Những ai từng lớn lên ở TP.HCM vài chục năm trước hẳn vẫn nhớ rất rõ cảm giác ấy. Một buổi tối hè oi bức, chiếc quạt đang quay bỗng rẹt rẹt mấy cái rồi khựng lại, bóng đèn tắt phụt, cả căn nhà chìm vào bóng tối. Trong nhà, người lớn khẽ thở dài vì nóng nực ập tới và tiếng muỗi bắt đầu vo ve.
Ở ngoài sân, lũ trẻ con lại reo lên thích thú như vừa nhận được một tín hiệu bí mật. Cúp điện ngày ấy không chỉ là sự bất tiện, mà giống như một “lời mời tụ tập” của cả khu xóm. Người lớn lôi ghế ra hiên, nhà này gọi nhà kia, ai có cây đèn cầy thì thắp lên. Trẻ con thì ùa ra nguyên xóm, đứa cầm cây nến, đứa bưng tô cơm đang ăn dở, vừa ăn vừa nhìn mấy đứa khác nghịch ngợm nhỏ sáp nến xuống đất rồi chờ đông lại như một trò thí nghiệm kỳ diệu.
Người lớn ngồi quạt phành phạch, trò chuyện râm ran chuyện giá gạo, chuyện mưa bão miền Trung, chuyện thời sự thế giới nghe được trên chiếc radio cũ. Những đêm ấy không có wifi, không điện thoại thông minh, không ti vi phát sáng trong từng căn nhà; nhưng bù lại con người gần nhau hơn. Có tiếng cười, tiếng kể chuyện, tiếng trẻ con chạy rần rần, inh ỏi khắp hẻm. Và rồi, ở một góc phố nào đó, một bóng đèn bất ngờ bật sáng. Một đứa trẻ tinh mắt hét lên: “Có điện rồi!”. Chỉ trong vài giây, tiếng reo ấy lan khắp xóm như một làn sóng. Đó không chỉ là khoảnh khắc ánh sáng trở lại, mà là niềm vui chung của cả một cộng đồng, một niềm vui giản dị, ồn ào và ấm áp giờ đây đã lùi dần vào miền ký ức người thành phố.
Thời gian lặng lẽ trôi, và cùng với dòng chảy ấy, thành phố cũng thay da đổi thịt từng ngày. Những con hẻm nhỏ đường đất đá năm xưa đã trở thành những tuyến phố bê tông rực sáng ánh đèn; những bãi đất trống nơi trẻ con tụ tập nay mọc lên nhà cao tầng, khu đô thị và công viên xanh mướt. Trong hành trình lớn lên ấy, điện, thứ từng mong manh như ánh đèn cầy trong những đêm cúp điện năm xưa, đã trở thành mạch máu nuôi dưỡng cả nền kinh tế đô thị.
TP.HCM hôm nay không còn được nhắc đến với ký ức của những đêm tối bất chợt, mà là một đô thị vận hành không ngừng nghỉ: nhà máy hoạt động suốt ngày đêm, trung tâm dữ liệu lưu chuyển hàng tỉ dòng thông tin, các dây chuyền tự động hóa vận hành chính xác từng giây, những khu công nghệ cao kết nối với thế giới. Tất cả những chuyển động ấy hội tụ vào một yêu cầu cốt lõi: điện phải ổn định, điện phải thông minh và phải đi trước một bước. Vì vậy, ngành điện của thành phố không còn chỉ là ngành cung cấp năng lượng, mà đã trở thành một nền tảng hạ tầng chiến lược, âm thầm nâng đỡ nhịp phát triển của đô thị năng động bậc nhất cả nước.
Trong hơn một thập niên qua, hệ thống điện của thành phố đã trải qua một cuộc chuyển đổi sâu sắc, từ mô hình cung cấp điện truyền thống sang lưới điện thông minh. Hệ thống này cho phép giám sát tự động, điều khiển từ xa, phân tích dữ liệu và quản trị vận hành bằng công nghệ hiện đại. Nếu trước đây khi xảy ra sự cố, nhân viên điện lực phải đi dọc từng tuyến đường dây để tìm điểm hỏng, thì ngày nay hệ thống có thể phát hiện và cảnh báo sớm, tự động cô lập khu vực sự cố và nhanh chóng khôi phục cấp điện chỉ trong vài phút. Nhờ đó, điện của thành phố không còn chỉ làm nhiệm vụ thắp sáng, mà đã trở thành một hạ tầng thông minh, bảo đảm cho nhịp sống siêu đô thị luôn vận hành liên tục.
