Nghị định 94/2026 về đào tạo và sát hạch lái xe vừa bổ sung, sửa đổi các quy định theo hướng giảm thủ tục, nới điều kiện kinh doanh và thúc đẩy chuyển đổi số. Trong bối cảnh tai nạn giao thông vẫn còn ở mức đáng lo ngại, còn ý thức chấp hành luật của một bộ phận người tham gia giao thông chưa cao, câu chuyện đào tạo và sát hạch lái xe tiếp tục thu hút nhiều ý kiến trái chiều.
Độc giả Comet Small đề xuất tách phần thi lý thuyết thành một chứng chỉ độc lập, cho phép người học chủ động tiếp cận kiến thức và kiểm tra năng lực trước khi bước vào giai đoạn thực hành lái xe:
“Tại sao không đưa phần thi lý thuyết sát hạch lái xe thành một chứng chỉ riêng, người thi có thể linh hoạt tự học, tự thi và được cấp chứng chỉ sau khi đủ điều kiện? Khi nào học viên có chứng chỉ lý thuyết thì mới được học và thi thực hành lái xe. Làm như vậy sẽ giúp giảm chi phí cho học viên khá nhiều. Sau này, chúng ta có thể phổ biến chứng chỉ lý thuyết lái xe này như một môn học bắt buộc trong trường phổ thông để mọi người dân tham gia giao thông đều phải hiểu rõ luật, chứ không phải chỉ người có bằng lái xe”.
>> Kỹ năng lái xe ‘lệch pha’ bằng lái
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi vẫn nhớ ngày ba mẹ quyết định bán căn nhà nhỏ ở quê. Giá lúc đó 1,5 tỷ đồng. Với gia đình tôi, đó là tài sản lớn nhất tích góp cả đời ba mẹ. Ba mẹ nói: "Bán nhà cho hai anh em ăn học, sau này có nghề nghiệp ổn định là được". Ai cũng nói học đại học là con đường đổi đời, là cách chắc chắn nhất để có tương lai tốt hơn.
Hai anh em tôi lên thành phố, học những ngành được cho là "có triển vọng". Những năm đại học trôi qua với học phí, tiền trọ, sinh hoạt... tất cả đều từ số tiền bán nhà đó. Tôi chưa từng nghĩ sâu về chi phí, vì trong đầu luôn mặc định: học xong rồi sẽ kiếm lại được.
Nhưng cuộc sống sau khi ra trường không diễn ra như cách tôi từng hình dung. Tôi đi làm với mức lương khởi điểm 6 triệu, rồi tăng dần lên 8 triệu, 10 triệu một tháng. Sau vài năm, thu nhập có nhích lên, nhưng không đáng kể so với chi phí sống ở thành phố. Tiền thuê nhà, ăn uống, đi lại... mỗi tháng gần như tiêu hết phần lớn thu nhập của tôi. Tiết kiệm được một khoản nhỏ đã là cả một sự cố gắng.
Vừa rồi, tôi về quê cũ, đi ngang qua khu đất ngày xưa là nhà mình, mới biết căn nhà đó giờ đã được bán lại với giá gần 5 tỷ đồng. Nếu ngày đó ba mẹ không bán, tài sản gia đình giờ đã tăng gấp ba lần. Còn hiện tại, sau nhiều năm học đại học và đi làm, thu nhập của tôi vẫn chỉ ở mức đủ sống. Tôi bắt đầu tự hỏi: liệu "khoản đầu tư" năm xưa có thực sự hiệu quả?
Tôi không phủ nhận giá trị của việc học. Đại học cho tôi kiến thức, trải nghiệm, các mối quan hệ. Nhưng nếu nhìn thuần túy dưới góc độ tài chính, bài toán lại không đơn giản. Thu nhập của tôi, sau tất cả thời gian và chi phí bỏ ra, vẫn chưa tạo ra được một giá trị tương đương, chứ chưa nói đến việc "gỡ vốn".
>> 'Đầu tư 1,2 tỷ học đại học nhưng ra trường lương 8 triệu đồng'
Tôi thử làm một phép tính đơn giản. Với mức tiết kiệm lạc quan khoảng 3 triệu mỗi tháng, một năm tôi dành dụm được 36 triệu. Để tích lũy được 1,5 tỷ, tôi cần hơn 40 năm, chưa kể lạm phát hay biến động cuộc sống. Còn khoảng chênh lệch do giá nhà tăng thêm, gần như là một khoảng cách quá xa.
