Trả lời báo chí nhân Ngày tăng huyết áp thế giới 17/5, GS. Phạm Mạnh Hùng, Viện trưởng Viện Tim Mạch – Bệnh viện 198, nói tăng huyết áp là “kẻ giết người thầm lặng” bởi bệnh thường tiến triển âm thầm trong nhiều năm nhưng có thể gây ra các biến chứng nặng nề như đột quỵ não, nhồi máu cơ tim, suy tim, rung nhĩ, suy thận mạn, tổn thương mạch máu và tử vong sớm.
Tại Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành khoảng 25-30%, tương đương hàng chục triệu người mắc bệnh. Đáng lo ngại, bệnh đang có xu hướng trẻ hóa nhanh chóng do lối sống ít vận động, stress kéo dài, ăn mặn, béo phì và sử dụng nhiều rượu bia.
Kết quả Điều tra quốc gia yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm (STEPS) năm 2021 của Bộ Y tế cho thấy lượng muối trung bình người Việt tiêu thụ mỗi ngày khoảng 8,1 g, giảm so với mức 9,4 g năm 2015 nhưng vẫn cao gần gấp đôi khuyến nghị dưới 5 g/ngày của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Khoảng 8,7% dân số thường xuyên sử dụng thực phẩm chế biến sẵn chứa hàm lượng muối cao.
Các chuyên gia dinh dưỡng cảnh báo ăn mặn là một trong những nguyên nhân dẫn tới tăng huyết áp và hàng loạt bệnh lý tim mạch nguy hiểm. ThS.BS. Ngô Thị Hà Phương, Viện Dinh dưỡng cho hay natri (thành phần của muối) là khoáng chất cần thiết giúp cơ thể duy trì cân bằng dịch, dẫn truyền thần kinh và hoạt động cơ bắp. Tuy nhiên, dư thừa natri so với nhu cầu khuyến nghị, gây tăng tính thấm, tăng trương lực thành mạch, gây ứ nước trong tế bào, tăng sức cản ngoại vi gây ra tăng huyết áp.
Bác sĩ Phương nhìn nhận điều đáng lo ngại là tăng huyết áp do ăn mặn thường diễn ra âm thầm qua nhiều năm. Tiêu thụ nhiều natri (muối, gia vị, các thực phẩm chứa muối…) trong thời gian dài làm tăng huyết áp ở hầu hết mọi người và tương tác với các con đường chuyển hóa liên quan đến béo phì, kháng insulin và tổn thương thận.
Nhiều người cho rằng thận có thể tự đào thải lượng muối dư thừa nên ăn mặn không đáng lo nếu cơ thể còn khỏe mạnh. Thực tế, khi lượng muối nạp vào quá lớn trong thời gian dài, thận phải làm việc liên tục để đào thải natri và nước. Quá tải kéo dài khiến chức năng thận suy giảm, đồng thời làm tăng nguy cơ tăng huyết áp.
Không chỉ vậy, chế độ ăn nhiều muối còn khiến các thuốc điều trị tăng huyết áp, đặc biệt là thuốc lợi tiểu, giảm hiệu quả. Huyết áp tăng kéo dài làm tổn thương thành mạch máu, thúc đẩy xơ vữa động mạch, tăng nguy cơ đột quỵ, suy tim và bệnh mạch vành.
Theo một nghiên cứu năm 2011, trong khẩu phần ăn của người Việt, khoảng 80% lượng natri đến từ gia vị được thêm vào khi nấu nướng và chấm trực tiếp như nước mắm, bột canh, hạt nêm, mắm tôm, xì dầu. Khoảng 20% đến từ thực phẩm chế biến sẵn như xúc xích, giò chả, đồ hộp, snack, mì ăn liền và các thực phẩm tự nhiên có chứa muối. Nhiều món ăn quen thuộc tại hàng quán cũng chứa lượng muối cao do khẩu vị chuộng đậm đà. Điều này khiến không ít người vô tình vượt ngưỡng muối khuyến nghị mỗi ngày mà không nhận ra.