Trong kỷ nguyên công nghệ, điện còn mang một ý nghĩa lớn hơn. Khi nói đến thu hút đầu tư công nghệ cao, người ta thường nghĩ đến chính sách, nhân lực hay giao thông; nhưng phía sau tất cả là hạ tầng điện. Không có điện ổn định thì không thể vận hành trung tâm dữ liệu, không thể phát triển nhà máy bán dẫn hay các khu công nghệ cao. Vì vậy, việc phát triển lưới điện hiện đại đã trở thành đòn bẩy quan trọng để thu hút đầu tư và thúc đẩy nền kinh tế số.
Nếu một đứa trẻ ngày nay được kể rằng ngày xưa thành phố từng có nhiều đêm cúp điện kéo dài, có lẽ nó sẽ ngạc nhiên. Bởi với thế hệ hôm nay, ánh đèn dường như luôn sáng, wifi luôn hiện diện và máy lạnh vẫn đều đặn chạy qua những đêm hè oi bức. Còn những người từng là trẻ con lớn lên với ký ức của những con hẻm tối hiểu rằng ánh sáng hôm nay không phải tự nhiên mà có. Đằng sau sự ổn định ấy là công sức của hàng nghìn kỹ sư, là hàng chục năm đầu tư bền bỉ và hàng trăm công trình hạ tầng được xây dựng với một tầm nhìn dài hạn.
Ký ức về những đêm cúp điện vì thế vẫn còn đó, như một thước phim cũ thỉnh thoảng trở lại trong tâm trí: ánh đèn cầy chập chờn, chiếc quạt giấy phe phẩy và tiếng trẻ con reo vang “Có điện rồi!”. Nhưng những thanh âm ngày ấy không còn là dấu vết của thiếu thốn, mà là cột mốc của một hành trình phát triển. Thành phố mình đã đi một chặng đường dài: từ ánh nến nhỏ bé đến lưới điện thông minh kết nối cả đô thị; từ cuốn sổ ghi điện giản dị đến hệ thống vận hành bằng công nghệ số; từ những con hẻm tối đến một thành phố rực sáng ánh đèn.
Và trong hành trình ấy, điện không chỉ thắp sáng những ngôi nhà, mà còn thắp sáng tương lai của cả một thành phố.
Sáng 17.4 tại TP.HCM, Trường Phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu đã tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm hình thành Trường Mù Sài Gòn (1926 - 2026) và 50 năm mang tên Trường Phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu (1976 - 2026).
Sự kiện không chỉ là dấu mốc lịch sử quan trọng mà còn là dịp để nhìn lại hành trình một thế kỷ đầy nhân văn, nơi hàng ngàn học sinh khiếm thị vượt lên số phận, được chắp cánh ước mơ và vươn tới tương lai.
Phát biểu tại lễ kỷ niệm, cô Nguyễn Thị Thanh Huệ - Hiệu trưởng nhà trường đã ôn lại kỷ niệm cùng các thế hệ lãnh đạo, nhà giáo góp phần tạo nên một hệ thống giáo dục đặc biệt mang đậm tính nhân văn, bền vững và không ngừng đổi mới ở Trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu.
"Từ năm 1926, khi ngôi trường đầu tiên dành cho người khiếm thị được hình thành, có lẽ ít ai có thể hình dung rằng nơi đây sẽ trở thành một mái nhà lớn - nơi ánh sáng của tri thức được thắp lên không phải bằng đôi mắt, mà bằng nghị lực và niềm tin. Những ngày đầu còn nhiều thiếu thốn, nhưng chính từ những điều giản dị ấy đã nhen nhóm một hành trình nhân văn bền bỉ. Một trăm năm - đó không chỉ là con số của thời gian, mà là chiều sâu của biết bao lớp người đã đi qua, để lại dấu chân, ký ức và cả những giấc mơ chưa bao giờ tắt", Hiệu trưởng Nguyễn Thị Thanh Huệ nhấn mạnh.
Dịp này, Trường Phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu được trao cờ truyền thống từ ông Trần Văn Bảy - Phó chủ tịch UBND TP.HCM ghi nhận những đóng góp của nhà trường trong sự nghiệp giáo dục; bằng khen tập thể do bà Đặng Huỳnh Mai - nguyên Thứ trưởng Bộ GD - ĐT, Chủ tịch Liên hiệp Hội về người khuyết tật Việt Nam trao tặng, cho thành tích xuất sắc trong công tác giáo dục học sinh khuyết tật.
Trường Phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu cũng nhận kỷ niệm chương vinh danh 20 cựu học sinh tiêu biểu, những tấm gương nghị lực đã vượt qua nghịch cảnh, khẳng định bản thân và đóng góp tích cực cho xã hội; kỷ niệm chương cho các nhà giáo vì những đóng góp bền bỉ trong giáo dục đặc biệt học bổng dành cho học sinh, nhằm tiếp thêm động lực trên con đường các em vào đời lập thân, lập nghiệp.