Cảm giác này trong tôi không phải là hối hận, mà là một sự chênh vênh. Chúng ta luôn được dạy rằng học đại học là con đường an toàn. Nhưng ít khi ai đặt câu hỏi: cái giá phải trả là gì, và lợi ích thu về có tương xứng hay không? Đặc biệt trong bối cảnh giá bất động sản tăng nhanh, còn thu nhập của người lao động trẻ lại tăng chậm.
Rất nhiều gia đình sẵn sàng bán tài sản lớn để đầu tư cho con cái học hành, với kỳ vọng "đổi đời". Nhưng thực tế thị trường lao động hiện nay không còn đảm bảo một tấm bằng sẽ mang lại thu nhập cao như trước. Nếu coi việc học là một khoản đầu tư, thì nó cũng cần được cân nhắc như bất kỳ khoản đầu tư nào khác: chi phí, lợi ích, rủi ro, và thời gian hoàn vốn.
Đến giờ, tôi vẫn đang đi làm, vẫn cố gắng tiết kiệm, vẫn tin rằng mình có thể xây dựng lại từ đầu. Nhưng mỗi lần nghĩ đến căn nhà năm xưa, tôi lại tự hỏi: nếu được lựa chọn lại, liệu gia đình tôi có quyết định khác đi không? Tôi không có câu trả lời chắc chắn. Nhưng tôi nghĩ, đó là câu hỏi mà nhiều người nên tự đặt ra trước khi đánh đổi một tài sản lớn cho một kỳ vọng chưa rõ ràng.
Tin Gốc: Vnexpress

Những ngày qua, thông tin một ca sĩ bị phát hiện liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy tại Cát Bà (Hải Phòng) đã khiến mạng xã hội bùng nổ tranh cãi.
Khi đọc những dòng tin ấy, cảm xúc đầu tiên của tôi không phải là hả hê hay tò mò, mà là tiếc nuối. Tiếc cho một nghệ sĩ từng có chỗ đứng trong lòng khán giả trẻ. Tiếc cho một người từng bước ra từ ánh đèn sân khấu, từng được yêu mến bởi hình ảnh năng động, cá tính và gần gũi.
Nhưng trên hết, tôi tiếc cho một thực tế đáng buồn của showbiz Việt: Nhiều nghệ sĩ đã gục ngã trước ma túy, trước cám dỗ và trước sự trống rỗng đằng sau ánh hào quang.
Mỗi lần một nghệ sĩ dính bê bối ma túy, công chúng lại đặt ra câu hỏi quen thuộc: "Tại sao họ có tất cả mà vẫn sa ngã?". Họ nổi tiếng, giàu có, có hàng triệu người theo dõi, có cơ hội mà nhiều người mơ cả đời không có được.
Nhưng có lẽ, chính cái thế giới hào nhoáng ấy lại là nơi dễ khiến con người lạc lối nhất. Nhiều người nghĩ nghệ sĩ là những người sống trong sung sướng. Nhưng ít ai nhìn thấy áp lực vô hình đè lên vai họ mỗi ngày.
Trong showbiz, sự nổi tiếng mong manh như một lớp băng mỏng. Chỉ cần vài tháng không có sản phẩm, vài lần bị khán giả quay lưng, một nghệ sĩ có thể rơi khỏi vị trí đỉnh cao rất nhanh. Họ sống trong sự phán xét liên tục của mạng xã hội, trong áp lực phải giữ hình ảnh hoàn hảo và trong nỗi sợ bị lãng quên.
Nhưng ma túy không bao giờ dừng ở hai chữ "thử cho vui". Điều đáng sợ nhất của ma túy nằm ở cách nó âm thầm phá hủy con người. Nó khiến người ta đánh mất lý trí, mất khả năng kiểm soát và dần lệ thuộc cả tinh thần lẫn thể xác.
Với nghệ sĩ, hậu quả còn nặng nề hơn. Một scandal ma túy có thể xóa sạch nhiều năm xây dựng hình ảnh. Danh tiếng mất đi, hợp đồng biến mất, khán giả quay lưng và sự nghiệp gần như khép lại.
Tôi nghĩ điều khiến dư luận thất vọng không chỉ là hành vi sử dụng ma túy, mà còn bởi nghệ sĩ là những người có sức ảnh hưởng lớn đến giới trẻ. Một ca sĩ nổi tiếng không đơn thuần chỉ hát hay, nhảy đẹp trên sân khấu. Họ trở thành hình mẫu sống của rất nhiều người trẻ tuổi.