Nghiên cứu chỉ ra nếu lượng muối tiêu thụ mỗi ngày được kiểm soát ở mức 5-6 g, huyết áp có thể giảm 2-8 mmHg. Nếu duy trì chế độ ăn nhạt lâu dài, nguy cơ bệnh tim mạch và đột quỵ cũng giảm đáng kể.
Các chuyên gia khuyến cáo để phòng tăng huyết áp và bệnh tim mạch, người dân cần thay đổi thói quen ăn uống từ sớm. Biện pháp quan trọng nhất là giảm dần lượng muối trong chế biến, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và giảm thói quen chấm thêm nước mắm, nước sốt trong bữa ăn. Khi mua thực phẩm đóng gói, cần chú ý đọc hàm lượng natri trên nhãn dinh dưỡng.
Từ ngày 11–17/5 diễn ra Tuần lễ Thế giới nâng cao nhận thức về muối. Chiến dịch năm nay kêu gọi giảm lượng muối trong thực phẩm chế biến và thực phẩm đóng gói.
Nhiều người thường xuyên kiểm tra huyết áp, mỡ máu nhưng lại ít quan tâm đến sức khỏe thận cho đến khi bệnh tiến triển nghiêm trọng. Bác sĩ Harsha Mandadi Varadaraju, chuyên về thận học tại Bệnh viện Amrita (Ấn Độ), cho biết thận là cơ quan làm việc thầm lặng. Mỗi ngày, thận lọc khoảng 180 lít máu, giúp điều hòa huyết áp, cân bằng khoáng chất, đào thải độc tố và hỗ trợ sản xuất hồng cầu. Tuy nhiên, quá trình suy giảm chức năng thận tự nhiên có thể bắt đầu sau tuổi 40 mà nhiều người không nhận ra.
Nguy cơ mắc bệnh thận tăng sau tuổi 40
Các chuyên gia cho biết nguy cơ bệnh thận không tăng đều theo tuổi mà thường tăng đáng kể sau tuổi 40, đặc biệt khi đi kèm các bệnh lý chuyển hóa.
Tiểu đường là nguyên nhân phổ biến dẫn đến suy thận. Bên cạnh đó, tăng huyết áp, béo phì, gan nhiễm mỡ và thói quen lạm dụng thuốc giảm đau - thường gặp hơn khi lớn tuổi - cũng làm tăng áp lực lên thận.
Thói quen tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến, đồ ăn nhiều muối, nước ngọt có đường, thức ăn nhanh hay xu hướng ăn quá nhiều protein cũng khiến nguy cơ bệnh thận gia tăng. Theo bác sĩ Varadaraju, yếu tố nguy hiểm của bệnh thận là tiến triển âm thầm. Nhiều người chỉ phát hiện bệnh khi đã xuất hiện phù, khó thở, mệt mỏi hoặc huyết áp mất kiểm soát - thường ở giai đoạn muộn.
Phát hiện sớm là yếu tố quan trọng
Người trên 40 tuổi nên kiểm tra chức năng thận mỗi năm một lần, đặc biệt nếu có tiểu đường, tăng huyết áp hoặc tiền sử gia đình mắc bệnh thận. Những xét nghiệm cơ bản như đo creatinine máu, xét nghiệm nước tiểu hay theo dõi huyết áp chỉ mất ít phút nhưng có thể giúp phát hiện sớm tổn thương thận trước khi bệnh tiến triển nặng, theo bác sĩ Varadaraju.
Cách bảo vệ thận sau tuổi 40
Bệnh thận có thể phòng ngừa hoặc làm chậm tiến triển nếu được phát hiện sớm. Việc chủ động kiểm tra sức khỏe từ tuổi trung niên có thể giúp giảm nguy cơ suy thận và cải thiện chất lượng sống khi về già. Duy trì sức khỏe thận không đến từ những chế độ ăn cực đoan hay "siêu thực phẩm", mà phụ thuộc chủ yếu vào thói quen ăn uống duy trì hàng ngày.
