Sáng 24/4, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế, với hơn 93% đại biểu có mặt tán thành.
Theo đó, ưu đãi thuế với ôtô điện dưới 24 chỗ tiếp tục thêm 3 năm nữa. Trong đó, thuế tiêu thụ đặc biệt với xe điện dưới 9 chỗ duy trì ở mức 3% tới hết 2030.
Từ năm 2031, thuế này với các loại xe điện dự kiến tăng gấp 3,5-4 lần. Cụ thể:
Trước đó, đa số ý kiến trong Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng việc gia hạn ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt với xe điện dưới 24 chỗ là cần thiết, góp phần chuyển đổi xanh, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ cân nhắc thời gian kéo dài chính sách để đảm bảo các mục tiêu, hài hòa lợi ích.
Tại báo cáo tiếp thu và chỉnh lý trước khi Quốc hội bấm nút thông qua luật, Chính phủ cho biết việc kéo dài chính sách đến hết năm 2030 giúp người dân chuyển đổi phương tiện.
Với doanh nghiệp, việc kéo dài ưu đãi thuế giúp họ chủ động xây dựng kế hoạch đầu tư trung và dài hạn với dây chuyền sản xuất, phát triển sản phẩm, hạ tầng trạm sạc và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.
Theo Chính phủ, Trung Quốc là quốc gia phát triển ngành công nghiệp xe điện mạnh nhất. Nước này đã hỗ trợ 903 tỷ USD cho ngành xe điện trong 3 năm để ưu đãi đầu tư trạm sạc, hỗ trợ người mua, giảm thủ tục hành chính.
Tương tự, Mỹ cũng hỗ trợ 5.000 USD một xe điện, tương tự với EU. Tuy nhiên, Việt Nam đến nay vẫn chưa có cơ chế hỗ trợ xe điện toàn diện.
Ngoài ra, nhà điều hành cho rằng việc tiếp tục gia hạn ưu đãi thuế có thể giúp Việt Nam giảm chi phí tuân thủ các cam kết quốc tế đã tham gia, nhất là liên quan đến phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.
Theo báo cáo Electric Vehicle Outlook 2025 của BloombergNEF, lượng ôtô điện bán ra ở Việt Nam tăng hơn 10 lần, từ dưới 10.000 chiếc năm 2022 lên hơn 100.000 vào năm ngoái. Tốc độ này giúp thị trường xe điện Việt Nam bắt kịp Thái Lan cùng khả năng vượt nhiều nền kinh tế đang phát triển khác.
Tin Gốc: Vnexpress

Quý I, Việt Nam xuất khẩu khoảng 590.500 tấn cà phê, thu về 2,75 tỷ USD, tăng 12,5% về lượng nhưng giảm 7,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
Nguyên nhân giá xuất khẩu bình quân mặt hàng này khoảng 4.657 USD một tấn, giảm 17,6%. Trên thị trường nội địa, giá cà phê Robusta tuần qua cũng xuống quanh 85.000-86.000 đồng một kg, thấp hơn khoảng 35% so với cùng kỳ năm ngoái, mức thấp nhất 3 năm qua.
Diễn biến tương tự xảy ra với gạo khi xuất khẩu 3 tháng đầu năm đạt khoảng 2,3 triệu tấn, tương đương 1,11 tỷ USD, gần như đi ngang về lượng nhưng giảm 7,8% về giá trị. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 480 USD một tấn, giảm 8%, trong đó đã bao gồm các dòng gạo thơm và chất lượng cao. Trong khi đó, giá giao dịch phổ biến của gạo 5% tấm còn quanh 360-365 USD một tấn, cho thấy mặt bằng giá thực tế vẫn ở mức thấp.
Đằng sau xu hướng này là áp lực dư cung ngày càng rõ rệt trên thị trường toàn cầu. Với cà phê, sản lượng năm 2026 được dự báo vượt nhu cầu khoảng 10 triệu bao khi các quốc gia sản xuất lớn đồng loạt được mùa. Brazil - nước xuất khẩu lớn nhất thế giới - chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch từ giữa năm với sản lượng dự kiến tăng mạnh, trong khi tồn kho trên các sàn quốc tế đang đi lên, khiến các nhà rang xay hạn chế mua vào.
Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), cho rằng thị trường đang phản ứng trước kỳ vọng nguồn cung tăng nhanh, trong khi nhu cầu chưa có dấu hiệu cải thiện tương ứng. Bên cạnh đó, các yếu tố tài chính và địa chính trị cũng khiến giá biến động mạnh hơn, khi dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường sau giai đoạn tăng nóng.
