PGS.TS.BS Phạm Nguyễn Vinh, Giám đốc Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, giải thích mô mỡ hoạt động như một cơ quan nội tiết, giải phóng các chất gây viêm (TNF-α, IL-6), làm tổn thương thành mạch, thúc đẩy xơ vữa. Tình trạng này làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, bệnh mạch máu não và đột quỵ.
Mỡ nội tạng dư thừa còn gây kháng insulin, dẫn đến hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường type 2 – những yếu tố làm tăng nguy cơ tim mạch. Nghiên cứu Đa chủng tộc về Xơ vữa động mạch (MESA) năm 2010-2017 trên hơn 93.200 người 45-79 tuổi đăng trên tạp chí Frontiers cho thấy 80-90% người mắc đái tháo đường type 2 bị thừa cân hoặc béo phì, và người béo phì có nguy cơ mắc bệnh tim cao gần gấp 3 lần so với người bình thường.
Rối loạn mỡ máu ở người thừa cân, béo phì thường biểu hiện bằng triglyceride tăng cao, cholesterol tốt (HDL) giảm và xuất hiện nhiều hạt LDL nhỏ, đậm đặc – loại dễ gây hại cho mạch máu. Những thay đổi này khiến mỡ tích tụ trong thành động mạch, hình thành mảng xơ vữa, từ đó làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
“Ở người trẻ bị nhồi máu cơ tim không ST chênh lên (NSTEMI), thừa cân, béo phì có thể là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất, hơn cả hút thuốc lá”, phó giáo sư Vinh nói. Chỉ số BMI càng cao, nguy cơ mắc bệnh càng lớn và có xu hướng xảy ra sớm hơn.
Béo phì dễ dẫn tới tăng huyết áp do tăng thể tích máu và cung lượng tim, kích hoạt hệ renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) khiến huyết áp duy trì ở mức cao. Lâu dài, áp lực này làm cứng và hẹp động mạch, hình thành xơ vữa, đồng thời khiến tim phải làm việc nhiều hơn, cơ tim dày lên, tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, suy tim.
Mỡ thừa cũng khiến tim phải bơm mạnh hơn, lâu dần gây biến đổi cấu trúc tim và dẫn đến suy tim. Khi tăng huyết áp đi kèm rối loạn mỡ máu, bệnh tim mạch tiến triển nhanh hơn. Ngoài ra, béo phì còn liên quan đến rung nhĩ do thay đổi cấu trúc và tín hiệu điện của tim.
Phó giáo sư Vinh dẫn thống kê năm 2024 của Hiệp hội Tim mạch châu Âu (ESC) cho thấy tỷ lệ béo phì đã tăng hơn gấp đôi trong 4 thập kỷ qua. Tại hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, số bệnh nhân đến khám và điều trị bệnh tim (tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, suy tim…) bị thừa cân, béo phì chiếm khoảng 10-15%.
Đơn cử ông Mạnh, 57 tuổi, nặng 118 kg, nhập viện điều trị hai lần trong vòng 3 tháng. ThS.BS.CKII Huỳnh Thanh Kiều, Trưởng khoa Nội tim mạch 1, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết bệnh nhân mắc nhiều bệnh lý tim mạch gồm suy tim, rung nhĩ, bệnh mạch vành, rối loạn lipid máu, ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ. “Yếu tố tuổi tác, béo phì mức cao nhất (BMI 40.35) là nguyên nhân chính gây ra tình trạng này”, bác sĩ Kiều giải thích.
Sau một tuần điều trị nội khoa tích cực, các triệu chứng cải thiện. Bác sĩ cũng kê thuốc hỗ trợ giảm cân cho ông, xây dựng chế độ ăn uống – vận động phù hợp và hướng dẫn ông tái khám đúng lịch.
