Đại diện các cơ quan của Bộ Xây dựng cho biết như vậy khi trao đổi với báo chí chiều 13-5, liên quan đến việc Công ty TNHH Tập đoàn Sơn Hải (Công ty Sơn Hải) đề xuất quy định bắt buộc bảo hành công trình tối thiểu 10 năm nhưng không giữ tiền bảo hành.
Theo ông Lê Quyết Tiến – Cục trưởng Cục Kinh tế – Quản lý đầu tư xây dựng (Bộ Xây dựng), pháp luật hiện hành đã quy định rõ thời gian và mức tiền bảo hành tối thiểu. Tuy nhiên Bộ Xây dựng khuyến khích các nhà thầu tự nguyện kéo dài thời gian bảo hành nếu có thỏa thuận với chủ đầu tư.
Theo ông Tiến, các quy định hiện nay được xây dựng dựa trên nghiên cứu thực tế và thông lệ quốc tế. Nếu muốn nâng thời gian bảo hành thành quy định bắt buộc thì cần đánh giá kỹ theo từng loại công trình, mức độ ảnh hưởng tới nhà thầu cũng như trách nhiệm giữa cơ quan quản lý và đơn vị thi công.
Ông Ngô Lâm – Phó cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam – cho biết công tác bảo trì được thực hiện ngay khi công trình đưa vào khai thác và thuộc trách nhiệm của đơn vị quản lý vận hành. Đối với đường bộ, việc bảo trì gồm bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ và sửa chữa đột xuất theo quy định pháp luật.
Nguồn kinh phí bảo trì do đơn vị quản lý đường chi trả. Với dự án đầu tư công, ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí; với dự án BOT, nhà đầu tư sử dụng nguồn tiền được xác lập trong phương án tài chính dự án để thực hiện.
Trong khi đó tiền bảo hành là khoản chủ đầu tư giữ lại hoặc yêu cầu nhà thầu bảo lãnh ngân hàng nhằm khắc phục các hư hỏng do lỗi thi công trong thời gian bảo hành. Khi hết thời hạn mà công trình không phát sinh sự cố, khoản tiền này sẽ được hoàn trả cho nhà thầu, không được sử dụng cho bảo trì.
Ông Lê Quyết Tiến giải thích thêm không thể sử dụng tiền bảo hành cho bảo trì vì hai khoản này có nguyên tắc chi khác nhau. Khi xảy ra thiên tai làm hỏng đường cũng không được dùng tiền bảo hành để khắc phục, mà dùng tiền bảo trì. Trong thời gian bảo hành vẫn dùng kinh phí bảo trì sửa chữa nhỏ mặt đường, hộ lan, vạch sơn… Cho nên nói kéo dài thời gian bảo hành sẽ giảm tiền bảo trì là không chính xác.
Đối với đề xuất kéo dài bảo hành 10 năm nhưng không giữ tiền bảo hành, ông Tiến cho biết các dự án do Công ty Sơn Hải bảo hành 10 năm thời gian qua vẫn phải thực hiện giữ tiền hoặc bảo lãnh bảo hành theo quy định. Khoản tiền này nhằm bảo đảm xử lý kịp thời các sự cố do lỗi nhà thầu. Nếu nhà thầu không đủ khả năng khắc phục, chủ đầu tư có thể sử dụng nguồn tiền đó thuê đơn vị khác sửa chữa.
Trường hợp nhà thầu tự nguyện kéo dài bảo hành, hai bên có thể nghiên cứu thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng về phạm vi và trách nhiệm khắc phục để xem xét giảm hoặc không giữ tiền bảo hành.
Lãnh đạo các ban quản lý dự án thuộc Bộ Xây dựng cho biết dù Công ty Sơn Hải tự nguyện bảo hành một số đoạn cao tốc 10 năm, nhưng chủ đầu tư vẫn phải giữ lại 3% giá trị hợp đồng theo quy định. Nguyên nhân là công trình giao thông sau khoảng 10 năm khai thác thường phải trùng tu, nguy cơ hư hỏng ở giai đoạn cuối càng lớn. Nếu không giữ tiền bảo hành, việc chậm khắc phục sự cố có thể gây ảnh hưởng lớn tới khai thác công trình.
