Có một thực tế khá phổ biến là mỗi khi xăng dầu tăng giá, nhiều hàng quán lập tức điều chỉnh giá bán với lý do chi phí đầu vào tăng. Thế nhưng khi giá xăng giảm, giá món ăn lại hiếm khi đi xuống tương ứng. Dường như, một khi đã tăng, giá cả rất khó quay trở lại mức cũ và câu chuyện tôi gặp ở một quán phở quen là ví dụ rõ ràng cho nghịch lý đó.
Vừa rồi, khi xăng tăng mạnh, vượt mốc 31.000 đồng một lít, chỉ ít ngày sau, bát phở ở đó được tăng giá từ 35.000 đồng lên 40.000 đồng. Bà chủ giải thích rằng: “Xăng tăng, cái gì cũng tăng”. Ít lâu sau, giá lại nhích thêm 5.000 đồng nữa, thành 45.000 đồng, vẫn với lý do cũ. Tôi cũng không phản ứng gì, vì nghĩ trong thời buổi này, người kinh doanh cũng có cái khó, nên mình có thể thông cảm.
Nhưng rồi vài tuần gần đây, xăng bắt đầu giảm. Từ đỉnh cao, giá tụt dần xuống dưới 24.000 đồng một lít (giảm gần 30%). Hôm nay, tôi vẫn ghé lại quán phở để ăn sáng, nhưng bát phở vẫn giữ giá 45.000 đồng.
Xăng dầu rõ ràng chỉ là một phần nhỏ trong chi phí đầu vào. Nhưng khi xăng tăng, nó lập tức trở thành lý do hợp lý để người bán tăng giá. Ngược lại, khi xăng giảm, yếu tố ấy dường như biến mất khỏi mọi cách giải thích. Và vì thế, tôi quyết định sẽ không quay lại nữa và cho quán phở kia vào “danh sách đen”.
>> Trần tình của chủ quán phở tăng giá 5.000 đồng
Có thể với nhiều người, 10.000 đồng không phải là số tiền lớn. Nhưng điều khiến tôi rời đi không nằm ở con số ấy. Đó là cảm giác tôi đang chấp nhận một nghịch lý: giá cả có thể tăng rất nhanh với một lý do rõ ràng, nhưng khi lý do đó không còn, mọi thứ vẫn giữ nguyên như thể việc tăng giá là điều hiển nhiên, còn giảm giá thì không cần thiết.
Tôi hiểu kinh doanh luôn có những bài toán riêng. Chủ quán còn phải tính đến nhiều chi phí khác: mặt bằng, nhân công, nguyên liệu… Nhưng nếu mỗi lần tăng đều có lý do cụ thể, thì khi điều kiện thay đổi, người tiêu dùng cũng có quyền kỳ vọng một sự điều chỉnh tương ứng, dù chỉ là phần nào.
Không chỉ là chuyện bát phở, trong nhiều lĩnh vực, giá cả dường như chỉ có xu hướng đi lên. Người tiêu dùng dần quen với việc “tăng là bình thường”, mà quên mất yêu cầu giảm giá.
Có thể việc tôi rời đi không ảnh hưởng nhiều đến quán phở kia. Nhưng đó là cách duy nhất để phản ứng với một điều mà tôi cho là chưa hợp lý. Và nếu có thêm nhiều người tiêu dùng dám phản đối như thế, tôi tin quyền lợi của người mua sẽ được coi trọng hơn.
"Nhiều người nói đánh thuế nhà cho thuê để hạn chế đầu cơ, nhưng thực tế người đi thuê như tôi lại là đối tượng phải chịu trận. Ví dụ, căn phòng tôi đang thuê giá 4 triệu một tháng, nếu chủ nhà bị đánh thêm thuế thì họ chỉ cần tăng giá cho thuê nhà lên 4,5 triệu là xong. Với người thu nhập trung bình, mỗi tháng thêm vài trăm nghìn đồng là cả một vấn đề. Cuối cùng, chính sách nhắm vào chủ nhà nhưng lại khiến người thuê, vốn đã yếu thế càng khó khăn hơn".
