Cục Đường bộ nhấn mạnh đây là nhiệm vụ cấp thiết nhằm bảo đảm phục vụ nhu cầu đi lại của người dân, đặc biệt trong dịp nghỉ lễ 30.4 – 1.5 và cao điểm hè năm 2026.
Theo Cục Đường bộ Việt Nam, đến thời điểm hiện tại, đã có 15/21 trạm dừng nghỉ trên tuyến cao tốc Bắc – Nam phía Đông đưa vào khai thác một số hạng mục dịch vụ công. Tuy nhiên, vẫn còn 6 trạm chưa thể khai thác do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có vướng mắc về mặt bằng và chậm hoàn thiện các công trình thiết yếu.
Cụ thể, trạm Vĩnh Hảo – Phan Thiết (Km144+560) chưa thể triển khai thi công do vướng giải phóng mặt bằng. Các trạm thuộc các đoạn tuyến như QL45 – Nghi Sơn, Diễn Châu – Bãi Vọt, Vạn Ninh – Cam Lộ, Cam Lộ – La Sơn, Cam Lâm – Vĩnh Hảo vẫn chưa hoàn thành các hạng mục dịch vụ công theo yêu cầu.
Đáng chú ý, ngay cả một số trạm đã đưa vào khai thác bước đầu vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Hạ tầng đường ra, vào trạm và bãi đỗ xe chưa hoàn thiện theo thiết kế; nhiều trạm chưa xây dựng xong cây xăng, trạm sạc, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phục vụ người tham gia giao thông.
Mặc dù trong thời gian qua, Cục Đường bộ Việt Nam đã liên tục ban hành nhiều công điện, văn bản đôn đốc, cảnh báo tiến độ, song thực tế triển khai vẫn chưa đạt yêu cầu. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là do một số nhà đầu tư chưa quyết liệt trong tổ chức thực hiện, chậm hoàn thiện thủ tục đầu tư, thi công cầm chừng. Trong đó, một số liên danh như Petrolimex, Futabuslines – Thành Hiệp Phát được nêu rõ là chưa đáp ứng yêu cầu tiến độ.
Cục Đường bộ Việt Nam nhấn mạnh, việc hoàn thành đồng bộ hệ thống trạm dừng nghỉ không chỉ phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân mà còn là một trong những điều kiện quan trọng để triển khai thu phí đối với các tuyến cao tốc do Nhà nước đầu tư theo quy định của pháp luật.
Trước yêu cầu cấp bách, Cục Đường bộ yêu cầu các nhà đầu tư nghiêm túc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết; khẩn trương huy động tối đa nguồn lực, tăng cường nhân lực, thiết bị, vật tư, tổ chức thi công tăng ca, tăng kíp, tận dụng điều kiện thời tiết thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ.
Mục tiêu đặt ra là hoàn thành các công trình dịch vụ công trước 30.4, đồng thời hoàn thiện toàn bộ trạm theo đúng tiến độ hợp đồng và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng. Trường hợp vi phạm nghĩa vụ, các nhà đầu tư sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm và bị xem xét xử lý theo quy định.
Đối với các Ban Quản lý dự án, Cục yêu cầu thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao, tăng cường kiểm tra, giám sát hiện trường, đôn đốc tiến độ thi công; đồng thời phối hợp chặt chẽ với địa phương để tháo gỡ dứt điểm các vướng mắc, đặc biệt là trong công tác giải phóng mặt bằng tại các vị trí còn tồn đọng.
Các Khu Quản lý đường bộ cũng được giao nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra hiện trường, theo dõi sát tiến độ thi công, kịp thời cảnh báo, chấn chỉnh các tồn tại, nhất là về bảo đảm an toàn giao thông và vệ sinh môi trường tại các trạm đã đưa vào khai thác. Đồng thời, chủ động hướng dẫn phương án tổ chức giao thông đối với các trạm dự kiến đưa vào vận hành trong dịp lễ 30.4.
Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Becamex - CTCP (HoSE: BCM) khép lại quý I/2026 với kết quả kinh doanh kém tích cực khi cả doanh thu và lợi nhuận đều suy giảm, trong bối cảnh mảng bất động sản - trụ cột chính chững lại rõ rệt.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất, doanh thu thuần trong kỳ đạt 1.105 tỷ đồng, giảm 40% so với cùng kỳ năm trước. Dù giá vốn được tiết giảm mạnh 63%, lợi nhuận gộp chỉ giảm nhẹ 3% xuống còn 683 tỷ đồng.
Đi sâu vào cơ cấu, doanh thu từ hoạt động bất động sản chỉ đạt 754 tỷ đồng, giảm tới 47% và là nguyên nhân chính kéo lùi kết quả chung. Đồng thời, doanh nghiệp không còn ghi nhận doanh thu từ xây dựng và bán thành phẩm, trong khi cùng kỳ hai mảng này mang về 94 tỷ đồng.