Ngày 8.5, Sở Xây dựng TP.HCM vừa có thông báo về việc điều chỉnh tổ chức giao thông trên đường Cộng Hòa, đoạn từ đường Trường Chinh đến đường Út Tịch, thuộc các phường Bảy Hiền, Tân Bình, Tân Sơn Nhất.
Theo đó, kể từ ngày 15.5.2026, đường Cộng Hòa, đoạn từ đường Trường Chinh đến đường Út Tịch) sẽ được điều chỉnh tổ chức giao thông.
Cụ thể, hướng từ đường Út Tịch đến đường Trường Chinh: 2 làn đường sát vỉa hè tổ chức lưu thông một chiều cho các loại xe theo hướng từ đường Út Tịch đến đường Trường Chinh.
Hướng từ đường Trường Chinh đến đường Út Tịch: 2 làn đường sát vỉa hè tổ chức lưu thông một chiều cho các loại xe theo hướng từ đường Trường Chinh đến đường Út Tịch.
Đối với 2 làn đường giữa tim đường, chiều lưu thông sẽ được điều chỉnh theo từng thời điểm trong ngày:
Sở Xây dựng lưu ý người điều khiển phương tiện cần chấp hành theo hiệu lệnh của lực lượng điều tiết giao thông và hệ thống báo hiệu đường bộ.
Theo Trung tâm quản lý hạ tầng giao thông đường bộ, từ trước đến nay, các tuyến đường ở Việt Nam vẫn giữ cách phân làn cố định cho từng chiều xe chạy. Tuy nhiên, lưu lượng thực tế giữa các hướng thường chênh lệch rất lớn vào giờ cao điểm nên việc điều tiết linh hoạt sẽ giúp tận dụng mặt đường hiệu quả hơn.
Thực tế, mô hình này có phần tương tự cách tổ chức giao thông từng áp dụng tại cầu Hoàng Hoa Thám trên đường Cộng Hòa thời gian qua. CSGT trực tiếp di chuyển dải phân cách để điều tiết dòng xe theo giờ cao điểm.
Tuy nhiên, nếu như ở cầu Hoàng Hoa Thám việc điều tiết chủ yếu thực hiện thủ công và chỉ áp dụng ở khu vực đầu cầu, thì tại đường Cộng Hòa lần này sẽ sử dụng hệ thống biển báo điện tử và tổ chức xuyên suốt toàn tuyến.
Những ngày đầu tháng 4, người dân xã Thanh Bồng (Quảng Ngãi) bước vào cao điểm vụ khai thác quế. Trong đó, một cây quế hơn 50 năm tuổi, kích thước hơn một người ôm vừa được người dân đưa vào thu hoạch đã thu hút sự quan tâm.
Theo ghi nhận, cây quế có thân lớn, đường kính hơn một vòng tay người ôm, cao gần 30 m. Ba người đàn ông phối hợp bóc lớp vỏ quế dày trên thân cây. Người dùng tay kéo lớp vỏ, người khác dùng dao cạy, người còn lại hỗ trợ phía dưới. Sau khi bóc, phần thân để lộ lớp gỗ màu vàng nhạt, nhựa quế chảy thành từng vệt dài.
Anh Hồ Văn Trường (ở xã Thanh Bồng), người đăng tải hình ảnh khai thác vỏ cây quế hơn 50 năm tuổi lên mạng xã hội, cho biết khoảng 9 giờ ngày 8.4, người dân thôn Cưa, xã Thanh Bồng vào vườn khai thác quế và chụp lại gửi cho anh. Nhận thấy cây quế có kích thước lớn hiếm gặp, anh đã đăng tải lên mạng xã hội.
"Cây quế này to hơn một người ôm, cao gần 30 m. Sau khi khai thác, sản lượng vỏ ước đạt khoảng 600 - 700 kg", anh Trường nói.
Tại "thủ phủ" quế Trà Bồng, mỗi năm có hai đợt thu hoạch chính. Đợt thứ nhất từ cuối tháng 2 đến hết tháng 4, được đồng bào Cor gọi là "mùa tiên"; đợt thứ hai từ tháng 7 đến tháng 8, khi vỏ quế dễ bóc và có hàm lượng tinh dầu cao.
Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Hồ Văn Thịnh, Phó chủ tịch UBND xã Thanh Bồng, cho biết toàn xã hiện có hơn 10 ha trồng quế. Tuy nhiên, năm nay giá quế có xu hướng giảm, dao động từ 32.000 - 37.000 đồng/kg quế khô, ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng.
"Trên địa bàn, người dân chủ yếu trồng quế và keo. Thời gian tới, địa phương sẽ định hướng phát triển thêm cây dược liệu nhằm đa dạng hóa cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế", ông Thịnh thông tin.