuẩn trình độ GV, thực hiện ngay sẽ rất phi thực tế. Lộ trình này có thể 5 - 7 năm là phù hợp; hoặc đến năm 2035 là hợp lý nhất", tiến sĩ Trần Hữu Duy nhìn nhận.
Tin Gốc: Thanh Niên

GS. TS Trần Xuân Nam, Phó giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự (MTA), cho biết thông tin trên tại hội thảo "Đào tạo tài năng - Giải pháp đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại", ngày 29/4.
Cụ thể, Học viện đặt mục tiêu đào tạo được 100-150 kỹ sư quân sự tài năng, 60-75 thạc sĩ tài năng và 30 tiến sĩ chất lượng cao, từ nay đến 2030. Đây là nhóm có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức quân sự chung, kiến thức chuyên môn sâu, năng lực vượt trội, có thể dẫn dắt đổi mới sáng tạo, tạo ra tri thức và công nghệ mới.
Chương trình ưu tiên một số lĩnh vực then chốt, chiến lược mà quân đội và xã hội có nhu cầu cao, cấp thiết như Khoa học máy tính, Kỹ thuật Điện tử - Viễn thông, Kỹ thuật Ra đa dẫn đường, Kỹ thuật Cơ khí động lực, Kỹ thuật Cơ khí, Kỹ thuật Cơ điện tử, Kỹ thuật Điều khiển và Tự động hóa.
Học viện sẽ triển khai nhiều giải pháp, gồm khâu tuyển chọn. Như với hệ kỹ sư tài năng, trường dự kiến ba nhóm. Một là học viên của học viện đoạt ba các kỳ thi Olympic quốc gia, quốc tế trở lên các môn Toán, Lý, Hóa, Tin học.
Hai là những học viên có đầu vào thuộc top 20% cao nhất toàn quốc, đạt loạt giỏi hai năm đầu, có tố chất nổi bật trong học tập, nghiên cứu, ngoại ngữ B1 trở lên.
Cuối cùng, MTA dự kiến tuyển chọn sinh viên xuất sắc từ các trường ngoài quân đội, có lý lịch rõ ràng, phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có đủ sức khỏe, năng lực đặc biệt và có điểm đỗ đại học tương đương hệ kỹ sư quân sự tài năng.
Ông Nam cho biết dự kiến học viên chương trình này được cấp bằng kỹ sư quân sự tài năng bậc 7/8 (tương đương thạc sĩ, các trường khác thường là 6/8). Nếu tốt nghiệp giỏi, học viên được phong quân hàm Thượng úy (thông thường là thiếu úy, trung úy). Nhóm này cũng có cơ hội học chuyển tiếp chương trình tiến sĩ chất lượng cao.
Các học viên tốt nghiệp chương trình thạc sĩ tài năng và tiến sĩ chất lượng cao sẽ được xem xét thăng quân hàm trước niên hạn.
Với cả ba chương trình, học viên còn được hưởng nhiều quyền lợi như thực tập và làm đồ án tốt nghiệp tại doanh nghiệp công nghệ, nhà máy quốc phòng, thực tập ngắn hạn ở nước ngoài, nhưng phải đáp ứng các chuẩn đầu ra cao hơn so với thông thường.
Học viện Kỹ thuật quân sự là trường trọng điểm quốc gia, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu phát triển, sản xuất chế thử, chuyển giao công nghệ tiên tiến và hội nhập quốc tế, góp phần phát triển ngành khoa học công nghệ quân sự Việt Nam.
Học viện hiện có gần 2.000 cán bộ, giảng viên, đào tạo hơn 120 chương trình trình độ từ đại học đến tiến sĩ.
Tin Gốc: Vnexpress

Tổ chức Times Higher Education (THE) ngày 23/4 công bố xếp hạng đại học châu Á năm 2026. Hai đại diện mới của Việt Nam lọt vào bảng xếp hạng năm nay là Đại học Nguyễn Tất Thành và Đại học Đà Nẵng.
Đây là lần đầu tiên được xếp hạng nhưng Đại học Nguyễn Tất Thành nhận được đánh giá cao hơn Đại học Bách khoa Hà Nội và hai hệ thống Đại học Quốc gia.
Các đại diện khác của Việt Nam được nêu tên trong danh sách gồm: Đại học Kinh tế TPHCM, Đại học Duy Tân, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Y Hà Nội, Đại học Nguyễn Tất Thành, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Mở TPHCM, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TPHCM, Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng.
Đại học Kinh tế TPHCM đứng đầu danh sách xếp hạng của Việt Nam nhưng vẫn tụt hạng so với năm ngoái.
Nhìn tổng thể danh sách 11 trường đại học của Việt Nam năm nay, có 6/9 gương mặt cũ giảm thứ hạng so với năm ngoái.
Mặc dù có thứ hạng cao nhất nhưng so với năm ngoái, Đại học Kinh tế TPHCM giảm thứ hạng so với năm trước, từ 136 xuống 184.
Trong khi đó, Đại học Duy Tân, Y Hà Nội và Quốc gia TPHCM giữ nguyên thứ hạng so với trước.
Năm nay, Times Higher Education xếp hạng 929 cơ sở giáo dục đại học đến từ 36 quốc gia, vùng lãnh thổ tại châu Á.
Các nhóm đánh giá được THE sử dụng để xếp hạng bao gồm: Đào tạo (môi trường học tập), môi trường nghiên cứu (khối lượng, thu nhập và danh tiếng), chất lượng nghiên cứu (ảnh hưởng trích dẫn, thế mạnh nghiên cứu), tầm nhìn quốc tế (giảng viên, sinh viên và hợp tác nghiên cứu quốc tế), nguồn thu từ hợp tác với doanh nghiệp (hiệu quả chuyển giao tri thức).
Trong các trường ở Việt Nam, Đại học Kinh tế TP HCM đứng đầu về chất lượng nghiên cứu, đạt hơn 88/100 điểm. Đại học Y Hà Nội tiếp tục có chất lượng giảng dạy vượt trội so với các trường, hơn 38/100 điểm.
Xét trong khu vực châu Á, Trung Quốc áp đảo bảng xếp hạng khi Đại học Thanh Hoa và Đại học Bắc Kinh vẫn giữ nguyên vị trí thứ nhất và thứ hai, đồng thời cũng là quốc gia duy nhất có 7 đại học lọt vào top 10.
Hai đại học hàng đầu Singapore là Đại học Quốc gia Singapore và Đại học Công nghệ Nanyang lần lượt giữ vị trí thứ 3 và đồng hạng 4...
Tin Gốc: Dân Trí

