Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, hai bên đã ký 32 văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực hợp tác kênh đảng, công an, tư pháp, kinh tế, đường sắt, thương mại nông sản, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, hợp tác hải quan, khoa học công nghệ, dân sinh, khai thác nguồn nhân lực, truyền thông và địa phương…
Danh sách 32 văn kiện hợp tác được ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc cụ thể như sau:
1. Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 – 2030.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
3. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác trong khuôn khổ Sáng kiến an ninh toàn cầu giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
5. Giấy chứng nhận bàn giao hồ sơ kết quả Dự án viện trợ Việt Nam lập báo cáo nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
6. Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hợp tác và hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan.
7. Công thư về viện trợ không hoàn lại của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho dự án Xây mới cơ sở 2 Học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam giai đoạn 1.
8. Bản ghi nhớ giữa Bộ Xây dựng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về triển khai hợp tác đào tạo đường sắt để tăng cường năng lực cho nhân lực đường sắt Việt Nam.
9. Bản Ghi nhớ về hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Bộ Giáo dục – Đào tạo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
10. Bản ghi nhớ triển khai chương trình nghiên cứu chung Việt Nam-Trung Quốc giữa Bộ Khoa học – Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Khoa học – Công nghệ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
11. Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ số giữa Bộ Khoa học – Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Công nghiệp – Công nghệ thông tin nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
12. Nghị định thư về thiết lập, quản lý và vận hành đường dây nóng cấp Bộ trưởng giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
13. Bản ghi nhớ về hợp tác giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
14. Bản ghi nhớ hợp tác bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực du lịch giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
15. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại của cư dân biên giới.
16. Chương trình hợp tác 2026 – 2027 giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
17. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác đàm phán thúc đẩy xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
18. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác hợp tác chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
19. Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với việc xuất khẩu quả bưởi và quả chanh giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
20. Bản ghi nhớ về cùng thực hiện Kế hoạch hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Tổng Cục Hợp tác phát triển quốc tế quốc gia nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
21. Biên bản hội đàm về khảo sát hiện trường công tác nghiên cứu khả thi Dự án viện trợ Việt Nam sửa chữa, bảo trì Cung Hữu nghị Việt – Trung.
22. Thỏa thuận hợp tác giữa Đài tiếng nói Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hãng Thông tấn Tân Hoa nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
23. Bản Ghi nhớ về hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo cơ chế Diễn đàn Truyền thông và Tham vấn Phương Nam toàn cầu.
24. Bản ghi nhớ về Hợp tác thông tin giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
25. Thỏa thuận tăng cường hợp tác Văn hóa Nghệ thuật năm 2026 – 2027 giữa Đài Truyền hình Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
26. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh, Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
27. Bản Ghi nhớ về tăng cường hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh – Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
28. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Tạp chí Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
29. Bản Ghi nhớ hợp tác giữa thành phố Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thành phố Bắc Kinh, thủ đô nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 – 2030.
30. Thỏa thuận thiết lập quan hệ hữu nghị cấp tỉnh giữa tỉnh Phú Thọ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tỉnh Sơn Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
31. Thỏa thuận về triển khai hợp tác bồi dưỡng cán bộ giữa Đảng ủy các tỉnh, thành phố Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
32. Bản ghi nhớ giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam và Chính quyền nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc về xác nhận vị trí, loại hình, thời gian mở cửa, thời gian làm việc và nâng cấp cửa khẩu song phương Chi Ma (Việt Nam) – Ái Điểm (Trung Quốc) lên thành cửa khẩu quốc tế.
Chủ đề của chương trình là: "Thăng Long: Linh khí ngàn năm, chiều sâu văn hiến", nhằm tôn vinh chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa của Thăng Long - Hà Nội, đồng thời truyền tải thông điệp về sự tiếp nối của truyền thống, sự giao thoa hài hòa giữa quá khứ và hiện tại, cũng như tinh thần hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới.
Trong không khí gần gũi và thân tình, thắm tình hữu nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân đã di chuyển tới cổng thành Đoan Môn.
Tiếp đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân tham quan Phòng trưng bày "Lịch sử Thăng Long - Hà Nội nghìn năm từ lòng đất" và Phòng trưng bày "Báu vật Hoàng cung Thăng Long", là nơi trưng bày một số hiện vật được công nhận "Bảo vật quốc gia".
Tại không gian chính điện Kính Thiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân đã nghe giới thiệu ý nghĩa của khu vực này, chính là nơi vua và các quan đại thần luận bàn việc nước, thiết triều, tiếp đón sứ giả nước ngoài và cử hành các nghi lễ quan trọng của triều đình trong 800 năm tại kinh đô Thăng Long.