.
Điều đó cho thấy đây không còn là câu chuyện cá nhân, mà là vấn đề của cả môi trường giải trí. Có một thực tế mà chúng ta phải thừa nhận rằng phải chăng nhiều người trong showbiz hiện nay quá dễ dãi với lối sống lệch chuẩn. Những buổi tiệc thâu đêm, những mối quan hệ phức tạp, những cuộc vui xa hoa được xem như "một phần của giới nghệ sĩ".
Không ít người trẻ bước chân vào ngành giải trí với tâm lý muốn nổi tiếng nhanh, kiếm tiền nhanh, sống hào nhoáng nhanh. Nhưng họ lại thiếu nền tảng tinh thần đủ vững để giữ mình trước cám dỗ. Mạng xã hội cũng góp phần tạo ra áp lực độc hại ấy. Chúng ta đang sống trong thời đại mà nghệ sĩ bị biến thành "cỗ máy nội dung".
Họ phải liên tục xuất hiện, liên tục gây chú ý, liên tục tạo hình ảnh hoàn hảo. Một nghệ sĩ nếu không đủ bản lĩnh rất dễ rơi vào khủng hoảng tâm lý. Và khi tâm lý mất cân bằng, họ có thể tìm đến những thứ nguy hiểm như ma túy để tìm cảm giác giải thoát tạm thời.
Tuy nhiên, dù áp lực lớn đến đâu thì ma túy vẫn không thể được biện minh. Không ai có quyền dùng áp lực nghề nghiệp để hợp thức hóa hành vi sai trái. Hàng triệu người ngoài kia cũng đang vật lộn với cuộc sống, với thất nghiệp, với bệnh tật, với áp lực cơm áo, nhưng họ vẫn lựa chọn sống đúng pháp luật.
Nghệ sĩ càng nổi tiếng lại càng phải có trách nhiệm với hành vi của mình. Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất sau vụ việc này là sự mong manh của danh tiếng. Một người có thể mất hơn mười năm để xây dựng hình ảnh, nhưng chỉ cần một khoảnh khắc sai lầm, tất cả có thể sụp đổ.
Ánh đèn sân khấu vốn rực rỡ, nhưng cũng lạnh lẽo vô cùng. Nó có thể nâng một người lên rất cao, nhưng cũng có thể khiến họ rơi xuống vực sâu chỉ sau một đêm. Tôi không muốn nhìn câu chuyện này bằng thái độ miệt thị hay hả hê. Bởi đằng sau mỗi scandal là một con người đang trả giá cho lựa chọn của mình.
Điều xã hội cần không chỉ là sự lên án, mà còn là lời cảnh tỉnh cho giới trẻ về sức tàn phá của ma túy. Chúng ta không nên thần tượng nghệ sĩ một cách mù quáng, cũng không nên nghĩ nổi tiếng đồng nghĩa với hạnh phúc.
Sau tất cả, điều đáng buồn nhất không phải là một ca sĩ đánh mất sự nghiệp, mà là việc nhiều người trẻ có thể nhìn vào những vụ việc như thế rồi dần xem ma túy như một phần "bình thường" của cuộc sống giải trí. Nếu xã hội bắt đầu chai lì trước những scandal ma túy của nghệ sĩ, đó mới là điều nguy hiểm nhất.
Câu chuyện hôm nay rồi sẽ qua đi, mạng xã hội rồi sẽ có một scandal khác để bàn tán. Nhưng dư âm của nó vẫn ở lại như một lời nhắc nhở rằng tài năng có thể đưa con người lên sân khấu, nhưng chỉ nhân cách và sự tỉnh táo mới giúp họ đứng vững lâu dài giữa ánh hào quang đầy cám dỗ ấy.
Tin Gốc: Vnexpress

"Tôi là một giáo viên dạy Toán nhiều năm, thừa nhận rằng bản thân cũng ngán ngẩm, thấy 'lú' khi đọc đề thi môn Toán THPT bây giờ. Những bài toán phần nhiều mang vỏ bọc cồng kềnh, cố diễn tả nội dung 'có vẻ thực tế', nhưng thật ra là chuỗi lắp ráp cơ học, gượng ép và thường là những tình huống ít có tính ứng dụng. Điều này làm học sinh thấy lạ lẫm, rối rắm, chán nản và cản trở khả năng tư duy Toán học thực thụ.