Áp lực giá không chỉ đến từ cung - cầu mà còn lan sang hoạt động thương mại. Chi phí vận chuyển và đầu vào vẫn ở mức cao khiến doanh nghiệp thận trọng hơn trong giao dịch. Một số đơn vị cho biết cước vận chuyển sang châu Âu tăng gấp đôi, buộc họ phải xuất khẩu cầm chừng, kéo theo nhu cầu thu mua trong nước suy yếu.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá gạo giảm chủ yếu do cung toàn cầu tăng mạnh trong khi nhu cầu chững lại. Việc nhiều quốc gia sản xuất lớn được mùa, cùng với một số nước dỡ bỏ hạn chế xuất khẩu, khiến thị trường rơi vào trạng thái dư cung và cạnh tranh ngày càng gay gắt. Bên cạnh đó, các thị trường nhập khẩu lớn tại châu Á có xu hướng giảm mua hoặc giãn tiến độ nhập khẩu, tạo thêm áp lực lên mặt bằng giá.
Dữ liệu từ Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), niên vụ 2025-2026, thị trường gạo toàn cầu tiếp tục ở trạng thái nguồn cung dồi dào khi sản lượng duy trì ở mức cao tại các nước sản xuất lớn. Điều này khiến cạnh tranh xuất khẩu gia tăng và gây áp lực lên giá.
Ở góc độ rộng hơn, các tổ chức quốc tế cũng cho thấy xu hướng tương tự. Dự báo của FAO cho thấy sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2025-2026 có thể đạt khoảng 563,4 triệu tấn, tăng 2,1% và lập kỷ lục mới.
Thực tế, một số thị trường như Trung Quốc tăng mua, nhưng mức tăng chưa đủ bù đắp cho xu hướng giá chung đi xuống. Philippines vẫn là khách hàng lớn nhất, chiếm hơn một nửa thị phần, tuy nhiên mức giá nhập khẩu không còn cao như trước.
Trong ngắn hạn, triển vọng của hai mặt hàng gạo và cà phê vẫn phụ thuộc lớn vào diễn biến cung - cầu toàn cầu. Với gạo, mặt bằng giá nhiều khả năng duy trì ở mức thấp nếu nguồn cung tiếp tục dồi dào. Trong khi đó, với cà phê, nguồn cung từ Brazil và Indonesia dự kiến tiếp tục gây áp lực trong quý II, còn nhu cầu tại EU và Mỹ phục hồi chậm. Yếu tố thời tiết, đặc biệt nguy cơ El Nino quay trở lại, có thể trở thành biến số lớn nhưng tác động rõ nét hơn từ cuối năm.
Khi giá xuất khẩu bình quân của cả cà phê và gạo cùng đi xuống, tăng trưởng kim ngạch thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào sản lượng, khiến dư địa cải thiện giá trị xuất khẩu trở nên hạn chế, theo các chuyên gia.
Tin Gốc: Vnexpress

Tại tọa đàm Giải pháp nào kích cầu hàng không - du lịch, sáng 15/5, ông Đinh Văn Tuấn, Phó tổng giám đốc Vietnam Airlines, Chủ tịch HĐQT Pacific Airlines, cho biết ngành hàng không gặp nhiều khó khăn do biến động giá nhiên liệu bay vì xung đột Trung Đông.
Theo ông, giá nhiên liệu bay có lúc tăng gấp đôi, thậm chí gấp ba, tác động lớn đến chi phí hoạt động. Việc này khiến đẩy nhiều hãng hàng không trên thế giới đến bờ vực phá sản.
Trong bối cảnh này, hãng buộc phải kiểm soát chi phí để tránh tác động đến giá vé, đẩy áp lực sang hành khách. Ông Tuấn nói thêm, nhiều biện pháp từng áp dụng trong giai đoạn Covid-19 đã được Vietnam Airlines khôi phục trong giai đoạn này, như cắt giảm dự án đầu tư, chi phí vận hành, cho nghỉ luân phiên, không lương và điều chỉnh quỹ lương lãnh đạo. Cụ thể, mức lương của chủ tịch giảm một nửa, các phó tổng giám đốc hạ 40%, còn lãnh đạo cấp ban là 30%.
Trong khâu khai thác, tận dụng lúc lưu lượng bay trên bầu trời giảm do xung đột, hãng xin bay tắt nhằm rút ngắn thời gian. Đồng thời, Vietnam Airlines áp dụng phương thức hạ cánh tối ưu tại các sân bay lớn và linh hoạt nạp nhiên liệu giá rẻ ở một số quốc gia lân cận, thay vì các nước đang có giá dầu cao.
Ngoài áp lực giá nhiên liệu tăng, các hãng cũng gặp thách thức khi nhiều chi phí như thuê tàu bay, bảo dưỡng, phụ tùng... đều bị "đội" lên. Trong bối cảnh nguồn cung tàu bay trên thị trường quốc tế khan hiếm, một số hãng buộc phải điều chỉnh quy mô đội bay để duy trì vận hành.
