Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 có gần 143.000 thí sinh TP HCM đăng ký, gồm cả gần 8.000 thí sinh tự do, theo công bố của Sở Giáo dục và Đào tạo, chiều 13/5.
Ngoài Toán và Ngữ văn là hai môn bắt buộc, gần 65.500 em chọn thi môn Tiếng Anh, chiếm tỷ lệ 45,8%. Bốn môn được chọn nhiều tiếp theo là Vật lý (hơn 64.000), Lịch sử (hơn 41.000), Hóa học (hơn 38.000), Địa lý (gần 33.600).
Xu hướng này ngược chiều cả nước, khi Lịch sử là môn được chọn nhiều nhất với gần 570.000 thí sinh, kế đến là Địa lý (hơn 449.000). Tiếp theo mới đến Vật lý (hơn 389.600) và Tiếng Anh (gần 347.500).
Lãnh đạo Sở nhận xét học sinh TP HCM chuộng Tiếng Anh và nhóm môn Khoa học tự nhiên, theo truyền thống từ nhiều năm nay. Trong đó, Tiếng Anh là môn thế mạnh. Năm ngoái, điểm trung bình môn này (5,65 điểm) của TP HCM đứng thứ hai cả nước, sau Hà Nội (5,78). Nhưng trước sáp nhập với Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Dương, học sinh khu vực TP HCM cũ dẫn đầu 8 năm liên tiếp.
Nhóm môn Khoa học tự nhiên có hơn 113.300 lượt đăng ký, cao hơn so với nhóm Khoa học xã hội (gần 97.750 em). Điều này phản ánh định hướng theo các ngành kỹ thuật công nghệ, phù hợp với cơ cấu kinh tế năng động của thành phố.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 diễn ra ngày 11-12/6. Cả nước có hơn 1,22 triệu thí sinh, cao kỷ lục. Trong đó, TP HCM là địa phương có đông thí sinh nhất.
Tin Gốc: Vnexpress

Cơ quan Giáo dục New Zealand (ENZ) hôm 13.5 công bố dữ liệu mới nhất về số sinh viên quốc tế tại New Zealand trong năm 2025, ghi nhận có 92.580 du học sinh từ các quốc gia đến học vào năm ngoái. Con số này tăng 11% so với 2024 và đạt 80% so với mức đỉnh trước dịch Covid-19. Trong đó, người Việt chiếm khoảng 3% với 2.200 người, lần đầu tiên vượt mốc 2.000 kể từ năm 2021.
Thống kê mới từ ENZ chỉ ra đà tăng trưởng số lượng du học sinh Việt Nam tại New Zealand vẫn đang tiếp diễn từ 2022 tới nay. Con số hiện tại cũng đạt 72% so với mức đỉnh từng ghi nhận ở 2019 và tương đương với mức 9 năm trước. Kết quả trên là "trái ngọt" sau khi ENZ hồi năm 2024 cho biết sẽ tập trung đầu tư vào một số thị trường có "tiềm năng tăng trưởng", bao gồm Việt Nam, kéo theo đó là hàng loạt động thái mới.
Một số dấu ấn có thể kể tới là nước này đã thiết kế 2 chương trình học bổng chính phủ dành riêng cho học sinh Việt, bao gồm bậc trung học (NZSS) và ĐH (NZUA), bên cạnh bậc sau ĐH (Manaaki) vốn đã duy trì nhiều thập niên qua. ENZ thời gian qua còn thúc đẩy các trường ĐH và học viện "rộng cửa" tuyển du học sinh Việt thông qua điều chỉnh chính sách tuyển sinh và học bổng, đồng thời đưa nhiều đoàn giáo dục tới làm việc tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, New Zealand vài năm trở lại đây cũng ban hành các chính sách mở rộng quyền làm việc cho du học sinh, mới đây nhất là với nhóm sinh viên nghề.
Cũng theo thống kê, người Việt du học New Zealand quan tâm nhiều nhất đến bậc ĐH khi các trường nước này ghi nhận có 1.335 du học sinh Việt vào 2025, tăng liên tục từ 2021 tới nay và lập kỷ lục cao nhất về số lượng trong hơn một thập kỷ qua. Điều này diễn ra sau khi cả 8 ĐH của New Zealand hồi năm 2024 công bố tuyển thẳng học sinh Việt Nam bằng kết quả học bạ thay vì yêu cầu học dự bị như trước.
