Vua Charles III và Hoàng hậu Camilla hôm 27/4 tới Mỹ, bắt đầu chuyến thăm cấp nhà nước kéo dài 4 ngày. Tổng thống Donald Trump và Đệ nhất phu nhân Melania đón tiếp và cùng vợ chồng Vua Charles dự tiệc trà tại Nhà Trắng.
Vợ chồng Tổng thống Trump sau đó đưa Vua Charles và Hoàng hậu Camilla tham quan khu vườn Nhà Trắng và tổ ong mới trong vườn. Bà Melania tuần trước công bố mở rộng chương trình nuôi ong tại Nhà Trắng, với điểm nhấn là một tổ ong được chế tác theo hình dáng đặc trưng của công trình này.
Tổ ong bổ sung vào hai đàn ong đã tồn tại từ năm 2009 trên bãi cỏ phía Nam. Vào cao điểm mùa hè, các đàn ong có thể lên tới khoảng 70.000 con, tạo ra khoảng 90-102 lít mật mỗi năm.
Số mật ong này được sử dụng trong các hoạt động của Nhà Trắng, như tiệc chiêu đãi và đóng gói làm quà tặng ngoại giao, trong khi một phần được quyên tặng cho các tổ chức hỗ trợ thực phẩm địa phương. Các vị khách thăm cấp nhà nước đến Mỹ cũng sẽ được tặng một hũ mật ong Nhà Trắng.
Hoạt động tiếp đón vợ chồng Vua Charles III diễn ra chỉ hai ngày sau vụ nổ súng tại bữa tiệc có sự tham dự của Tổng thống Trump ở thủ đô Washington. Lãnh đạo Mỹ cũng giới thiệu bức tranh về vụ ám sát hụt nhằm vào ông hồi năm 2024 cho nguyên thủ Anh.
Vua Charles III dự kiến phát biểu trước quốc hội Mỹ ngày 28/4, trong bối cảnh ông tìm cách hàn gắn rạn nứt xuyên Đại Tây Dương liên quan xung đột Trung Đông, do London đã từ chối hỗ trợ Washington.
Vua Charles cũng dự kiến phát biểu ngắn tại quốc yến ở Nhà Trắng tối cùng ngày. Ông sẽ tới New York ngày 29/4 để thăm đài tưởng niệm các nạn nhân trong vụ khủng bố ngày 11/9/2001.
Tổng thống Trump thời gian qua nhiều lần chỉ trích Thủ tướng Anh Keir Starmer vì lập trường phản đối chiến sự Trung Đông, cũng như các chính sách nhập cư và năng lượng của chính phủ Anh. Dù công khai phản đối cuộc chiến, Thủ tướng Starmer vẫn ủng hộ chuyến thăm cấp nhà nước tới Mỹ của Vua Charles III.
Tin Gốc: Vnexpress
Chiến dịch phong tỏa hải quân của Mỹ đối với Iran bắt đầu từ ngày 13/4 và gần như không có tiền lệ trong những thập niên gần đây. Quân đội Mỹ cũng đưa ra rất ít thông tin chi tiết về cách họ có thể thực hiện chiến dịch phong tỏa eo biển Hormuz chiến lược.
Quân đội Mỹ tuyên bố như thế nào?
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ra lệnh phong tỏa Iran và eo biển Hormuz - tuyến hàng hải huyết mạch ngăn cách vịnh Ba Tư và vịnh Oman, nơi trung chuyển phần lớn dầu mỏ của thế giới.
Ngày 13/4, Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM), cơ quan giám sát các hoạt động quân sự của Mỹ tại Trung Đông, dường như đã thu hẹp phạm vi của lệnh phong tỏa khi tuyên bố sẽ ngăn các tàu thương mại đi đến hoặc rời khỏi các cảng của Iran.
Theo một thông báo do CENTCOM gửi tới các thủy thủ trong khu vực, các chi tiết cụ thể của lệnh phong tỏa vẫn “đang được xây dựng”.
CENTCOM cho biết lệnh phong tỏa sẽ được “thực thi một cách công bằng đối với tàu của mọi quốc gia” và áp dụng cho các cảng của Iran ở cả hai phía eo biển.
Khi được hỏi lệnh phong tỏa sẽ hoạt động như thế nào trên thực tế, CENTCOM chỉ dẫn lại một thông cáo báo chí công bố lệnh phong tỏa cũng như một thông báo do tổ chức UK Maritime Trade Operations (do Hải quân Hoàng gia Anh quản lý) ban hành. Tuy nhiên, cả hai văn bản đều không nêu rõ điều gì sẽ xảy ra với các tàu thương mại nếu cố tình vượt qua lệnh phong tỏa.