Trong bầu không khí văn hóa truyền thống, với không gian trà lễ mang tính thanh nhã, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân cùng thưởng trà, trao đổi thân mật, xem chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống.
Mở màn với tiết mục hát Xoan, loại hình nghệ thuật cổ truyền có nguồn gốc từ vùng Phú Thọ, gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là những vị vua đầu tiên của Việt Nam.
Tiếp đó là tiết mục Nhã nhạc cung đình Việt Nam, là loại hình âm nhạc cung đình được hình thành và phát triển qua nhiều triều đại phong kiến Việt Nam. Nhã nhạc được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2003.
Nhã nhạc mang đến không gian âm nhạc trang trọng, tinh tế, sử dụng trong lễ đăng quang, tế lễ và tiếp sứ thần, thể hiện sự uy nghi của quốc gia. Việc tái hiện không gian lễ nghi trình diễn nhạc cung đình xưa thể hiện chiều sâu văn hóa và truyền thống lễ nhạc của Việt Nam, tạo sự tương đồng với truyền thống âm nhạc cung đình của nhiều quốc gia.
Tiết mục Chầu văn Huế, là hình thức diễn xướng nghi lễ gắn với đời sống tín ngưỡng dân gian, kết hợp hài hòa giữa âm nhạc, lời ca và yếu tố trình diễn, thể hiện sự tôn kính đối với các bậc tiền nhân và ước nguyện về bình an, thịnh vượng.
Màn kết của chương trình nghệ thuật là tiết mục múa Lục cúng hoa đăng, là điệu múa cổ mang tính nghi lễ, thể hiện sự thành kính và ước nguyện quốc thái dân an.
Các động tác múa chậm, trang nghiêm, đội hình cân đối, sử dụng hoa đăng biểu trưng cho ánh sáng trí tuệ và hòa bình. Lục cúng hoa đăng tạo điểm kết trang trọng, gửi thông điệp về hòa bình, hữu nghị và phát triển bền vững, thể hiện vẻ đẹp tinh tế của nghệ thuật truyền thống Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh chuyến thăm thể hiện sự coi trọng cao độ của Chính phủ Hàn Quốc và cá nhân Tổng thống Lee Jae Myung đối với Việt Nam và quan hệ hai nước; tin tưởng chuyến thăm sẽ tiếp thêm động lực mới thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hàn Quốc phát triển thực chất, hiệu quả và toàn diện hơn nữa trong thời gian tới.
Tổng thống Lee Jae Myung cho rằng hai nước đang có những điều kiện rất thuận lợi để định hình tầm nhìn chiến lược mới cho hợp tác, kiến tạo cơ hội cùng phát triển và hướng tới tương lai thịnh vượng chung bền vững; khẳng định Hàn Quốc sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam trên chặng đường hiện thực hóa các mục tiêu phát triển, đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại đến năm 2030, và trở thành nước phát triển, thu nhập cao đến năm 2045.
Hai nhà lãnh đạo bày tỏ vui mừng về những bước phát triển sâu rộng của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc sau gần 35 năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao; Hàn Quốc hiện là nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam với hơn 10.000 doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của hai nước và phát triển công nghiệp của Việt Nam. Hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, khoa học và công nghệ, lao động, giáo dục - đào tạo và giao lưu nhân dân tiếp tục đạt nhiều tiến triển quan trọng.
Để triển khai hiệu quả, thực chất quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hàn Quốc, Thủ tướng Lê Minh Hưng đề nghị hai bên tiếp tục củng cố tin cậy chính trị trên cơ sở mở rộng hợp tác thực chất về quốc phòng, an ninh và ngoại giao; nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có giữa hai nước, tạo cơ sở chính trị vững chắc mở rộng hợp tác song phương trên tất cả các lĩnh vực.
Về hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho rằng hai bên cần đẩy mạnh liên kết kinh tế tập trung vào đổi mới và nâng cao chất lượng hợp tác; đề nghị hai bên phối hợp triển khai các nhóm nhiệm vụ tại kế hoạch hành động thực hiện mục tiêu kim ngạch thương mại song phương lên 150 tỉ USD theo hướng cân bằng hơn vào năm 2030; tiếp tục mở cửa thị trường cho hàng hóa hai nước.