Các đơn vị này cũng cho rằng công trình đường bộ gồm nhiều hạng mục với tuổi thọ khác nhau như bê tông xi măng, bê tông nhựa, sơn kẻ đường hay dải phân cách. Nếu áp dụng cứng quy định bảo hành 10 năm cho toàn bộ công trình thì hồ sơ dự toán phải tách riêng thời hạn bảo hành từng hạng mục, gây phức tạp trong tính toán và đấu thầu. Hiện hồ sơ mời thầu phổ biến quy định bảo hành 2 năm; nếu nâng lên 10 năm có thể khiến ít nhà thầu tham gia, làm giảm tính cạnh tranh.
Đại diện Tổng công ty 319 cũng cho rằng trong một gói thầu có nhiều hạng mục với tuổi thọ khác nhau. Một số hạng mục như dải phân cách chỉ có tuổi thọ khoảng 2 năm, nên nếu phải bảo hành 10 năm sẽ khiến chi phí dự toán đấu thầu tăng mạnh và phức tạp hơn. Ngoài ra, chi phí bảo đảm hoặc bảo lãnh ngân hàng đều do nhà thầu chi trả, nên nhiều doanh nghiệp mong muốn thực hiện theo đúng quy định hiện hành, thay vì kéo dài thời gian bảo hành.
Theo quyết định 52, UBND TP Hà Nội quyết định chính thức cho phép xe ô tô tải pickup (xe bán tải) lưu thông 24/24h, thay vì chỉ được hoạt động trong khung giờ 21h - 6h sáng như trước đây.
Quy định này có hiệu lực ngay từ ngày 30-4-2026.
Bên cạnh xe bán tải, Hà Nội cũng mở rộng thời gian hoạt động cho một số phương tiện phục vụ xử lý sự cố hạ tầng, cứu hộ giao thông, nạo vét cống rãnh, được phép lưu thông 24/24h khi có chấp thuận của Sở Xây dựng.
Trong lĩnh vực vận tải hành khách, xe trung chuyển được hoạt động không giới hạn thời gian nếu có phù hiệu do Sở Xây dựng cấp; xe hợp đồng dưới 29 chỗ cũng được lưu thông 24/24h.
Trong khi đó, xe hợp đồng trên 29 chỗ và xe khách giường nằm chỉ được phép hoạt động ngoài giờ cao điểm. Trường hợp lưu thông trong giờ cao điểm phải được Công an TP Hà Nội chấp thuận.
Quyết định mới cũng cập nhật, mở rộng danh mục các tuyến đường thuộc khu vực hạn chế phương tiện giao thông, bổ sung nhiều trục giao thông quan trọng như Nguyễn Văn Cừ, Ngọc Lâm, Ngô Gia Khảm, Cổ Linh, Đàm Quang Trung, Tam Trinh, Đại lộ Thăng Long cùng nhiều tuyến tại khu vực cửa ngõ và các khu công nghiệp.
Về tổ chức giao thông, xe tải thông dụng dưới 2 tấn chỉ được hoạt động ngoài giờ cao điểm; nếu lưu thông trong giờ cao điểm phải có văn bản chấp thuận của Công an TP.
Đối với các phương tiện chuyên dùng như xe chở xăng dầu, khí, bê tông, xe cẩu, xe vệ sinh môi trường, xe chở bùn hoặc thủy hải sản sống, thời gian hoạt động cơ bản vẫn giới hạn từ 21h đến 6h sáng hôm sau; trường hợp ngoài khung giờ này phải được Sở Xây dựng cho phép.
Riêng các loại xe phục vụ công ích như xe tưới cây, duy tu chiếu sáng, kiểm tra cầu cống được hoạt động ngoài giờ cao điểm; nếu hoạt động trong giờ cao điểm cũng phải có chấp thuận của cơ quan chức năng.
Xe chở rác được phép lưu thông từ 19h30 đến 6h sáng hôm sau.
Hà Nội cũng đơn giản hóa thủ tục cấp phép cho phương tiện hoạt động trong khu vực hạn chế, với thời gian giải quyết hồ sơ tối đa còn 3 ngày làm việc.
Đồng thời, TP điều chỉnh thẩm quyền cấp phép đối với xe quá tải, quá khổ, xe bánh xích và phương tiện vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng, nhằm siết chặt quản lý nhưng vẫn tạo thuận lợi cho hoạt động vận tải.