Không ít học sinh sẽ bị mất hứng thú học Toán. Những kiến thức Toán học sơ cấp nên được dạy với mục đích chính là rèn luyện khả năng suy luận, tư duy logic, tính toán, hơn là bắt nó gánh vác trọng trách nặng nề là giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện tại. Bởi từ Toán học đến ứng dụng trong cuộc sống theo tôi là một chặng đường rất dài (Toán học có ngành Toán ứng dụng nhưng cũng không dành cho số đông).
Tôi là một người gắn bó với Toán đủ lâu và từng trải cuộc sống (tôi nghĩ đa phần giáo viên dạy Toán đều vậy) nhận thấy đề thi, bài tập bây giờ dài dòng để cố nạp gia vị thực tế nhưng không có nhiều tính ứng dụng, nên đọc sẽ thấy gượng ép, khiên cưỡng. Chúng ta nên coi ứng dụng thực tế chỉ là một phần vừa phải trong chương trình Toán THPT và ứng dụng phải có chừng mực, kiểm soát. Nếu để những bài Toán được tự biên, dễ dãi đến với học sinh, nó sẽ phá hủy say mê học Toán của các em".
Đó là lo lắng của độc giả Ngọc Thành Thân về chất lượng của những bài tập Toán gắn yếu tố thực tế. Nhiều năm qua, các chuyên gia nhìn nhận chương trình Toán ở phổ thông còn bất cập vì thiếu liên kết với đời sống. Dù vậy, dạy Toán gắn với thực tế lại khiến nhiều em áp lực, nhanh quên sau khi rời trường học, với hai lý do chính: một là những bài Toán chỉ "khoác một vỏ bọc thực tế", thay vì thực sự có ý nghĩa ứng dụng; hai là áp lực thi cử khi hệ thống giáo dục hiện vẫn phụ thuộc lớn vào các kỳ thi để phân loại học sinh, từ chuyển cấp tới xét tuyển đại học, khiến giáo viên và học sinh buộc phải chạy theo đề thi.
>> 'Bài thi tích hợp vào lớp 10 tốt hơn bắt học sinh đánh vật Toán, Văn'
Nói về lý do khiến việc dạy và học Toán thực tế còn nhiều bất cập, bạn đọc Hố Đen cho rằng: "Một phần lỗi ra do giáo viên ra đề không cung cấp đầy đủ hoặc sử dụng tùy tiện các khái niệm. Bài toán thực tế là tốt nhưng nó phải mang tính tổng quát, ngôn ngữ đại chúng và thậm trí có hình ảnh mô tả rõ ràng. Tôi từng nhiều lần được học sinh gửi cho những bài Toán thực tế của thầy cô khác, nhờ giải hộ, và chính tôi cũng lúng túng vì ngôn ngữ sử dụng trong đề. Nó không chuẩn xác, có thể hiểu theo nghĩa khác dẫn đến việc hiểu sai bài toán.
Tôi dạy online nên học sinh của tôi từ nhiều vùng miền nên tôi hiểu rõ việc ngôn từ ảnh hưởng trong việc ra đề. Ngay như việc lấy một ngôn từ trong môn Vật lý áp sang môn Toán cũng dễ lệch. Các thầy cô dạy Toán lấy sang không đúng thời điểm và cũng không giải thích về các khái niệm liên quan thì học sinh không hiểu được là lẽ dĩ nhiên.
Cái dở là môn Toán lại cố đi áp thực tế trong khi đúng ra nên ghép chung với Lý và Hóa. Đề thực tế trong môn Toán phần nhiều được xây dựng trên sự tưởng tượng của giáo viên nên bản thân nó đã phi thực tế. Một bài toán thực tế nó phải xuất phát từ thực tế thật, cung cấp vật thật chứ không phải lấy bừa một vật rồi hỏi học sinh trong khi có thể thực tế học sinh chưa hề tiếp xúc nó ngoài thực tế.
Trong đề Toán, ví dụ tính một diện tích vật thì cần kèm hình ảnh chụp các góc khác nhau của vật đó. Cần kiểm tra việc học sinh sử dụng kiến thức để giải quyết nhiệm vụ chứ không phải kiểm tra việc học sinh có nhớ vật đó là vật gì? Các ngôn từ mô tả thì cần mang tính đại chúng, chính xác và thậm trí mô tả chi tiết ngay trên vật".
Tin Gốc: Vnexpress