Phó giáo sư Vinh cho hay giảm cân là biện pháp quan trọng để phòng ngừa các hội chứng tim mạch chuyển hóa. Giảm 5-10% trọng lượng cơ thể, người bệnh có thể giảm triglyceride 40 mg/dl, tăng cholesterol HDL 5 mg/dl, huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương giảm 5 mmHg, giảm 21% nguy cơ tử vong do nhồi máu cơ tim cấp hay đột quỵ, ngăn ngừa tiến triển đái tháo đường type 2…
Để giảm nguy cơ tim mạch, ngoài kiểm soát cân nặng, cần giữ vòng eo <90 cm ở nam và <80 cm ở nữ. Các biện pháp hiệu quả gồm thay đổi lối sống, dùng thuốc và phẫu thuật khi cần. Nguyên tắc ăn uống ưu tiên thịt trắng (thịt gà, vịt, cá, ếch...), chất xơ, hạn chế tinh bột, tránh thực phẩm chế biến sẵn, uống đủ 1,5-2 lít nước và duy trì vận động đều đặn.Tùy từng trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định thuốc giảm cân, chẳng hạn khi BMI ≥30 hoặc BMI ≥ 27 kèm một yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp sau ít nhất 3 tháng thay đổi lối sống không hiệu quả. Người châu Á (như Việt Nam) có thể dùng thuốc nếu BMI ≥ 25 kèm một yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp. Trường hợp BMI ≥40 hoặc ≥35 kèm bệnh có thể cân nhắc phẫu thuật dạ dày (Bari-surgery).Người thừa cân nên khám để được tư vấn phương pháp giảm cân phù hợp theo thể trạng và bệnh nền kèm theo. Duy trì BMI 18,5-22,9 giúp phòng ngừa bệnh tim mạch hiệu quả. Người thừa cân, béo phì khi xuất hiện dấu hiệu cảnh báo như khó thở, đau tức ngực, chóng mặt, choáng váng, nhịp tim bất thường, mệt mỏi... nên đi khám ngay.Tin Gốc: Vnexpress
Trường hợp trên được bác sĩ chuyên khoa thận Hồng Vĩnh Tường (Đài Loan) chia sẻ. Bệnh nhân Lý là người vốn có thể trạng khỏe mạnh và đam mê câu cá biển. Ông Lý duy trì thói quen ăn hải sản mỗi ngày trong thời gian dài. Tuy nhiên, trong một lần kiểm tra sức khỏe gần đây, kết quả khiến ông bàng hoàng khi chỉ số thanh thải creatinine giảm xuống còn 46 mL/min (mức độ bệnh thận mạn tính giai đoạn trung bình).
Đáng chú ý, nồng độ kim loại nặng asen trong nước tiểu của ông lên tới 586,9 μg/L, cao gấp 6 lần mức cho phép. Không chỉ vậy, nồng độ chì trong cơ thể cũng vượt ngưỡng. Việc tiếp xúc với đa kim loại nặng đã đẩy các ống thận vào tình trạng bị áp lực oxy hóa nghiêm trọng.
Trong quá trình điều trị, bác sĩ Tường yêu cầu ông Lý dừng ngay việc ăn các loại hải sản tự đánh bắt, đồng thời chuyển sang dùng nước lọc qua hệ thống tinh lọc chất lượng cao. Bệnh nhân được chỉ định dùng thuốc giải độc đường uống, hoạt động như một "thanh nam châm" để hút các ion kim loại trong máu và đào thải ra ngoài.
Sau nửa năm kiên trì, nồng độ asen trong nước tiểu của ông Lý đã trở về mức bình thường. Chức năng thận (chỉ số thanh thải creatinine) hồi phục từ 46 lên 80 mL/min. Bệnh nhân đã thành công đảo ngược tình trạng từ "suy thận trung bình" về mức "tổn thương nhẹ", thoát khỏi nỗi ám ảnh phải chạy thận trong tương lai.
Dựa trên các tiêu chuẩn vệ sinh mới nhất giai đoạn 2024-2025 của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (TFDA), bác sĩ Hồng Vĩnh Tường liệt kê 5 nhóm thực phẩm người dân cần đặc biệt cảnh giác:
Cá biển sâu kích thước lớn
Cá cờ, cá ngừ, cá mập, cá dầu... là những loài săn mồi đứng đầu chuỗi thức ăn. Qua quá trình tích tụ sinh học, nồng độ methyl thủy ngân trong cơ thể chúng có thể cao gấp hàng chục nghìn lần so với nước biển. Chất này có độc tính cực mạnh, tấn công trực tiếp vào cầu thận. Người dân nên thay thế bằng các loại cá nhỏ như cá thu, cá nục và tránh ăn da, nội tạng cá.