Thủ tướng đề nghị Hàn Quốc hỗ trợ tăng cường tỷ lệ nội địa hóa và sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng sản xuất của Hàn Quốc; có các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh tại Hàn Quốc; chia sẻ kinh nghiệm trong lĩnh vực đổi mới tài chính, thanh tra, giám sát ngân hàng và vận hành, tham gia vào các trung tâm tài chính quốc tế của Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng cũng đề nghị hai bên thúc đẩy hợp tác về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; gắn kết chiến lược trong việc bảo đảm an ninh năng lượng bền vững giữa hai nước; mở rộng hợp tác nguồn nhân lực, văn hóa, du lịch, đẩy mạnh giao lưu nhân dân hai nước.
Tổng thống Lee Jae Myung nhất trí với các đề xuất của Thủ tướng Lê Minh Hưng; khẳng định sẽ phối hợp với Việt Nam tìm kiếm biện pháp đưa thương mại hai nước đạt 150 tỉ USD vào năm 2030 theo hướng cân bằng hơn; tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu của Hàn Quốc.
Thủ tướng Lê Minh Hưng cảm ơn và đề nghị Tổng thống Lee Jae Myung và Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục quan tâm, hỗ trợ, bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục tiến tới miễn thị thực cho công dân Việt Nam; khẳng định Chính phủ Việt Nam cũng sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Hàn Quốc yên tâm sinh sống, học tập và làm việc lâu dài tại Việt Nam.
Tổng thống Lee Jae Myung đề nghị hai bên thúc đẩy hợp tác dài hạn và chiến lược không chỉ trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, năng lượng mà còn trong lĩnh vực khoa học công nghệ, lao động, chuỗi cung ứng...
Tổng thống Lee Jae Myung khẳng định thành công của Việt Nam cũng là thành công của Hàn Quốc, hai bên cần tăng cường trao đổi thúc đẩy hợp tác song phương ở tầm cao nhất, hướng tới thịnh vượng chung bền vững.
Tổng thống Lee Jae Myung mong muốn Chính phủ Việt Nam tích cực hỗ trợ giải quyết các vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam, tạo điều kiện để doanh nghiệp Hàn Quốc có cơ hội được tham gia các dự án hạ tầng chiến lược của Việt Nam như điện hạt nhân, cơ sở hạ tầng, đường sắt tốc độ cao; cho biết Hàn Quốc sẽ xem xét tích cực việc tăng hạn ngạch tiếp nhận lao động Việt Nam cũng như mở rộng các ngành nghề tiếp nhận lao động và tăng cường hợp tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.
Chiều cùng ngày, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Tổng thống Lee Jae Myung đã cùng tham dự và phát biểu tại Tọa đàm bàn tròn doanh nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc và Diễn đàn kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc: Nâng cao quan hệ đối tác công nghiệp, đầu tư và khoa học công nghệ, với sự tham dự của các doanh nghiệp hàng đầu hai nước.
Quy định 19 và dự thảo Đề án Chiến lược công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh chuyển đổi số yêu cầu phải "chủ động dẫn dắt". Tuy nhiên, việc trang bị "vũ khí số" cho hệ thống chính trị hiện nay đang đối mặt với điểm nghẽn nào và cần tháo gỡ ra sao để công tác chính trị, tư tưởng thực sự đi trước mở đường trên mặt trận này?
Chia sẻ tại hội thảo “Công tác chính trị, tư tưởng đi trước, mở đường trong kỷ nguyên mới” do Báo Thanh Niên tổ chức chiều 15.5, PGS-TS Vũ Văn Phúc, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, nguyên Phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, đánh giá cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang tạo cơ hội cho tất cả các nước, trong đó có Việt Nam. Nếu tranh thủ cơ hội này, đất nước sẽ phát triển, đạt được các mục tiêu 100 năm. Nhưng nếu không vượt qua được thách thức, đất nước sẽ tụt hậu.
Nêu nhiều điểm nghẽn, song theo PGS-TS Vũ Văn Phúc, điểm nghẽn lớn nhất là nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị chưa vừa hồng vừa chuyên, có người bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng vững vàng nhưng khả năng sử dụng công nghệ số, AI còn hạn chế.
Ngược lại, có người kỹ năng giỏi nhưng chưa thực sự hiểu về chính trị, sức đề kháng trước các thông tin xấu độc chưa cao.
“Vậy giải quyết các điểm nghẽn này như thế nào? Tôi từng đặt câu hỏi cho Bí thư Tỉnh đoàn Ninh Bình là “sức đề kháng” của thanh niên ngoài khu vực công còn hạn chế, nhưng hàng ngày tiếp nhận các thông tin xấu độc trên mạng xã hội, vai trò của tổ chức đoàn thế nào để bảo vệ thanh niên?”, ông Phúc nêu.