Ông Dương Hoàng Phúc, Giám đốc Ban Thương mại Vietravel Airlines, cho biết thay vì chạy đua giá rẻ, hãng chọn chiến lược tập trung tối ưu mạng bay, lịch bay và đa dạng nguồn thu. Ngoài doanh thu vé, hãng mở rộng dịch vụ bổ trợ, kết nối sâu hơn với hệ sinh thái du lịch để tạo các gói sản phẩm tích hợp.
"Yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh hiện nay không nằm ở giá vé, mà là khả năng tối ưu vận hành, kiểm soát chi phí, tạo ra sản phẩm khác biệt và niềm tin dài hạn với khách hàng", ông Phúc nói.
Để giảm bớt áp lực chi phí cho các hãng hàng không, Chính phủ đã giảm thuế nhập khẩu nhiên liệu bay về 0% đến hết tháng 6. Tuy vậy, ông Bùi Minh Đăng, Trưởng phòng Vận tải hàng không, Cục Hàng không Việt Nam, nhìn nhận giải pháp này chưa đủ để doanh nghiệp đạt điểm hòa vốn.
Ông cho biết một số phương án đang được cơ quan quản lý nghiên cứu như kéo dài chính sách thuế ưu đãi, hỗ trợ tín dụng cho hãng hàng không và đơn vị cung ứng nhiên liệu, cũng như xem xét cơ chế phụ thu nhiên liệu với một số đường bay.
Theo số liệu của Cục Hàng không Việt Nam, trong quý I, thị trường vận chuyển hàng không đạt hơn 24,1 triệu lượt khách, tăng hơn 16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách nội địa hơn 10,2 triệu lượt, khách quốc tế gần 14 triệu lượt.
Tin Gốc: Vnexpress

Hôm 28/4, thị trường thế giới bất ngờ trước thông báo của Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) về việc sẽ rời Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) từ ngày 1/5.
Bộ trưởng Năng lượng Suhail Al Mazrouei cho biết quyết định đưa ra sau quá trình rà soát toàn diện chính sách sản xuất cũng như năng lực hiện tại và tương lai của đất nước, giúp UAE linh hoạt hơn trong ứng phó với biến động thị trường.
Các nguồn tin và giới phân tích cho biết, quyết định của UAE đã được cân nhắc trong thời gian dài, sau nhiều khác biệt về đường hướng của OPEC và quan hệ kinh tế, chính trị với các nước thành viên trong liên minh này.
Ông William F. Wechsler, Giám đốc cấp cao phụ trách các chương trình Trung Đông tại Atlantic Council (Wasington DC, Mỹ) kể lại hôm 28/4, một quan chức cấp cao Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) đã bình luận với ông về động thái rằng: "Đó là điều được chờ đợi từ lâu".
Chuyên gia cho biết ý định rời OPEC đã được thảo luận kín nhiều năm, cả trong nội bộ UAE cũng như giữa các quan chức UAE và Mỹ. Ông William từng là Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách các hoạt động đặc biệt và chống khủng bố.
"Từ góc nhìn của Abu Dhabi, lợi ích quốc gia của họ đã khác biệt và có khả năng ngày càng xung đột với các thành viên khác của OPEC và OPEC+, trong đó đáng chú ý có Nga", ông bình luận.
Ông Kristian Coates Ulrichsen, nghiên cứu viên về Trung Đông tại Viện Baker, Đại học Rice (Texas, Mỹ) nhận định UAE đã phát tín hiệu về khả năng rời OPEC ít nhất 5 năm trước, khi bày tỏ quan điểm khác biệt Arab Saudi về cách điều hành chính sách dầu mỏ trước thềm hội nghị OPEC+ vào tháng 11/2020.
Rạn nứt trở nên rõ ràng tại cuộc họp của OPEC+ vào tháng 7/2021. Trong cả hai dịp, UAE muốn tăng sản lượng dầu - vốn đã bị OPEC cắt giảm mạnh trong đại dịch, nhưng Arab Saudi lại muốn giữ sản lượng thấp để neo giá cao.
Theo chuyên gia, một phần nguyên nhân nằm ở hoàn cảnh kinh tế khác nhau của hai nước. Arab Saudi phụ thuộc vào giá dầu cao để tạo nguồn thu ngân sách lớn phục vụ các dự án hạ tầng khổng lồ như chương trình Vision 2030. Trong khi, nền kinh tế UAE đa dạng hơn và ít phụ thuộc trực tiếp vào doanh thu dầu mỏ.
"Ở góc độ kinh tế, tăng trưởng của các quỹ đầu tư nhà nước UAE trong những năm gần đây phụ thuộc vào diễn biến kinh tế toàn cầu nhiều hơn là với giá dầu", ông William F. Wechsler, nêu ví dụ. Do đó, một số thành viên OPEC ưu tiên giá dầu cao còn UAE quan tâm nhiều hơn đến các rủi ro đối với kinh tế toàn cầu, vốn là yếu tố ảnh hưởng lợi nhuận đầu tư của họ.