Quan niệm "ăn gì bổ nấy" là một sai lầm lớn. Thận và gan là cơ quan chuyển hóa độc tố. Khi động vật tiếp xúc với cadmium (Cd) trong môi trường, chất này sẽ tích tụ tại đây. Cadmium có chu kỳ bán rã trong cơ thể người lên đến 30 năm, tiêu thụ lâu dài sẽ gây rối loạn chức năng ống thận gần.
Động vật có vỏ và gạch cua/tôm
Sò điệp, hàu và đặc biệt là gạch cua thường hấp thụ dinh dưỡng bằng cách lọc nước biển, đồng thời cô đặc asen và cadmium trong các tuyến cơ thể. Nghiên cứu chỉ ra rằng, hàm lượng kim loại nặng trong gạch cua (tuyến sinh dục và gan tụy) thường cao gấp hàng chục lần so với thịt cua.
Gạo và ngũ cốc không rõ nguồn gốc
Cây lúa có khả năng hấp thụ cadmium rất mạnh. Nếu trồng trên đất bị ô nhiễm nước thải công nghiệp sẽ tạo ra "gạo nhiễm chì/cadmium". Ăn gạo này lâu dài có thể gây bệnh Itai-itai, dẫn đến protein niệu nghiêm trọng và mất xương.
Thực phẩm chế biến màu sắc sặc sỡ
Một số loại phẩm màu công nghiệp bất hợp pháp trong mứt, bánh kẹo giá rẻ có thể chứa hàm lượng chì cao. Chì gây xơ hóa mô kẽ thận mạn tính, đặc biệt nguy hiểm với thận đang phát triển của trẻ em.
Để bảo vệ thận, bác sĩ khuyến nghị bổ sung 4 nhóm thực phẩm giúp hỗ trợ giải độc:
Mộc nhĩ đen và khoai lang: Giàu chất xơ, đóng vai trò như "máy hút bụi" giúp hấp thụ kim loại nặng trong đường ruột.
Bí đỏ và táo: Chứa pectin giúp liên kết các kim loại nặng và đào thải qua phân.
Tỏi, hành tây và rau mùi: Chứa các hợp chất lưu huỳnh, hỗ trợ gan tổng hợp Glutathione - chất giải độc kim loại nặng quan trọng nhất của cơ thể.
Lợi khuẩn (Probiotics): Một số chủng lợi khuẩn có khả năng gắn kết với kim loại nặng trong ruột, làm giảm đáng kể tỷ lệ hấp thụ vào máu.
Ngày 13/4, BS.CK2 Nguyễn Minh Tiến, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, cho biết kali máu của bệnh nhân chỉ còn 1,5 mmol/L, thấp hơn nhiều so với mức bình thường (4-5 mmol/L). Điện tâm đồ ghi nhận rối loạn nhịp tim.
Gia đình cho biết khoảng 6 tháng trước, em từng xuất hiện tình trạng tương tự với cơn liệt mềm kéo dài một ngày rồi tự hồi phục, nhưng không đi khám. Bệnh nhân được chẩn đoán liệt chu kỳ do hạ kali máu, xử trí bằng truyền kali tĩnh mạch kết hợp bổ sung qua đường uống.
Sau gần một tuần điều trị, tình trạng cải thiện rõ rệt, sức cơ phục hồi gần như bình thường. Bệnh nhân có thể đi lại và được xuất viện, kèm hướng dẫn chế độ ăn uống, sinh hoạt và theo dõi lâu dài.
Theo bác sĩ Tiến, liệt chu kỳ do hạ kali máu là bệnh hiếm gặp, với tần suất khoảng 1/100.000 người. Bệnh gây ra các cơn yếu cơ đột ngột, có thể ảnh hưởng toàn thân nhưng người bệnh vẫn tỉnh táo.
Một số yếu tố có thể kích hoạt cơn liệt gồm vận động cường độ cao, ăn nhiều tinh bột và đường, căng thẳng, nhịn đói kéo dài hoặc thời tiết lạnh. Các cơn có thể xuất hiện vài tuần đến vài tháng một lần, kéo dài từ vài giờ đến vài ngày.