Ăn nhiều thực phẩm tươi, ưu tiên bữa ăn nấu tại nhà, uống đủ nước và hạn chế đồ chế biến sẵn, muối, đường là những nguyên tắc quan trọng để bảo vệ chức năng thận. Xu hướng ăn quá nhiều protein với quan niệm "càng nhiều càng tốt" có thể tạo thêm áp lực cho thận, đặc biệt ở người có nguy cơ bệnh thận hoặc mắc bệnh chuyển hóa. Đôi khi, những bữa ăn đơn giản và điều độ lại là lựa chọn tốt nhất cho sức khỏe lâu dài.
Để duy trì chức năng thận khỏe mạnh, chuyên gia thận khuyến nghị bên cạnh kiểm tra sức khỏe định kỳ cần kiểm soát tốt đường huyết và huyết áp, duy trì cân nặng hợp lý, hạn chế lạm dụng thuốc giảm đau.
Cam là loại quả quen thuộc, dễ ăn và mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Nó có hàm lượng nước cao (chiếm khoảng 86% trọng lượng) và tương đối ít calo, là lựa chọn phù hợp cho chế độ ăn uống lành mạnh.
Một quả cam vừa (khoảng 140 g) chứa:
Calo: 66
Protein: 1,3 g
Carbohydrate: 14,8 g
Đường: 12 g
Chất béo: 0,2 g
Chất xơ: 2,8 g (đáp ứng khoảng 10% lượng cơ thể cần hàng ngày - DV)
Vitamin C: 92% DV
Folate: 9% DV
Canxi: 5% DV
Kali: 5% DV
Lợi ích sức khỏe của cam
Vitamin C đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường miễn dịch, hỗ trợ hấp thụ sắt và sản xuất collagen. Trong khi đó, chất xơ giúp cải thiện tiêu hóa và nuôi dưỡng hệ vi sinh đường ruột.
Ngoài vitamin, cam còn giàu các hợp chất thực vật có hoạt tính sinh học cao như flavonoid và carotenoid. Hesperidin và naringenin là hai flavonoid nổi bật, có khả năng chống viêm, bảo vệ tế bào, hỗ trợ sức khỏe mạch máu. Các carotenoid như beta-cryptoxanthin và lycopene giúp chống oxy hóa, có lợi cho tim mạch.
Tốt cho tim mạch nhờ giảm cholesterol xấu, giảm viêm và hỗ trợ ổn định đường huyết.
Giảm nguy cơ bệnh mạn tính góp phần giảm nguy cơ ung thư và tiểu đường type 2 khi tiêu thụ ở mức hợp lý.
Phòng thiếu máu nhờ vitamin C giúp tăng hấp thụ sắt từ thực phẩm.
Tăng cường miễn dịch và hỗ trợ quá trình loại bỏ tế bào hư hại. Các hợp chất như hesperidin, naringenin có thể giảm viêm, cải thiện đáp ứng miễn dịch.
Tốt cho đường ruột giúp tăng vi khuẩn có lợi.
So sánh ăn cam và nước cam
Giữa ăn cả quả và uống nước cam có những sự khác biệt đáng kể về giá trị dinh dưỡng và lợi ích sức khỏe:
Hàm lượng chất xơ: Đây là sự khác biệt lớn nhất vì khi ép nước, phần lớn chất xơ bị loại bỏ, trong khi đây là thành phần quan trọng giúp ổn định đường huyết và tạo cảm giác no.
Lượng đường và calo: Một cốc nước cam (khoảng 248 ml) có thể chứa lượng calo và lượng đường cao gấp đôi so với một quả cam 140 g. Thiếu chất xơ khiến nước cam dễ bị tiêu thụ quá mức, gây dư thừa năng lượng.