Hải quân Mỹ hiện có ít nhất 15 tàu chiến tại khu vực Trung Đông gồm một tàu sân bay, 11 tàu khu trục và 3 tàu tấn công đổ bộ để có thể thực hiện lệnh phong tỏa. Hiện chưa rõ vị trí chính xác của từng con tàu hoặc tàu nào sẽ tham gia trực tiếp vào lệnh phong tỏa.
Mỹ sẽ giám sát và chặn tàu ra sao?
Các tàu khu trục của Hải quân Mỹ có thể giám sát các cảng của Iran bằng radar, theo dõi các tàu ra vào từng cảng, nhưng điều này đòi hỏi phải triển khai một số lượng lớn tàu chiến của Mỹ để bao phủ toàn bộ bờ biển dài phía nam của Iran.
Thay vào đó, Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ có thể chọn cách duy trì một đội tàu khu trục ở hai phía eo biển Hormuz để kiểm tra các tàu, đồng thời sử dụng máy bay không người lái trinh sát để giám sát các cảng của Iran.
Khi một tàu được xác định là “mục tiêu cần quan tâm”, tàu khu trục của Mỹ có thể được điều động để chặn tàu khả nghi lại. Sau khi rút ngắn khoảng cách và đưa tàu khả nghi vào tầm nhìn, tàu chiến Mỹ nhiều khả năng sẽ liên lạc qua vô tuyến hàng hải, truy vấn theo một kịch bản được chuẩn bị sẵn như điểm đến của tàu, cảng ghé gần nhất, loại hàng hóa đang chở và số lượng thủy thủ trên tàu.
Sau đó, tàu chiến của Mỹ có thể yêu cầu tàu khả nghi cho phép một “đội kiểm tra” gồm các thủy thủ lên tàu để tiến hành kiểm tra.
Trong trường hợp lý tưởng, tàu thương mại sẽ trả lời qua vô tuyến và đồng ý cho phía Mỹ lên tàu kiểm tra, điều chỉnh hướng đi và tốc độ, đồng thời thả thang dây để việc lên tàu được an toàn và thuận tiện hơn.
Hoặc tàu khả nghi có thể phớt lờ yêu cầu của tàu chiến Mỹ và tìm cách bỏ chạy.
Mark Norman, phó đô đốc hải quân Hoàng gia Canada đã nghỉ hưu và là thành viên của Viện Quan hệ Quốc tế Canada, cho biết quân đội Mỹ sẽ phải thiết lập các khu vực tuần tra bên ngoài vịnh để chặn các tàu cố gắng đi vào eo biển - một quá trình sẽ cần đến sự tham gia của nhiều tàu, trực thăng và máy bay tuần tra tầm xa.
Ông nói rằng quân đội Mỹ sẽ sử dụng thông tin có sẵn mà các tàu được yêu cầu cung cấp để biết họ đến từ đâu.
Theo ông Norman, việc kiểm tra và bắt giữ các tàu là hành động “mạo hiểm” và tiềm ẩn nguy cơ xung đột với các quốc gia mà tàu đó mang cờ.
Chuyện gì xảy ra nếu Mỹ đưa đội kiểm tra lên tàu?
Đội kiểm tra của Hải quân Mỹ có thể tiếp cận bằng xuồng máy, sau đó sử dụng thiết bị để móc thang dây vào mạn tàu khả nghi và leo lên tàu. Tuy nhiên, nhiệm vụ này sẽ khó khăn và nguy hiểm hơn nhiều trong trường hợp biển động, vào ban đêm hoặc khi tàu khả nghi tìm cách để ngăn cản phía Mỹ lên tàu kiểm tra.
Lựa chọn tối ưu khi đó là đưa đội kiểm tra lên tàu bằng trực thăng và trượt xuống boong tàu bằng dây chuyên dụng. Nếu có trực thăng và đội kiểm tra được huấn luyện bài bản, phương án này an toàn hơn và nhanh hơn nhiều so với cách móc thang dây và leo lên từ xuồng máy.
Gần đây, các đội Thủy quân lục chiến và Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Mỹ thường xuyên sử dụng phương pháp đu dây nhanh để lên kiểm tra các tàu chở dầu ở vùng Caribe nghi vận chuyển dầu của Venezuela. Tuy nhiên, việc tạm giữ các tàu chở dầu này đã khiến Mỹ tốn hàng chục triệu USD, và chính quyền Tổng thống Trump không thể bán số dầu đó nếu không có sự cho phép của thẩm phán.