Ở chiều ngược lại, mảng bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ tăng nhẹ 1,3% lên 313 tỷ đồng, nhưng mức tăng này không đáng kể trong tổng thể.
Không chỉ hoạt động cốt lõi suy yếu, nguồn thu tài chính cũng đi xuống khi doanh thu tài chính giảm 38% còn 63 tỷ đồng, trong khi phần lãi từ công ty liên doanh, liên kết giảm 19% xuống 220 tỷ đồng.
Trong bối cảnh đó, chi phí tài chính lại tăng 12% lên 344,5 tỷ đồng, qua đó bào mòn đáng kể lợi nhuận. Kết quả, Becamex ghi nhận lợi nhuận sau thuế 288 tỷ đồng, giảm 21% so với cùng kỳ và là mức thấp nhất kể từ quý I/2024.
Năm 2026, Becamex đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất 10.230 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 3.883 tỷ đồng, lần lượt tăng 4% và 10% so với năm trước. Tuy nhiên, sau quý đầu năm, doanh nghiệp mới hoàn thành khoảng 12% kế hoạch doanh thu và 7% chỉ tiêu lợi nhuận, cho thấy áp lực thực hiện kế hoạch trong các quý còn lại là không nhỏ.
Dù vẫn có lãi, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trong quý I/2026 của Becamex IDC lại âm tới 1.096 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc vốn bị "giam" trong hàng tồn kho và các khoản phải thu.
Cụ thể, hàng tồn kho làm giảm dòng tiền 804 tỷ đồng, trong khi các khoản phải thu khiến dòng tiền giảm thêm 318 tỷ đồng. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng đã chi 539 tỷ đồng trả lãi vay và 172 tỷ đồng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ.
Tại thời điểm cuối quý I/2026, hàng tồn kho của Becamex đạt 22.644 tỷ đồng, chiếm gần 37% tổng tài sản, trong đó phần lớn là chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang tại các dự án bất động sản và khu công nghiệp với quy mô hơn 20.400 tỷ đồng.
Ở phía nguồn vốn, tổng nợ phải trả của doanh nghiệp đạt 38.832 tỷ đồng, tăng 3,4% so với đầu năm. Tổng vay và nợ thuê tài chính lên tới 25.523 tỷ đồng, tương đương hơn 41% tổng tài sản.
Đáng chú ý, dư nợ vay ngân hàng tăng mạnh gần 3.600 tỷ đồng chỉ sau một quý, trong đó vay dài hạn tăng hơn gấp đôi, cho thấy xu hướng dịch chuyển cơ cấu nợ sang kỳ hạn dài hơn.
Bên cạnh đó, dư nợ trái phiếu vẫn duy trì ở mức cao, khoảng 13.739 tỷ đồng.
Chi phí đi vay trong quý đạt 342 tỷ đồng, tương đương 31% doanh thu thuần, tăng mạnh so với mức 15,8% của cùng kỳ năm trước. Tổng chi phí tài chính chiếm hơn một nửa lợi nhuận gộp, phản ánh áp lực chi phí vốn đang ngày càng lớn.
Trong khi đó, tiền và tương đương tiền cuối kỳ chỉ còn 1.527 tỷ đồng, tương đương khoảng 6% tổng dư nợ vay, khiến dư địa thanh khoản trở nên hạn chế hơn.
Theo ghi nhận, ngày 13.4, trên tuyến đường Trường Chinh (TP.HCM), nhiều cây xanh có kích thước lớn đang được đốn hạ, di dời để phục vụ thi công ga ngầm Phạm Văn Bạch (S10) thuộc tuyến metro số 2 (Bến Thành - Tham Lương).
Đại diện Công ty TNHH MTV Công viên cây xanh TP.HCM - đơn vị thực hiện công tác này cho biết, công nhân đang cắt tỉa, bứng gốc cây theo từng đoạn, đảm bảo tiến độ bàn giao mặt bằng cho dự án.
Theo kế hoạch, TP.HCM sẽ xử lý tổng cộng 453 cây xanh dọc tuyến, trong đó có 404 cây phải đốn hạ và 49 cây được di dời, bảo tồn. Các cây này phân bố trên nhiều phường mà tuyến metro đi qua như: Bến Thành, Bàn Cờ, Xuân Hòa, Hòa Hưng, Vườn Lài, Nhiêu Lộc, Tân Hòa, Tân Sơn Nhất, Bảy Hiền, Tân Bình, Tân Sơn, Tây Thạnh, Tân Sơn Nhì và Đông Hưng Thuận.