Đó là lo lắng của độc giả Tabata xung quanh đề xuất đánh thuế nhà thứ hai cho thuê. Thực tế, việc đánh thuế trên lãi chuyển nhượng bất động sản hay với nhà thứ hai trở lên từng được giới chuyên gia, đại biểu Quốc hội đề xuất nhằm hạ nhiệt thị trường, hạn chế đầu cơ. Tại kỳ họp Quốc hội cuối năm ngoái, khi sửa Luật Thuế thu nhập cá nhân, Bộ trưởng Tài chính từng cho biết chưa đủ cơ sở để thu thuế trên lãi mua bán nhà đất cho tới khi có sàn giao dịch bất động sản online, cũng như đủ dữ liệu số hóa đất đai gắn với dữ liệu trên VNeID. Vì vậy, thuế với chuyển nhượng nhà đất đến nay vẫn duy trì 2% trên giá trị giao dịch.
Cùng chung trăn trở việc áp thuế nhà cho thuê có thể đẩy gánh nặng cho người thuê nhà, bạn đọc Ducnim bình luận: "Lý thuyết là đánh thuế để giảm giá bán nhà, nhưng thực tế chủ nhà bao giờ cũng ở 'kèo trên'. Thuế tăng thì họ cộng trực tiếp vào giá thuê và giá bán nhà mà thôi. Cuối cùng, người mua nhà lần đầu hay người đi thuê mới là những đối tượng chịu trận nặng nhất. Thuế này thực chất là đánh vào túi tiền của người lao động đang cần chỗ ở chứ không 'gãi' đúng chỗ ngứa là dân đầu cơ".
>> Bài toán mua hai mảnh đất dưỡng già nhưng bị đánh thuế như dân đầu cơ
Trong khi đó, với quan điểm trái ngược, độc giả Satehanh phản biện: "Chưa chắc việc áp thuế sẽ làm tăng giá nhà. Vì thuế đánh vào đất sở hữu chứ không phải căn nhà. Theo tôi, đã đánh thuế là phải đánh cả với nhà cho thuê vì không làm vậy thì nhà đầu cơ mua đất xong sẽ xây nhà cấp bốn cho thuê giá rẻ để thao túng giá đất. Xây một nhà trọ giá rẻ cũng không hề khó. Những người đầu tư cho thuê sẽ xây mấy tầng lên và nếu có chia đều thuế cho số lượng người thuê thì cũng không bao nhiêu'.
Cùng chung nhận định, bạn đọc Khuongna ủng hộ đề xuất trên: "Đánh thuế bất động sản thứ hai cho thuê đúng là có thể khiến giá thuê nhà tăng trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn sẽ góp phần làm giảm giá bán. Giờ nhiều người sở hữu hàng chục mặt tiền, nhà ở cho thuê, nền nhà, đất hoang và họ luôn có xu thế ôm thêm khiến giá nhà vẫn tăng cao. Nếu đánh thuế bất động sản lũy tiến hàng năm ở mức cao, sẽ làm giảm tình trạng này về lâu dài. Tất nhiên, đó cũng chỉ là một giải pháp. Muốn bình ổn giá nhà, hay bớt tình trạng gom đất, để dòng tiền đưa vào đầu tư sản xuất thì cần phối hợp thêm nhiều giải pháp đồng bộ khác".
Nhiều người thường nói về bài toán tiết kiệm để bám trụ ở thành phố. Thậm chí, có người còn chia sẻ câu chuyện "thu nhập 30 triệu một tháng, nuôi con, thuê nhà mà vẫn dư 15 triệu". Nghe qua thì rất hay, nhưng cá nhân tôi lại không nghĩ đó là con đường dài lâu.