Nhấn mạnh công tác chính trị phải đi trước mở đường, trong đó mỗi đoàn viên, đảng viên phải thực hiện nghiêm Nghị quyết 19, ông cũng nêu các câu hỏi: Thế nào là quán triệt sâu sắc, thế nào là thực hiện nghiêm?
Các tổ chức đoàn phải trên nền tảng công nghệ số, giải thích cho đoàn viên, thanh niên “4 kiên định” là gì? Trả lời câu hỏi tại sao, làm thế nào để kiên định? Trên các nền tảng số phải có sẵn câu trả lời để đoàn viên, thanh niên mở điện thoại ra có thể đọc được ngay, hiểu ngay.
PGS-TS Vũ Văn Phúc đề nghị có chiến lược tuyên truyền trên môi trường số, làm tốt hơn nữa công tác Bình dân học vụ số, tiến tới thông thạo công nghệ số, hình thành được các hệ sinh thái công nghệ số…
Xây dựng hệ sinh thái công tác tư tưởng số, sử dụng Big Data, AI để dự báo sớm điểm nóng tư tưởng, thay vì chạy theo xử lý khủng hoảng.
Bên cạnh đó, trong thời đại mới, không gian mạng đang trở thành "mặt trận" mới của công tác chính trị, tư tưởng. Anh Nguyễn Nhất Linh, Bí thư Đoàn Thanh niên MTTQ, các đoàn thể Trung ương, chia sẻ Đoàn Thanh niên MTTQ, các đoàn thể Trung ương đã có nhiều giải pháp cụ thể để nâng cao sức đề kháng cho đoàn viên trước thông tin xấu độc, biến họ từ người tiếp nhận thụ động thành "chiến sĩ tiên phong".
Theo anh Nguyễn Nhất Linh, đoàn viên, thanh niên có 6 - 8 tiếng mỗi ngày trên không gian mạng, không chỉ ăn ngủ mà còn trưởng thành trên không gian mạng. Không gian mạng hiện được chi phối bởi thuật toán và tâm lý đám đông, nên có những thứ không phải sự thật nhưng tác động rất lớn đến tâm lý đám đông trên mạng. Do đó, “thanh niên hiện nay ngoài việc nhận thức đúng sai, còn phải là người tuyên truyền để người khác nhận thức được làm việc đúng”.
Theo anh Linh, không gian mạng không chỉ là không gian giải trí mà là mặt trận tư tưởng mới, thanh niên không thể đứng ngoài mặt trận đó. Trung ương Đoàn đã có nhiều đề án trình và Thủ tướng Chính phủ mới đây đã ban hành chương trình "Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng”.
Đầu tiên, phải xác định thanh niên ở đâu thì cán bộ Đoàn, phong trào Đoàn ở đó. “Thanh niên ở TikTok, ở Instagram, ở Facebook…, thì cán bộ Đoàn, phong trào đoàn phải ở đó và cố gắng làm chủ thông tin”, anh Nguyễn Nhất Linh chia sẻ.
Với app Thanh niên Việt Nam, có hơn 5 triệu đoàn viên sẽ nhận trực tiếp các thông tin tuyên truyền, theo thị hiếu của giới trẻ để đưa lên mạng. Hiện nay, đoàn viên không chỉ đọc mà còn nghe dưới dạng talk, post card.
Anh Linh cũng cho biết, Trung ương Đoàn đã triển khai nhiều chiến dịch như “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp”, tạo động lực cho đoàn viên, thanh niên tiếp bước noi theo.
Bên cạnh đó, Trung ương Đoàn cũng xây dựng hệ miễn dịch số, không chỉ đơn giản chờ xã hội tác động nữa mà phải chủ động phòng chống, tạo ra các giá trị tốt đẹp hơn.
“Thanh niên không chỉ là người lướt mạng nữa mà là người lan tỏa các giá trị tốt đẹp. Mỗi thanh niên với một tài khoản trên không gian mạng sẽ tạo thành “pháo đài mềm” để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Từ kinh nghiệm với công tác Đoàn trước đây, ông Vũ Trọng Kim, nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, cho rằng công nghệ số mạnh mẽ, xuyên biên giới, nhưng ngôn ngữ, con người vẫn là cốt lõi. Giao tiếp giữa con người với con người công nghệ số không thay đổi được. Do đó, phải kết hợp online và offline, hoạt động tương tác với nhau trong tổ chức Đoàn.