Xếp sau đó là nhóm trường trung học với 370 người và nhóm cơ sở đào tạo tư thục với 295 người - tất cả đều có xu hướng tăng trong 4 năm trở lại đây, tuy nhiên vẫn còn kém xa mức đỉnh từng được thiết lập ở giai đoạn 2018-2019. Xếp cuối là các học viện công nghệ và kỹ thuật (110 người) với trường dạy tiếng Anh (100) - duy trì đà tăng trưởng khiêm tốn từ sau Covid-19 tới nay.
Tiến sĩ Linda Sissons, quyền Giám đốc điều hành ENZ, thông tin kết quả tăng trưởng chung phản ánh sự tăng trưởng ổn định của toàn ngành giáo dục quốc tế. Khảo sát ra mắt mới đây của ENZ về độ nhận diện và sức khỏe thương hiệu toàn cầu chỉ ra thêm rằng 22% học sinh, sinh viên quốc tế tiềm năng xếp New Zealand vào top 3 điểm đến du học hàng đầu.
"Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, chất lượng đào tạo cao, trải nghiệm học tập tốt và kết quả tốt nghiệp nhiều triển vọng của New Zealand là các yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định lựa chọn của du học sinh", tiến sĩ Sissons lý giải.
Theo trang Study in New Zealand do ENZ vận hành, học phí ĐH ở New Zealand dao động trong khoảng 35.000-55.000 NZD/năm (542-852 triệu đồng) ở bậc cử nhân, 20.000-45.000 NZD/năm (309-697 triệu đồng) ở bậc sau ĐH. Tuy nhiên nếu học tiến sĩ, sinh viên quốc tế chỉ cần đóng phí bằng sinh viên bản địa ở mức 6.500-7.500 NZD/năm (100-116 triệu đồng).
Về sinh hoạt phí, mức chi sẽ tùy thuộc vào khu vực. Với Auckland hay Wellington, hai nơi thu hút đông du học sinh Việt nhất, nhì với lần lượt 920, 355 người vào 2025, sinh hoạt phí rơi vào khoảng 20.000-27.000 NZD/năm (309-417 triệu đồng). Còn ở Otago, nơi có ít sinh viên quốc tế hơn, mức này sẽ dao động từ 18.000-21.000 NZD/năm (278-325 triệu đồng).
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Trường đại học 'đạt chuẩn có điều kiện' phải cải thiện chất lượng trong 24 tháng

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông tư mới được ban hành nhằm đổi mới căn bản công tác kiểm định chất lượng, chuyển từ cách tiếp cận "đạt chuẩn" sang "cải tiến chất lượng liên tục", tiệm cận các chuẩn mực khu vực và quốc tế, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Thông tư mới đã rút gọn bộ tiêu chuẩn đánh giá từ 25 tiêu chuẩn, 111 tiêu chí xuống còn 15 tiêu chuẩn và 60 tiêu chí, được cấu trúc theo ba nhóm chính gồm: chiến lược, hệ thống và kết quả.
Thay đổi này nhằm giảm trùng lập, tập trung vào các yêu cầu cốt lõi và phản ánh đầy đủ chu trình quản trị chất lượng của cơ sở giáo dục đại học.
Bên cạnh đó, phương thức đánh giá cũng được đổi mới theo hướng thực chất, dựa trên vận hành và hiệu quả của hệ thống bảo đảm chất lượng, thay vì chỉ dừng lại ở việc kiểm tra sự tuân thủ hồ sơ.
Thông tư xác lập rõ việc chuyển từ kiểm định dựa trên "tuân thủ quy định" sang "cải tiến chất lượng liên tục".
Theo đó, chất lượng được đánh giá không chỉ ở mức đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu, mà còn ở mức độ cơ sở giáo dục đạt được mục tiêu do chính mình xác lập.
Đáng chú ý, thông tư quy định ba mức đánh giá gồm: đạt, đạt có điều kiện và không đạt.
Cơ sở giáo dục đại học được đánh giá là đạt có điều kiện khi có không quá 4 tiêu chuẩn không đạt. Trong trường hợp này, cơ sở giáo dục đại học phải xây dựng và triển khai kế hoạch cải tiến chất lượng, bảo đảm hoàn thiện các nội dung không đạt trong thời gian không quá 24 tháng kể từ ngày được công nhận đạt có điều kiện, để đáp ứng điều kiện được công nhận đạt theo quy định.
Quy định mới cũng đã tăng cường yêu cầu công khai, minh bạch: các cơ sở giáo dục phải công bố báo cáo tự đánh giá và báo cáo đánh giá ngoài, nâng cao trách nhiệm giải trình trước xã hội.
Công tác hậu kiểm và cơ chế thu hồi giấy chứng nhận kiểm định cũng được bổ sung nhằm bảo đảm chất lượng được duy trì thực chất.