Với tôi, cố tiết kiệm quá mức đôi khi đồng nghĩa với việc tự kéo chất lượng sống của mình đi xuống. Mà sống kiểu đó lâu dài rất dễ mệt mỏi, chứ không phải giải pháp bền vững. Điều quan trọng hơn, theo tôi, là tìm cách tăng thu nhập.
Nếu không kinh doanh, thì ta có thể học thêm, nâng cao kỹ năng, tìm cơ hội thăng tiến, hoặc chuyển sang vị trí tốt hơn để có mức lương cao hơn. Khi thu nhập đạt khoảng 50-60 triệu một tháng, cuộc sống sẽ dễ thở hơn rất nhiều. Lúc đó, việc tiết kiệm mới thực sự có ý nghĩa.
Tôi biết quan điểm này hơi "ngược đời", vì thông thường ai cũng khuyên nên tiết kiệm khi thu nhập còn thấp. Nhưng cuộc sống ở TP HCM, Hà Nội và các thành phố lớn khác không giống ở nông thôn. Ở quê, nếu tiết kiệm thì cơ bản bạn vẫn có sẵn nhà cửa, những nhu cầu thiết yếu như ăn, ngủ không quá áp lực. Còn ở thành phố, nếu cố tiết kiệm, nhiều khi bạn phải cắt giảm cả những nhu cầu cơ bản: ăn uống, chỗ ở, những buổi cà phê hay giao tiếp xã hội.
>> Vợ chồng lương 30 triệu không bám trụ nổi Sài Gòn
Thời điểm còn thu nhập dưới 20 triệu một tháng, tôi gần như không tiết kiệm đồng nào. Thay vào đó, tôi dành tiền để đầu tư vào việc học: các khóa kỹ năng, ngoại ngữ, quản lý... Tôi cũng không cắt hẳn những nhu cầu khác như cà phê hay ăn uống bên ngoài, tất nhiên là ở mức vừa phải chứ không phung phí.
Khi thu nhập tăng dần, đến khoảng 30 triệu mỗi tháng (chỉ tính lương cứng), tôi mới bắt đầu lên kế hoạch tiết kiệm từng bước và vay thêm ngân hàng để mua nhà. Khi lương lên mức 40 triệu, tôi gần như đã trả hết nợ mua nhà. Và đến lúc thu nhập đạt 50 triệu một tháng, tôi mới nghĩ đến chuyện mua xe.
Đó là lộ trình đi lên của tôi. Nói vậy để thấy, không phải ai cũng phù hợp với một kiểu sống. Có người thấy tiết kiệm là khả thi, còn tôi lại thấy sống đừng nên quá dè xẻn. Xởi lởi một chút, giữ cho cuộc sống có sự thoải mái một chút, có khi lại giúp mình có thêm động lực để kiếm tiền tốt hơn.
Nhiều người sẽ hỏi: nếu không tiết kiệm, lỡ đau ốm thì sao? Tôi cũng từng nghĩ như vậy. Nhưng sau tất cả, tôi nhận ra cách tốt nhất không phải là tích từng đồng tiền lẻ một, mà là cố gắng trau dồi năng lực nhanh nhất có thể để có thể tìm kiếm cơ hội việc làm ở những công ty tốt hơn, có chế độ bảo hiểm tư nhân cho gia đình người lao động. Khi có rủi ro sức khỏe, bảo hiểm sẽ là chỗ dựa.
Suy cho cùng, mỗi người một lựa chọn. Nhưng với tôi, thay vì bóp mình lại để tiết kiệm trong lúc thu nhập còn thấp, tôi chọn đầu tư để tăng thu nhập trước. Khi kiếm được nhiều hơn, việc tiết kiệm sẽ tự nhiên trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
Sau 21 năm làm việc trong môi trường sản xuất, đặc biệt tại các doanh nghiệp Nhật Bản, tôi nhận ra một nghịch lý khá phổ biến ở ta: rất nhiều kỹ sư ra trường phải được doanh nghiệp đào tạo lại từ đầu về quản lý chất lượng, trong khi đây lại là kỹ năng quyết định giá trị nghề nghiệp của họ trong nhà máy hiện đại. Nhiều người nghĩ chỉ cần giỏi chuyên môn kỹ thuật là đủ để một kỹ sư phát triển tốt trong doanh nghiệp sản xuất. Nhưng thực tế đi làm cho tôi thấy mọi thứ phức tạp hơn nhiều.