Trường hợp nhẹ, người bệnh có thể được bổ sung kali bằng đường uống. Tuy nhiên, nếu hạ kali máu nặng gây rối loạn nhịp tim hoặc suy hô hấp, cần truyền tĩnh mạch để tránh nguy cơ tử vong.
Bác sĩ khuyến cáo người từng có triệu chứng tương tự cần đi khám sớm để được chẩn đoán và theo dõi. Để phòng ngừa, nên hạn chế vận động quá sức, tránh ăn quá nhiều carbohydrate, duy trì chế độ ăn giàu kali như chuối, cam, khoai, các loại đậu, cá... và tuân thủ điều trị nếu được bác sĩ chỉ định. Ngoài ra, người bệnh cần thông báo tình trạng của mình với nhân viên y tế khi thực hiện phẫu thuật hoặc thủ thuật để được kiểm soát nồng độ kali phù hợp, tránh các biến chứng nguy hiểm.
Bộ Y tế đã có công văn gửi UBND các tỉnh thành, bệnh viện và đơn vị sản xuất kinh doanh dược phẩm, đề nghị chủ động ứng phó, bảo đảm cung ứng đầy đủ, kịp thời thuốc với giá hợp lý; không để xảy ra tình trạng thiếu thuốc, gián đoạn nguồn cung, đầu cơ, găm hàng hoặc tăng giá bất hợp lý; chủ động đảm bảo nguồn cung thuốc phục vụ công tác khám chữa bệnh (KCB).
Theo đó, UBND các tỉnh, thành chỉ đạo sở y tế và các cơ quan liên quan theo dõi sát diễn biến thị trường, chủ động mua sắm, dự trữ thuốc và phương án điều tiết, đảm bảo cân đối cung - cầu thuốc trên địa bàn; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành quy định về kinh doanh thuốc, quản lý giá thuốc; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; chỉ đạo các cơ sở sản xuất, xuất nhập khẩu, kinh doanh dược trên địa bàn đảm bảo cung ứng, không lợi dụng tình hình để đầu cơ, găm hàng, tăng giá thuốc và nguyên liệu làm thuốc trái quy định.
Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở KCB rà soát, đánh giá tình hình sử dụng, tồn kho và khả năng cung ứng thuốc theo từng nhóm, tập trung 4 nhóm thuốc: thuốc thiết yếu; thuốc cấp cứu, hồi sức tích cực; thuốc điều trị bệnh mạn tính, bệnh truyền nhiễm; thuốc phụ thuộc nguồn nhập khẩu… để có các phương án mua sắm, dự trữ thuốc phù hợp với quy mô hoạt động và mô hình bệnh tật.
Bộ Y tế lưu ý ưu tiên sử dụng thuốc sản xuất trong nước đã được công bố đáp ứng yêu cầu điều trị, có nguồn cung ổn định để thay thế thuốc nhập khẩu có nguy cơ gián đoạn. Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế theo dõi, cảnh báo sớm nguy cơ thiếu thuốc; kịp thời báo cáo cơ quan quản lý khi có biến động.
Bộ Y tế đã chỉ đạo các cơ sở chủ động kế hoạch sản xuất, nhập khẩu, dự trữ; đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu và thuốc thành phẩm; hạn chế phụ thuộc vào một hoặc một số thị trường; tăng cường năng lực dự trữ, vận chuyển, phân phối; bảo đảm cung ứng liên tục, ổn định, nhất là đối với thuốc thiết yếu và thực hiện nghiêm quy định về quản lý giá thuốc: niêm yết giá và bán không cao hơn giá niêm yết; bán buôn thuốc kê đơn không cao hơn giá đã công bố hoặc công bố lại, theo quy định.
Đặc biệt, nghiêm cấm các hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá, tăng giá thuốc bất hợp lý. Trường hợp chi phí đầu vào tăng (nguyên liệu, thuốc nhập khẩu, vận chuyển, tỷ giá…), chủ động rà soát, tiết giảm chi phí không cần thiết để góp phần bình ổn giá thuốc. Ưu tiên bảo đảm cung ứng đầy đủ, đúng tiến độ theo hợp đồng đã ký với cơ sở KCB.