Theo thông tư, chu kỳ kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học là 5 năm, đồng thời quy định rõ quy trình tự đánh giá, đánh giá ngoài và công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Giáo Dục
Xác định số lượng tuyển sinh theo quy định mới, trường ĐH chuẩn bị ra sao?

Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư 34 quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh CĐ ngành giáo dục mầm non, thay thế thông tư năm 2022 (áp dụng khóa tuyển sinh 2027), với những điểm mới được cho là tác động đáng kể tới chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên (GV) của các trường ĐH.
Theo thông tư này, để xác định số lượng tuyển sinh, GV phải ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tối thiểu 3 năm. Điều đó có nghĩa năm 2025 hay 2026 một trường ĐH tuyển được 50 tiến sĩ, 15 thạc sĩ thì số lượng GV mới này không được tính để xác định chỉ tiêu. Quy định mới cũng đưa ra số lượng người học quy đổi trên GV quy đổi không theo nhóm ngành như trước (ví dụ kỹ thuật là 20 sinh viên (SV)/GV, kinh tế 25 SV/GV) mà tính chung là 40 SV/GV cho tất cả nhóm ngành.
Đặc biệt, hệ số quy đổi của GV có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS), trình độ tiến sĩ đều bằng 1 trong khi quy định cũ là GS = 5, PGS = 3 và tiến sĩ = 2. Bên cạnh đó thạc sĩ trước đây có hệ số 1 thì giờ giảm còn 0,75.
Tất cả những con số trên mới chỉ thể hiện năng lực đào tạo. Còn số lượng tuyển sinh được tính theo công thức: năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến trong năm.
Những điểm nói trên đã tác động trực tiếp tới việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Theo tính toán của một lãnh đạo trường ĐH tại TP.HCM, nếu theo cách tính mới này, chỉ tiêu tuyển sinh các trường có thể sẽ giảm từ 10 - 30%.
Lấy ví dụ, một trường ĐH đào tạo khối ngành kinh tế (có tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 25 SV/GV) có 5 GS, 10 PGS, 100 tiến sĩ và 80 thạc sĩ. Nếu tính theo cách cũ, thì 5 GS được xác định 5 x 5 x 25 = 650 chỉ tiêu, 10 PGS được tuyển 10 x 3 x 25 = 750 chỉ tiêu, 150 tiến sĩ sẽ được tuyển 100 x 2 x 25 = 5.000 chỉ tiêu, 100 thạc sĩ được tuyển 100 x 25 = 2.500 chỉ tiêu. Tổng chỉ tiêu là 8.900.
Nếu tính theo cách mới (tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 40 SV/GV), năng lực đào tạo của GS là 5 x 40 = 200 chỉ tiêu, PGS là 10 x 40 = 400 chỉ tiêu, tiến sĩ là 100 x 40 = 4.000; thạc sĩ là 100 x 0,75 x 40 = 3.000. Tổng năng lực đào tạo lúc này là 7.600, tính ra đã giảm tới 1.300. Chưa kể khi tính theo công thức mới, chỉ tiêu = năng lực đào tạo - quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến, thì số lượng có thể còn giảm thêm.
Tiến sĩ Trần Hữu Duy, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, cho biết: "Thông tư này nhằm siết quy mô đào tạo ĐH để nâng cao chất lượng và tăng quy mô đào tạo sau ĐH (tối thiểu 15% tổng chỉ tiêu). Một trường mà có nhiều GS, PGS, tiến sĩ thì tỷ lệ chỉ tiêu sẽ giảm khá nhiều so với cách tính cũ".
Theo tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, việc xác định số lượng tuyển sinh của nhiều trường sẽ bị thu hẹp hoặc phải tính lại theo hướng thực chất hơn và ít phụ thuộc hơn vào hệ số ưu thế của một số học hàm, học vị cao.
"Trước đây, chỉ cần có một số lượng GS, PGS hoặc tiến sĩ thì tổng số GV quy đổi tăng lên rất mạnh, từ đó kéo theo năng lực đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh tăng tương ứng. Nay khi GS, PGS, tiến sĩ cùng được tính ở mức 1, khoảng chênh lệch đó gần như bị triệt tiêu. Vì vậy, những trường trước đây dựa khá nhiều vào hệ số cao của một đội ngũ GV có học hàm, học vị để xác định chỉ tiêu thì nay sẽ không còn lợi thế như trước. Trong khi những trường có đội ngũ ổn định nhưng không nhiều GS, PGS lại ít bị chênh lệch hơn trước", tiến sĩ Tuấn nhìn nhận.