Trong các nhà máy tôi từng làm việc, hầu như không ai tuyển một người chỉ học "quản lý" để trực tiếp phụ trách hệ thống chất lượng. Thay vào đó, họ thường chọn những kỹ sư đã làm thực tế ở dây chuyền, hiểu máy móc, hiểu quy trình sản xuất, rồi mới đào tạo thêm về ISO, Kaizen, Lean, quản lý chất lượng hay cải tiến sản xuất.
Lý do là quản lý chất lượng trong nhà máy không phải công việc thiên về giấy tờ như nhiều người nghĩ. Người làm chất lượng phải hiểu lỗi phát sinh từ đâu, công đoạn nào gây lãng phí, tiêu chuẩn nào bất hợp lý, vì sao sản phẩm bị lỗi lặp lại và cách cải tiến quy trình để giảm sai sót. Nếu không hiểu thực tế vận hành, rất khó để xây dựng một hệ thống chất lượng hiệu quả.
Thế nhưng, điều tôi thấy đáng tiếc là nhiều chương trình đào tạo kỹ sư trong nước hiện nay vẫn nặng về lý thuyết kỹ thuật, trong khi phần quản lý chất lượng và quản trị sản xuất lại khá mờ nhạt. Nhiều sinh viên ra trường có thể tính toán rất tốt, nắm kiến thức chuyên ngành khá sâu, nhưng khi bước vào nhà máy lại lúng túng trước các quy trình ISO, kiểm soát chất lượng, quản trị tài liệu, phân tích nguyên nhân lỗi hay phối hợp giữa bộ phận kỹ thuật với sản xuất.
>> Kỹ sư 'việc nhẹ lương cao' ngày gồng 8 tiếng vì không đam mê
Doanh nghiệp vì thế phải mất thêm nhiều năm để "đào tạo lại" kỹ sư thành những người có tư duy hệ thống. Đây cũng là một nguyên nhân khiến nhiều kỹ sư thế hệ 7X, 8X, 9X dù có nền tảng chuyên môn tốt nhưng chưa phát huy hết giá trị của mình trong doanh nghiệp. Họ thường phải vừa làm vừa tự tích lũy kiến thức về quản trị sản xuất và quản lý chất lượng trong suốt nhiều năm.
Trong khi đó, xã hội lại đang có xu hướng đánh giá cao những ngành nghề "phi sản xuất" như tài chính, kinh tế hay quản trị. Nhiều bạn trẻ sinh sau năm 2000 dần ít chọn học kỹ thuật hơn vì cho rằng con đường này vất vả, chậm thành công và ít cơ hội bằng các ngành khác.
Theo tôi, đây không phải tín hiệu tích cực cho tương lai công nghiệp Việt Nam. Một quốc gia muốn phát triển bền vững không thể thiếu đội ngũ kỹ sư giỏi, người làm sản xuất mạnh, người hiểu công nghệ và có khả năng cải tiến hệ thống thực tế.
Qua nhiều năm làm việc, tôi nhận ra một kỹ sư hiểu quản lý chất lượng luôn có giá trị cao hơn kỹ sư chỉ giỏi chuyên môn thuần túy. Bởi doanh nghiệp hiện đại không chỉ cần người làm ra sản phẩm, mà cần người giúp hệ thống vận hành ổn định, giảm lỗi, giảm lãng phí và tăng năng suất. Nếu được đào tạo bài bản về quản lý chất lượng ngay từ đại học, kỹ sư sẽ thích nghi nhanh hơn với doanh nghiệp, giảm đáng kể thời gian đào tạo lại và phát huy giá trị sớm hơn.