Hải quân Mỹ có kinh nghiệm trong việc phong tỏa vịnh Ba Tư không?
Hải quân Mỹ có hơn một thập niên kinh nghiệm.
Sau Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991, Liên hợp quốc thiết lập một cơ chế cho phép Iraq xuất khẩu dầu với điều kiện nguồn thu từ việc bán dầu phải phục vụ cho lợi ích người dân nước này - thường được gọi là chương trình “đổi dầu lấy lương thực”.
Các tàu chiến của Hải quân Mỹ thường xuyên kiểm tra các tàu chở dầu bị nghi buôn lậu dầu Iraq ra khỏi vịnh Ba Tư cho đến khi Mỹ mở chiến dịch quân sự vào Iraq năm 2003.
Phần lớn các cuộc kiểm tra này được cho là “hợp tác” - thuật ngữ của Hải quân Mỹ để chỉ việc các tàu bị kiểm tra hợp tác với phía Mỹ.
Các đội thủy thủ Mỹ nhỏ sẽ được bố trí lên các tàu chở dầu bị nghi buôn lậu, sau đó họ sẽ lái tàu đến các khu neo đậu tạm thời trong Vùng Vịnh được đặt mật danh theo các sân vận động bóng chày như Fenway và Comiskey, nơi tàu sẽ thả neo.
Cuối cùng, các tàu sẽ được đưa đến một cảng trong khu vực, nơi quốc gia sở tại sẽ bán dầu để bù đắp chi phí tiếp nhận tàu và thủy thủ đoàn. Các tàu chở dầu sau đó được bán đấu giá, thường được mua lại bởi chính công ty từng sở hữu chúng trước đó.
Quy trình này diễn ra như một “vòng lặp liên hồi”.
Tin Gốc: Dân Trí

Tòa án sơ thẩm hạt San Diego tuần trước ra phán quyết về tranh chấp pháp lý kéo dài hơn một năm giữa ông Adam Hardesty, chủ một căn hộ tại khu condo Mystic Point ở thành phố Carlsbad, bang California, với ban quản trị khu dân cư này.
Hardesty muốn cải tạo garage của mình thành nhà ở phụ trội (ADU) để cho thuê, kiếm thêm thu nhập. ADU là các đơn vị nhà ở nhỏ, độc lập, được xây thêm trên lô đất có nhà chính, nhằm gia tăng tiện ích sống, tạo thêm phòng ở cho gia đình hoặc cho thuê.
Đối với nhà riêng ở Mỹ, chủ nhà gần như toàn quyền sử dụng tài sản trên đất của mình và chỉ chịu sự quản lý chung của chính quyền địa phương. Nhưng ở các khu căn hộ hoặc khu dân cư khép kín, chủ nhà thường phải chấp hành quy định riêng của Ban Quản trị Khu dân cư (HOA), từ việc sửa chữa, cho thuê đến cách sử dụng không gian, tiêu chuẩn sinh hoạt.
Tại Mỹ, HOA là tổ chức tư nhân được thành lập để quản lý, duy trì và đặt ra các quy tắc cho một khu dân cư, khu căn hộ (condo), hoặc một khu đô thị được quy hoạch sẵn. Tại các condo, chủ nhà sở hữu bên trong căn hộ, phần ngoài là sở hữu chung, nên họ không thể tùy ý cải tạo, thay đổi công năng như ở nhà riêng.
Khoảng 1/3 dân số bang California sống trong các khu vực chịu sự quản lý của HOA. Nghị viện bang năm 2019 thông qua đạo luật nới lỏng các hạn chế cấp địa phương đối với việc xây dựng nhà ở mới, nhằm tăng nguồn cung nhà ở cho người dân.
Trước khi cải tạo garage thành nhà phụ trội, ông Hardesty đã nghiên cứu các bản đồ quy hoạch địa phương, liên hệ với chính quyền thành phố và xin được giấy phép xây dựng.
Tuy nhiên, Ban Quản trị Khu dân cư Mystic Point phản đối, cho rằng quy định nội bộ cấm sử dụng garage vào mục đích khác ngoài đỗ xe, nên không chấp nhận dự án cải tạo của ông Hardesty.
Hardesty, khi đó là thành viên của HOA Mystic Point, lập luận rằng đạo luật năm 2019 của nghị viện bang California đã vô hiệu hóa mọi hạn chế của ban quản trị đối với các căn nhà phụ trội.
Sau khi tham khảo ý kiến từ một chuyên viên quy hoạch thuộc Sở Nhà ở và Phát triển Cộng đồng California, ông Hardesty tin rằng pháp luật đứng về phía mình nên vẫn cho khởi công cải tạo garage từ tháng 2/2025. HOA Mystic Point sau đó đã khởi kiện.