Nhưng chính vì thế mặt bằng chỉ tiêu giữa các trường sẽ có xu hướng được kéo lại gần nhau hơn. Không còn chuyện cùng một số lượng GV, nhưng chỉ cần cơ cấu học hàm, học vị khác nhau là kết quả chỉ tiêu có thể chênh lệch rất lớn. Với mức quy đổi này kết quả xác định chỉ tiêu sẽ phản ánh sát hơn quy mô đội ngũ thực tế.
Theo tiến sĩ Trần Hữu Duy, cho đến thời điểm hiện tại, quy định GV phải tối thiểu có trình độ thạc sĩ, nên cho dù hệ số quy đổi có giảm thì vai trò của GV có trình độ thạc sĩ là không thay đổi. Tuy nhiên, qua đây cũng có thể thấy quan điểm của Bộ GD-ĐT rất rõ ràng, tiến tới hạn chế GV có trình độ thạc sĩ. Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các trường là phải khẩn trương có kế hoạch đào tạo nâng trình độ của GV, nếu không về lâu dài khi Bộ nâng chuẩn GV lên trình độ tiến sĩ thì sẽ rất khó khăn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng cho rằng quy định mới không hề làm giảm vai trò chính thức của GV trình độ thạc sĩ. Họ vẫn là lực lượng trực tiếp giảng dạy và đóng vai trò quan trọng trong vận hành chương trình đào tạo.
"Ở góc độ quy đổi chỉ tiêu, trọng số của đội ngũ thạc sĩ giảm ảnh hưởng tới những trường vốn dựa nhiều vào thạc sĩ. Nhưng về mặt vận hành, khi hệ số quy đổi thấp hơn, đóng góp của GV thạc sĩ vào năng lực tuyển sinh sẽ giảm so với trước. Điều này có thể dẫn đến việc họ được phân công nhiều hơn ở các học phần cơ bản hoặc đóng vai trò hỗ trợ trong nghiên cứu. Dù vậy, trong các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao, vai trò của GV thạc sĩ, đặc biệt là những người có kinh nghiệm thực tiễn, vẫn không thể thay thế. Vì vậy, vấn đề không phải là giảm vai trò mà là tái định vị vai trò cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn khẳng định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, nhận định: "Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ trương được thể hiện thông qua các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, quy định về xác định số lượng người học... theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đặc biệt là tăng tỷ lệ tiến sĩ. Tuy nhiên, cần có lộ trình phù hợp và phân loại rõ các mô hình ĐH. Nếu áp dụng cứng nhắc có thể dẫn đến giảm chỉ tiêu đào tạo và thiếu hụt nguồn nhân lực cho thị trường lao động".
Để thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ GV trình độ cao, trong 3 năm trở lại đây và thời gian tới, Trường ĐH Công thương TP.HCM không tuyển thạc sĩ, chỉ tuyển tiến sĩ trở lên với chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn đánh giá nguồn GV trình độ tiến sĩ ở VN vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành mới hoặc liên ngành, hoặc có những ngành chưa đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Khi tiêu chuẩn được nâng lên đồng loạt, các trường sẽ cạnh tranh rất mạnh để thu hút nhân sự, mà số lượng tiến sĩ trong thời gian tới không thể tăng nhanh như trước đây nên dẫn đến chi phí tăng cao và không phải trường nào cũng có lợi thế như nhau.
"Nếu không có sự linh hoạt trong triển khai và lộ trình hợp lý thì các quy định này có thể làm giảm tính năng động và dẫn đến những hệ lụy không mong muốn như méo mó cơ cấu ngành đào tạo, đặc biệt là gia tăng chi phí học tập. Vì vậy, cần có cơ chế điều chỉnh phù hợp theo từng nhóm ngành, từng loại hình cơ sở đào tạo, thì khi đó mục tiêu nâng cao chất lượng mới có thể đạt được mà không làm triệt tiêu động lực phát triển của hệ thống", tiến sĩ Tuấn đề xuất.
"Nước ta hướng tới mục tiêu đó là tốt; tuy nhiên tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ của nước ta hiện nay rất thấp. Do đó Bộ cần phải có lộ trình phù hợp cho các trường để nâng chuẩn trình độ GV, thực hiện ngay sẽ rất phi thực tế. Lộ trình này có thể 5 - 7 năm là phù hợp; hoặc đến năm 2035 là hợp lý nhất", tiến sĩ Trần Hữu Duy nhìn nhận.
Tin Gốc: Thanh Niên