Công tác đốn hạ, di dời được triển khai theo hai giai đoạn, với tổng kinh phí khoảng 1,4 tỉ đồng. Đây là bước chuẩn bị quan trọng nhằm đảm bảo mặt bằng thi công các ga ngầm, đặc biệt là ga S10 - một trong những hạng mục trọng điểm của tuyến metro số 2.
Thực tế tại hiện trường cho thấy, nhiều cây xanh có đường kính lớn, cao từ 20 - 30m, tán rộng che phủ cả khu vực. Quá trình thi công được tổ chức bài bản, thận trọng với việc bố trí rào chắn, biển cảnh báo và lực lượng điều tiết giao thông, nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng đến việc đi lại của người dân.
Trước đó, Sở Xây dựng TP.HCM cũng đã thực hiện việc đóng dải phân cách giữa trên đường Trường Chinh tại giao lộ Trường Chinh - Phạm Văn Bạch, phường Tân Sơn. Việc điều chỉnh nhằm đảm bảo mặt bằng thi công các hạng mục chính của nhà ga ngầm S10 (ga Phạm Văn Bạch).
Sở Xây dựng lưu ý người dân khi đi qua khu vực công trường cần tuyệt đối tuân thủ hệ thống biển báo, giảm tốc độ và làm theo hướng dẫn của lực lượng điều tiết giao thông để tránh xung đột dòng xe.
Tuyến metro số 2 TP.HCM (Bến Thành - Tham Lương) đã chính thức khởi công từ 15.1. Dự án có tổng chiều dài gần 11,3 km, phần lớn đi ngầm (hơn 9 km), với tổng mức đầu tư hơn 52.000 tỉ đồng, dự kiến hoàn thành toàn bộ vào năm 2030 để kết nối trung tâm thành phố với khu vực tây bắc.
Bộ Công thương đang lấy ý kiến dự thảo quyết định về việc quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia. Theo đó, Bộ đề xuất khung giờ cao điểm thay đổi theo từng mùa trong năm. Cụ thể, từ thứ hai đến thứ bảy vào tháng 1 - 4 và tháng 9 - 12, khung giờ cao điểm sẽ từ 14 - 19 giờ (5 tiếng); từ tháng 5 - 8, giờ cao điểm từ 14 giờ 30 - 16 giờ 30 (2 tiếng) và 19 giờ 30 - 22 giờ 30 (3 tiếng). Khung giờ thấp điểm là 6 tiếng mỗi ngày, từ 0 - 6 giờ sáng. Còn lại giờ bình thường có 13 tiếng mỗi ngày từ thứ hai đến thứ bảy và 18 tiếng ngày chủ nhật.
Bộ này lý giải, việc điều chỉnh các khung giờ sử dụng điện của hệ thống điện quốc gia xuất phát trong bối cảnh vận hành thực tế thay đổi nhiều so với 12 năm trước. Đặc biệt, từ năm 2019 đến nay, với sự thâm nhập mạnh mẽ và gia tăng tỷ trọng của nguồn điện mặt trời (ĐMT) trong cơ cấu nguồn điện, biểu đồ công suất các loại hình nguồn điện đã có sự thay đổi đáng kể. Thế nên việc điều chỉnh khung giờ giúp phản ánh đúng đặc điểm cung - cầu điện năng trong bối cảnh mới. Ngoài ra, việc xác định hợp lý các khung giờ giúp tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng. Người dùng điện sẽ điều chỉnh hành vi tiêu thụ điện nhằm giảm chi phí, qua đó giảm áp lực cho hệ thống điện trong thời gian cao điểm. Hơn nữa, khi khung giờ cao điểm ngược (lệch) với giờ phát cao của các nguồn năng lượng tái tạo sẽ là động lực để người đầu tư ĐMT phát triển thiết bị lưu trữ để sử dụng vào khung giờ cao điểm.
Tuy nhiên, Tập đoàn Điện lực VN (EVN) lo ngại, với khoảng 1,25 triệu công tơ phục vụ mua bán, giao nhận điện, trong đó phần lớn công tơ được cài đặt theo khung giờ cố định; để triển khai cài đặt lại công tơ theo khung giờ mới có thể kéo dài đến 3 tháng, khối lượng công việc phát sinh rất lớn, bao gồm cập nhật cấu hình; đồng bộ dữ liệu giữa công tơ với hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa, hệ thống quản lý khách hàng và tính hóa đơn (CMIS) và các hệ thống liên quan…
Quan trọng hơn, việc triển khai đồng loạt trên phạm vi rộng và thực hiện nhiều lần trong năm tiềm ẩn nhiều rủi ro sai sót, phát sinh khiếu nại của khách hàng và chi phí khi triển khai. Từ đó, EVN đề nghị chưa áp dụng điều chỉnh khung giờ theo mùa. Khung giờ cao điểm theo đề xuất của EVN tập trung vào 5 tiếng từ chiều tối đến đêm (17 giờ 30 - 22 giờ 30) từ thứ hai đến thứ bảy; giờ bình thường từ 6 - 17 giờ 30 và từ 22 giờ 30 - 24 giờ từ thứ hai đến thứ bảy; chủ nhật từ 6 - 24 giờ; khung giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 - 6 giờ.