Theo số liệu từ Hiệp hội Các nhà Sản xuất Ô tô Việt Nam (VAMA), mẫu xe điện này bán được 49 chiếc trong tháng 4, cao nhất kể từ khi ra mắt tại Việt Nam. Đồng thời, kết quả này cũng chấm dứt chuỗi “trắng” doanh số trong 3 tháng đầu năm.
Doanh số tăng chủ yếu nhờ chính sách giảm giá mạnh từ đầu tháng 4. Giá niêm yết của xe được điều chỉnh giảm tới 900 triệu đồng, từ 2,599 tỷ xuống còn 1,699 tỷ đồng.
Dù vậy, mẫu xe này vẫn nằm trong nhóm 10 ô tô có doanh số thấp nhất thị trường Việt Nam trong tháng 4.
Ngoài việc giảm giá, hãng còn áp dụng một số ưu đãi như miễn phí sạc pin trong 5 năm, hỗ trợ nhận và giao xe cho khách có nhu cầu sạc. Người dùng cũng được hỗ trợ cứu hộ và sạc pin khẩn cấp trong thời gian bảo hành.
Bên cạnh đó, việc mở rộng hệ thống trạm sạc cũng góp phần cải thiện khả năng tiếp cận của người dùng xe điện. Ngoài các điểm sạc đặt tại đại lý, khách hàng có thể sạc tại nhà hoặc sử dụng dịch vụ từ bên thứ ba.
Ra mắt Việt Nam từ giữa tháng 8/2025, Ford Mustang Mach-E được xem là sản phẩm kén khách do giá bán cao. Mẫu SUV thuần điện này hướng đến nhóm người dùng cá tính hơn là khách hàng phổ thông. Mức giá niêm yết ban đầu 2,599 tỷ đồng cũng cao hơn một số mẫu SUV hạng E trên thị trường.
Do đó, doanh số của xe thường ở mức thấp, cao nhất từng đạt 13 chiếc/tháng trước khi được điều chỉnh giá. Thậm chí có giai đoạn mẫu xe này không phát sinh doanh số.
Xe sử dụng hai mô-tơ điện đặt trên hai cầu, cho tổng công suất 395 mã lực và mô-men xoắn cực đại 676Nm. Bộ pin lithium-ion dung lượng 88kWh cho phạm vi hoạt động tối đa khoảng 550km sau mỗi lần sạc đầy.
Theo công bố của nhà sản xuất, xe hỗ trợ sạc nhanh DC công suất 150kW, có thể sạc từ 10-80% pin trong khoảng 36 phút. Với sạc AC 11kW, thời gian sạc từ 10-80% pin khoảng 6 giờ.
Đề xuất miễn kiểm định khí thải trực tiếp lần đầu đối với xe máy dưới 5 năm tuổi (tính từ ngày xuất xưởng) mới đây của Bộ Xây dựng, theo tôi xét về tổng thể là hướng đi hợp lý. Là một người sử dụng xe máy hằng ngày, tôi ủng hộ chủ trương này. Bởi rõ ràng câu chuyện ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn hiện nay đã không còn là vấn đề mơ hồ nữa.
Thế nhưng, nếu nhìn kỹ hơn vào cách tiếp cận, cá nhân tôi cho rằng đề xuất hiện tại hợp lý… nhưng chưa thực sự thỏa đáng. Vì sao vậy?
Các lý do nêu ra để miễn kiểm định cho xe dưới 5 năm tuổi là khá rõ ràng. Phần lớn xe mới đều đã được kiểm soát khí thải ngay từ khâu sản xuất, với tiêu chuẩn ngày càng siết chặt. Các khảo sát cũng cho thấy nhóm xe này có tỷ lệ đạt chuẩn khí thải rất cao, ít biến động, nên việc yêu cầu kiểm định ngay có thể gây tốn kém, phiền hà không cần thiết. Trong bối cảnh số lượng xe máy tại Việt Nam lên đến hàng chục triệu chiếc, việc "giãn" đối tượng kiểm định là cách để giảm tải cho hệ thống và giúp chính sách khả thi hơn khi triển khai.
Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, cách tiếp cận này đang dựa quá nhiều vào một tiêu chí duy nhất là "tuổi xe". Trong khi thực tế sử dụng tôi lại thấy, không phải xe nào dưới 5 năm tuổi cũng giống nhau. Có những xe chỉ dùng đi lại cá nhân, mỗi ngày di chuyển vài chục km, được bảo dưỡng định kỳ đầy đủ. Nhưng cũng có không ít trường hợp chủ xe sử dụng chạy dịch vụ, xe công nghệ, xe giao hàng… tần suất hoạt động gần như liên tục từ sáng đến tối, với cường độ rất cao. Như vậy, theo quy luật thông thường, chỉ cần sau 2 - 3 năm, mức độ hao mòn của những xe này có thể tương đương, thậm chí vượt xa nhiều xe đã sử dụng 5 - 7 năm.
Đó là tôi chưa nói đến việc khí thải từ xe không chỉ phụ thuộc vào "tuổi đời", mà còn chịu tác động lớn từ tình trạng động cơ, thói quen vận hành hay việc bảo dưỡng. Một chiếc xe mới nhưng ít được chăm sóc, sử dụng trong điều kiện khắc nghiệt hoàn toàn có thể phát thải vượt chuẩn. Ngược lại, một chiếc xe cũ hơn nhưng được bảo dưỡng, chăm sóc tốt vẫn có thể vận hành ổn định và ít gây ô nhiễm.
Do đó, nếu áp dụng cứng nhắc mốc thời gian 5 năm sau ngày xuất xưởng để cho vào danh sách miễn kiểm định, tôi e rằng chính sách sẽ có nguy cơ bỏ sót một nhóm không nhỏ "xe mới nhưng không sạch". Đây là điều đáng cân nhắc, bởi chúng ta đều thống nhất với nhau rằng mục tiêu của kiểm định khí thải không phải là phân loại theo tuổi xe, mà là nhận diện và kiểm soát những phương tiện gây ô nhiễm thực sự.
Ở góc độ người sử dụng, điều khiến tôi băn khoăn không phải là việc miễn kiểm định, mà là sự thiếu linh hoạt trong cách thiết kế chính sách. Một quy định đơn giản thì dễ triển khai, nhưng nếu quá đơn giản, nó có thể không phản ánh đúng thực tế. Và khi đó, hiệu quả kiểm soát khí thải có thể bị ảnh hưởng.
Theo tôi tìm hiểu, một số quốc gia hiện nay cũng đã áp dụng miễn kiểm định khí thải cho xe máy mới (từ 3 - 5 năm). Nhưng cách làm của họ không đơn thuần dựa vào "tuổi xe", mà còn tính đến đặc thù sử dụng và thực trạng phương tiện. Từ thực tế đó, có lẽ Việt Nam cũng nên cân nhắc một cách tiếp cận "có điều kiện" hơn. Chẳng hạn, vẫn có thể miễn kiểm định lần đầu cho xe dưới 5 năm, nhưng đi kèm một số tiêu chí bổ sung như tần suất sử dụng, mục đích sử dụng (cá nhân hay kinh doanh), hoặc cơ chế kiểm tra ngẫu nhiên trên đường. Những giải pháp này không làm mất đi sự thuận tiện của chính sách, nhưng giúp hạn chế các trường hợp ngoại lệ.
Một điểm khác cũng cần tính đến là ý thức bảo dưỡng của người dùng. Nếu không có cơ chế khuyến khích hoặc ràng buộc việc bảo trì định kỳ, ngay cả xe mới cũng có thể nhanh chóng xuống cấp. Khi đó, việc "miễn kiểm định" vô tình trở thành khoảng trống trong quản lý, thay vì là một bước đi hợp lý để tối ưu nguồn lực.
Tóm lại, theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng đề xuất miễn kiểm định khí thải trực tiếp lần đầu cho xe dưới 5 năm là hợp lý. Nhưng nếu không đi kèm các tiêu chí bổ sung, đề xuất này sẽ không đủ chặt chẽ, thậm chí thiếu công bằng và chính xác trong thực tế.
* Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, một người sống và làm việc tại TP.Hà Nội Đóng góp bài viết, câu hỏi xin gửi về xe@thanhnien.vn hoặc thainguyenthanhnien@gmail.com.