Trong các tài liệu nộp lên tòa, ban quản trị này cho rằng đạo luật năm 2019 không áp dụng cho các khu nhà ở dạng condo như Mystic Point, mà chỉ có hiệu lực với những khu đất được quy hoạch cho mục đích nhà ở đơn lập.
Do khu đất của ông Hardesty có nhiều loại hình nhà ở, không chỉ nhà đơn lập, mà còn nhà townhouse (liền kề) và các căn hộ condo nhỏ, nên luật không thể áp dụng trong trường hợp này, HOA Mystic Point lập luận.
Trong phán quyết tuần trước, thẩm phán Victor Torres đứng về phía HOA Mystic Point ở cả hai luận điểm.
"Nếu nghị viện bang muốn áp dụng với cả loại hình condo, họ hoàn toàn có thể viết rõ hơn trong luật, nhưng đã không làm vậy", ông Torres giải thích. "Tương tự, việc áp dụng luật này cho lô đất có quy hoạch đa dạng như của ông Hardesty cũng sẽ trái ý tưởng mà cơ quan lập pháp đặt ra khi thiết kế luật".
Do đó, thẩm phán bác yêu cầu được phép cải tạo garage thành nhà ở phụ trội để cho thuê của Hardesty.
Cho tới nay, chính quyền bang chưa can thiệp vào cuộc chiến pháp lý này. Dù các cơ quan quản lý nhà ở và văn phòng tổng chưởng lý bang thường can thiệp khi chính quyền địa phương ngăn cản một dự án xây dựng có dấu hiệu vi phạm luật, họ hiếm khi làm vậy với các HOA.
Thẩm phán Torres thừa nhận vụ kiện rất phức tạp, cho biết ông không thực sự nghiêng hẳn về bên nào. Dù ra phán quyết có lợi cho HOA, ông lưu ý đây chưa phải hồi kết của vụ kiện. "Tôi tin tôi sẽ còn được Tòa phúc thẩm 'giảng giải' thêm về vụ kiện này", ông nói.
Hardesty cho biết ông muốn kháng cáo, nhưng không còn tài chính. Hai vợ chồng ông đã chi hơn 100.000 USD cho vụ này, gồm tiền cải tạo garage và chi phí thuê luật sư.
Ben Christopher, bình luận viên bất động sản của CalMatters, cho rằng trong cuộc chiến pháp lý này, ông Hardesty đã đối mặt với khả năng cốt lõi của HOA, đó là hạn chế cư dân sử dụng khu đất theo ý thích của mình.
Ông Christopher dẫn các nghiên cứu cho thấy giá nhà tại các khu condo có HOA quản lý thường có giá cao hơn những khu quy hoạch lỏng lẻo. Nói cách khác, nhiều người sẵn sàng trả thêm tiền để tránh khả năng xuất hiện những căn nhà cải tạo tự phát trong khu mình ở.
Đức Trung (Theo CalMatters, AP, Washington Post)
Tin Gốc: https://vnexpress.net/chu-nha-california-thua-kien-khi-cai-tao-garage-thanh-nha-o-5060527.html

Ngày 1-5, Lầu Năm Góc thông báo Bộ trưởng Chiến tranh (Bộ trưởng Quốc phòng) Pete Hegseth đã ra lệnh rút 5.000 trong tổng số 38.000 binh sĩ Mỹ đang đóng quân tại Đức trong vòng sáu tháng đến một năm.
Theo News Nation, quyết định này xuất phát từ việc các đồng minh châu Âu "không thể hiện mức độ cam kết" mà Tổng thống Donald Trump mong đợi.
Việc rút quân sẽ đưa lực lượng Mỹ tại châu Âu về mức trước năm 2022 - trước khi chiến sự tại Ukraine nổ ra khiến chính quyền Biden phải tăng cường quân số.
Căng thẳng bùng phát trực tiếp từ bài phát biểu của Thủ tướng Đức Friedrich Merz ngày 27-4 tại một trường trung học ở Marsberg.
Tại đây, ông Merz cảnh báo Mỹ có nguy cơ sa lầy ở Trung Đông, chỉ trích Washington đã thể hiện "sự yếu kém" khi bị Iran "làm nhục" và thiếu một kế hoạch mạch lạc để rút khỏi xung đột.
Ông còn lưu ý rằng phía Iran "hiệu quả hơn trong đàm phán" so với phía Mỹ, và khẳng định các hành động quân sự tại Iran cùng việc đóng cửa eo biển Hormuz đã giáng đòn mạnh vào kinh tế Đức.