Như vậy, khung giờ cao điểm theo đề xuất của EVN kéo dài vào buổi tối và không tính giá cao điểm vào ban ngày. Trong khi khung giờ cao điểm của Bộ Công thương đề xuất thay đổi theo mùa và phân bổ giờ cao điểm cả ban ngày (buổi chiều) và buổi tối.
Ông Nguyễn Quốc Việt, Tổng giám đốc Công ty CP Vinasol, nhận xét việc thay đổi các khung giờ cao điểm, thấp điểm của Bộ Công thương nhằm mục tiêu khuyến khích nhà đầu tư ĐMT phải đầu tư pin lưu trữ thì mới có hiệu quả. "Việc phân bổ lại các khung giờ nhằm giúp làm phẳng biểu đồ phụ tải của ngành điện, giảm áp lực lên lưới điện vì khi vào ban đêm sẽ có nguồn phát từ các hệ thống lưu trữ. Tôi nghĩ cơ quan quản lý đang tìm cơ chế tốt nhất nhằm tháo gỡ cho ĐMT mái nhà bên cạnh chính sách thay đổi về khung giờ nhằm thúc đẩy việc lắp pin lưu trữ. Nếu chính sách này được tổ chức tốt, chắc chắn sẽ kích hoạt mạnh việc sử dụng ĐMT kết hợp lưu trữ", ông Việt nói và thông tin thêm, chi phí đầu tư ĐMT có pin lưu trữ nay khá cạnh tranh, còn khoảng 12 - 15 triệu đồng/kWh, thời gian hoàn vốn chỉ còn khoảng 3 năm thay vì 5 năm như trước. Cùng với đó, chính sách mua điện dư thừa cởi mở hơn cũng là động lực thúc đẩy người dân lắp đặt.
Các chuyên gia cho rằng ĐMT tiềm năng lớn, song mức huy động không tăng như kỳ vọng do hạ tầng tải điện khó đáp ứng. TS Ngô Đức Lâm, nguyên Cục trưởng Cục An toàn kỹ thuật và môi trường, khuyến nghị cần tính toán phụ tải, nếu bảo đảm an toàn, hệ thống có thể nâng công suất mua điện dư của nguồn điện này cao hơn, chiếm tỷ trọng 20% trên toàn hệ thống. Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 10 về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển ĐMT mái nhà tự sản tự tiêu, trong đó nói rõ ưu tiên lắp đặt tại cơ quan, công sở, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và hộ gia đình; khuyến khích lắp đặt kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng nhằm giảm phụ tải giờ cao điểm và tăng khả năng tự chủ nguồn điện tại chỗ.
"Chỉ đạo rất rõ ràng. Đầu tư ĐMT cho cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ chế về vốn đầu tư, ưu đãi tín dụng đầu tư thế nào, phải nhanh chóng hơn. Hiện ĐMT mái nhà cho công sở dường như vẫn giậm chân tại chỗ. Ngoài ra, đã khuyến khích pin lưu trữ thì cũng cần có chính sách ưu đãi để giúp cân bằng phụ tải hệ thống. Tôi từng đề xuất nếu nhà đầu tư có lắp đặt hệ thống lưu trữ thì EVN cần mua điện với giá cao hơn mức bình quân. Bởi nếu không có nguồn điện này, EVN vẫn phải nhập khẩu hoặc mua điện từ những nguồn đắt đỏ", ông Ngô Đức Lâm nói.
Ông Nguyễn Quốc Việt đồng tình, muốn đẩy nhanh ĐMT cần sửa gấp Nghị định 58 về giới hạn công suất lắp đặt; đẩy nhanh triển khai nâng tỷ lệ bán điện lên lưới. Hiện Bộ Công thương đã có đề xuất cho phép bán lên lưới 50% (thay vì 20% công suất lắp đặt), song đề xuất này vẫn còn trên giấy. Bên cạnh đó, sớm có chính sách khuyến khích bán điện vào giờ cao điểm và ưu đãi cho các hệ thống có pin lưu trữ. Ông Việt nói: "Tháo được chốt nghẽn, chắc chắn điện tái tạo sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân, cũng như tăng độ tin cậy, an ninh năng lượng".