Về dài hạn, UAE muốn khai thác tối đa trữ lượng dầu mỏ trước khi nhu cầu đạt đỉnh và bắt đầu suy giảm do quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Những năm gần đây, Abu Dhabi tung ra gói đầu tư đến 150 tỷ USD, bao gồm mục tiêu mở rộng công suất sản xuất dầu từ mức 3,4 triệu thùng lên 5 triệu thùng mỗi ngày vào năm 2027 và có thể cao hơn sau đó.
"Điều này phản ánh mong muốn khai thác tối đa trữ lượng và đưa dầu ra thị trường, tránh nguy cơ tài sản bị 'mắc kẹt' nếu nhu cầu toàn cầu giảm trong quá trình chuyển dịch khỏi nhiên liệu hóa thạch", ông Kristian Coates Ulrichsen, nêu.
Nếu vẫn ở trong OPEC, UAE không thể tùy ý sản xuất thêm. Họ đang bị áp hạn hạch 3,2 triệu thùng mỗi ngày. "Trong nhiều năm, Abu Dhabi đã tìm cách thu lợi từ khoản đầu tư vào việc mở rộng năng lực sản xuất", Helima Croft, chuyên gia tại RBC Capital Markets, cho biết.
Theo ông Jorge Leon, Trưởng bộ phận phân tích địa chính trị của Rystad Energy, khi nhu cầu dầu đang tiến gần đến đỉnh, bài toán của các nhà sản xuất đang thay đổi rất nhanh. "Và việc chờ đến lượt trong một hệ thống hạn ngạch giống như bỏ lỡ cơ hội kiếm tiền", ông nói.
Ngoài ra, độc lập chính sách có thể mang lại lợi ích gián tiếp cho quan hệ với các đối tác quan trọng của UAE như Trung Quốc, ngay cả khi có nguy cơ làm giảm giá dầu toàn cầu ở mức độ nào đó. "Với nhu cầu kinh tế ngắn hạn, triển vọng tối đa hóa doanh thu năng lượng của UAE rõ ràng rất hấp dẫn", ông William nói.
Ngoài động lực kinh tế, quan hệ địa chính trị ở Vùng Vịnh cũng khiến UAE không còn mặn mà với OPEC. Dù vẫn đầu tư lớn vào nhau, khác biệt giữa UAE và nhà lãnh đạo OPEC là Arab Saudi ngày càng lớn.
Hai quốc gia từng hợp tác chống lại lực lượng phiến quân Houthi ở Yemen năm 2015. Nhưng liên minh đã rạn nứt và chuyển sang đổ lỗi nhau vào cuối tháng 12/2025, khi Arab Saudi ném bom một lô hàng mà họ cho là vũ khí vận chuyển tới Hội đồng Chuyển tiếp Miền Nam tại Yemen (STC) do UAE hậu thuẫn. Sự việc dẫn đến tranh cãi công khai, lan sang cả các chính sách khác biệt về Sudan.
Rạn nứt vẫn chưa được giải quyết thì xung đột Trung Đông nổ ra. Lần này, Iran nhắm mục tiêu vào UAE nhiều hơn bất kỳ nước nào khác, kể cả Israel. Abu Dhabi chỉ trích phản ứng "yếu kém" của các đối tác vùng Vịnh. Và việc Iran - thành viên OPEC - chặn các tàu dầu qua eo biển Hormuz và yêu cầu thu phí đã dập tắt những luyến tiếc ở lại OPEC của UAE.
Ông Kristian Coates Ulrichsen đánh giá các phát biểu của những nhân vật có ảnh hưởng tại UAE cho thấy giới chức nước này theo dõi sát sao quốc gia nào đã hỗ trợ họ trong thời điểm khủng hoảng và quốc gia nào thì không.
"Quyết định rời OPEC phản ánh tính toán của Abu Dhabi rằng việc tiếp tục ở lại một tổ chức do Saudi chi phối không còn mang lại lợi ích", ông nói. Thậm chí, chuyên gia này dự báo UAE có khả năng xem xét lại các tư cách thành viên trong Liên đoàn Arab, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo hay cả Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh, khi các nước Trung Đông chuẩn bị cho một bối cảnh hậu chiến đầy bất định.
Ông William F. Wechsler dự báo UAE có khả năng sẽ củng cố hơn nữa mối quan hệ với Mỹ sau thời điểm 1/5. Nhưng trớ trêu, theo thời gian, động thái này cũng có thể củng cố quan hệ Mỹ-Arab Saudi, vì Riyadh sẽ gánh vác trách nhiệm lớn hơn trong việc ổn định giá dầu toàn cầu tại OPEC.
Tin Gốc: Vnexpress