Chỉ hai ngày sau, ngày 29-4 ông Trump phản pháo trên mạng xã hội Truth Social, gọi ông Merz là người "hoàn toàn không biết mình đang nói gì", chỉ trích ông đang "làm việc rất tệ" khiến nước Đức phải đối mặt với đủ loại vấn đề, và khuyên Thủ tướng Đức nên tập trung ít hơn vào Iran, nhiều hơn vào việc giải quyết xung đột Ukraine.
Đây không phải lần đầu ông Merz bày tỏ bất đồng. Trước đó, ông đã lên tiếng rằng người Đức và châu Âu không được tham vấn trước khi Mỹ và Israel tấn công Iran vào ngày 28-2, đồng thời trực tiếp đặt câu hỏi về lối thoát của Washington khỏi cuộc xung đột này.
Hãng CBC nhận định quyết định rút quân là lời nhắc nhở mạnh mẽ về "sự sẵn sàng đáp trả của ông Trump đối với những gì ông coi là sự bất trung từ các đồng minh".
Tờ Politico dẫn lời nhà phân tích Todd Harrison nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của Đức: nơi đây không chỉ là nơi đóng quân của gần 40.000 binh sĩ Mỹ, mà còn là trụ sở của Bộ Tư lệnh Mỹ tại châu Âu và châu Phi, cùng bệnh viện quân sự lớn nhất của Mỹ ở nước ngoài. Việc rút quân nhanh chóng, theo ông Harrison, sẽ "tốn kém và có thể làm suy yếu khả năng răn đe".
Tờ Telegraph ngày 1-5 cũng lưu ý rằng NATO chưa thảo luận về khả năng rút quân này, vì bất kỳ động thái nào cũng đòi hỏi một thỏa thuận song phương giữa Mỹ và Đức - điều hiện chưa tồn tại.
Bất đồng Mỹ - NATO thực ra đã âm ỉ từ nhiệm kỳ đầu của ông Trump (2017 - 2021), khi Washington liên tục gây sức ép buộc các đồng minh tăng chi tiêu quốc phòng lên 5% GDP.
Khi đó, Thủ tướng Đức Angela Merkel đã giúp hóa giải khủng hoảng, còn kế hoạch rút 12.000 binh sĩ của ông Trump bị đình lại sau khi ông thất cử và chính quyền Biden đảo ngược quyết định này.
Trong nhiệm kỳ thứ hai, ông Trump đẩy căng thẳng lên một nấc mới: từ đe dọa rời khỏi NATO, chỉ trích châu Âu "quân sự hóa" Ukraine gây cản trở hòa đàm, đến áp thuế quan lên các thành viên EU.
Bài phát biểu của Phó tổng thống J.D. Vance tại Hội nghị an ninh Munich năm ngoái - cáo buộc một số nhà lãnh đạo châu Âu đang theo đuổi các chính sách có thể dẫn đến "sự hủy diệt của nền văn minh phương Tây", đồng thời ám chỉ sự ủng hộ công khai đối với các lực lượng dân tộc chủ nghĩa và cánh hữu tại châu Âu - càng khoét sâu thêm hố ngăn cách.
Trang Al Arabiya nhận định những khác biệt trong NATO đang "gay gắt hơn bao giờ hết". Nhà khoa học chính trị Emilian Kowalski thuộc Đại học Tampere lập luận rằng Mỹ không trực tiếp phá hủy NATO, mà đang dần biến liên minh này thành một "cầu thu phí" phục vụ lợi ích Washington, ngày càng ít dung nạp các cơ chế an ninh thay thế của châu Âu.
Ở phía châu Âu, các ý tưởng về lực lượng vũ trang độc lập và "ô dù hạt nhân" riêng - ban đầu do Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đề xuất - đang được bàn thảo nghiêm túc hơn.
Dù vậy, Chiến lược Quốc phòng quốc gia Mỹ (NDS 2026) công bố đầu năm nay khẳng định Washington không có ý định rời NATO, với khoảng 80.000 binh sĩ vẫn hiện diện tại châu Âu.
Trọng tâm đang dịch chuyển: Mỹ tiếp tục ở lại, nhưng đòi các đồng minh gánh phần lớn hơn trong chi tiêu quốc phòng.
Hội nghị thượng đỉnh NATO ngày 7 và 8-6 tại Ankara (Thổ Nhĩ Kỳ) sẽ là phép thử quan trọng: liệu đây sẽ là thời điểm hòa giải, hay là bước ngoặt dẫn đến sự đổ vỡ của liên minh tồn tại gần tám thập niên?
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