Đường bổ sung: Một số sản phẩm đóng hộp còn có thể bổ sung thêm đường, không tốt nếu dùng thường xuyên.
Nước cam nguyên chất vẫn là lựa chọn lành mạnh khi dùng ở mức vừa phải. Tuy nhiên, để tận dụng tối đa lợi ích sức khỏe, bạn nên ưu tiên ăn cam nguyên quả và chỉ uống nước cam như một lựa chọn bổ sung khi cần thiết.
Một số ít người có thể bị dị ứng với cam, cần tuyệt đối tránh ăn quả hoặc uống nước ép. Cam chứa các axit hữu cơ như axit citric và axit ascorbic (vitamin C). Với người bị chứng ợ nóng hoặc vấn đề về dạ dày như trào ngược dạ dày thực quản, các axit này có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng khó chịu.
Bệnh viện Lý Gia ở thành phố Đài Trung, Đài Loan, Trung Quốc, mới đây tiếp nhận một ca ung thư đại trực tràng hy hữu, theo Next Apple News ngày 10/4. Bệnh nhân là một phụ nữ ngoài 60 tuổi, sụt 10 kg chỉ trong vòng 3 tháng. Ban đầu, bà ngỡ giảm cân thành công nên phấn khởi. Tuy nhiên sau đó, bà bắt đầu thấy bụng chướng đau, đi ngoài liên tục và phân không thành khuôn nên đến bệnh viện nội soi đại tràng.
Bác sĩ Lại Đại Phong, chuyên khoa Gan mật và Tiêu hóa, cho biết kết quả nội soi đại tràng cho thấy cách cửa hậu môn 50 cm có một khối u lớn. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng rối loạn tiêu hóa và sụt cân nghiêm trọng của bà.
Bác sĩ cho hay mặc dù cơ quan y tế đã triển khai chương trình tầm soát miễn phí bằng xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân (FIT) định kỳ 2 năm một lần, tháng nào bệnh viện cũng ghi nhận các ca mắc mới. Đặc biệt, người cao tuổi thường có tâm lý chịu đựng, ít có thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ, dẫn đến việc chỉ đi khám khi cơ thể đã xuất hiện các triệu chứng đau đớn, làm mất đi "giai đoạn vàng" trong điều trị.
Ung thư đại trực tràng là căn bệnh có số ca mắc mới đứng thứ hai trong danh sách 10 loại ung thư phổ biến nhất, chỉ sau ung thư phổi. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm ngay từ giai đoạn khởi đầu hoặc giai đoạn 1, tỷ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân có thể lên tới hơn 90%.
Theo bác sĩ Lại, các nhóm có nguy cơ cao là những người có thói quen ăn đồ nướng, thực phẩm nhiều dầu mỡ, lười ăn rau quả hoặc có người thân trong gia đình từng mắc ung thư đại trực tràng. Ở giai đoạn đầu, ung thư đại trực tràng thường không có triệu chứng rõ ràng. Nhiều người chủ quan cho rằng đau bụng hay thay đổi thói quen đi vệ sinh chỉ là khó tiêu tạm thời hoặc ngộ độc thực phẩm mà không biết đó là hồi chuông cảnh báo sớm của ung thư.
Do các triệu chứng ban đầu thường không rõ ràng, nhiều người vẫn lầm tưởng đau bụng hay rối loạn tiêu hóa chỉ là ngộ độc thực phẩm nhẹ mà không biết đó là dấu hiệu cảnh báo ung thư. Các chuyên gia cảnh báo nếu xuất hiện các dấu hiệu như thói quen đại tiện thay đổi, phân có máu hoặc chất nhầy, phân mỏng dẹt, cảm giác đi ngoài không sạch, đau chướng bụng hoặc sụt cân không rõ nguyên nhân kéo dài trên hai tuần, người dân cần lập tức đi kiểm tra để có cơ hội điều trị kịp thời.