Bà là Võ Thị Hồng, người phụ nữ đầu tiên của miền Tây được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động khi mới 36 tuổi.
Tôi tìm đến nhà bà Võ Thị Hồng (tên thường gọi Bảy Hồng) khi nắng chiều đã nhạt màu trên những cánh đồng lúa ở xã Tuyên Thạnh. Thật khó hình dung nổi, màu vàng óng của cánh đồng lúa mang vẻ no ấm kia từng là màu đỏ quạch của phèn chua.
Bà Bảy Hồng tiếp tôi bằng nụ cười đôn hậu trên gương mặt “rặt” nông dân Nam bộ. Đến khi bà giới thiệu về những tấm ảnh cũ, tôi lại thấy một gương mặt khác, gương mặt của một thời lẫy lừng. Bà không kể nhiều về danh hiệu Anh hùng Lao động, mà kể về những vết sẹo. Đôi bàn tay của bà sạm nắng, chi chít vết sẹo nhỏ – chứng tích của những ngày cày xới đất phèn.
“Hồi đó, lằn ranh giữa sống và chết mỏng như sợi tóc” – bà Bảy nhớ lại, ánh mắt nhìn xa xăm về phía dải đất mà bà gọi là “vùng giải phóng”. Những năm 1971 – 1972, bà Bảy khi đó là cô gái mười tám, đôi mươi, vừa làm ruộng vừa làm giao liên. Tiếng máy cày trên đồng cạn khi ấy thường bị át đi bởi tiếng pháo bắn phá dữ dội. “Đang cày mà pháo bắn đùng đùng, chưa kịp định thần là phải nhảy xuống sình tránh đạn. Nguy hiểm lắm, đâu chỉ đơn thuần là làm ruộng kiếm miếng ăn”, bà Bảy kể.
Cái chất thép của một nữ giao liên thời chiến đã nhào nặn nên một Bảy Hồng không biết cúi đầu trước khó khăn. Sau ngày đất nước thống nhất, bà lại bước vào một cuộc chiến khác: cuộc chiến với cái đói và sự khắc nghiệt của “túi phèn” Đồng Tháp Mười.
Bà Bảy Hồng kể ngày ấy Đồng Tháp Mười là vùng đất hoang, ít ai muốn đặt chân tới. Câu ca “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh” không phải là lời nói quá. Cỏ dại cao lút đầu người, phèn chua đến mức cây lúa vừa bén rễ đã vàng lá rồi chết rũ. Người dân quanh vùng nhìn 36 ha đất hoang hóa mà lắc đầu ngao ngán.
Nhưng Bảy Hồng thì khác. Với tư duy nhạy bén, bà hiểu rằng nếu chỉ dựa vào đôi tay trần và sức trâu thì ngàn đời không thắng nổi phèn mặn. Giữa lúc người ta còn e dè, bà là người phụ nữ duy nhất ở vùng này dám đứng ra cầm lái “con trâu sắt”. Hình ảnh người phụ nữ nhỏ nhắn, tóc búi cao, điều khiển máy cày xé toang lớp đất mặt đỏ quạch đã trở thành biểu tượng của sự tiên phong.
“Lúc đó, tôi mê khuyến nông dữ lắm. Đêm nằm nghe đài, ngày tẩn mẩn đọc báo, thấy người ta chỉ cách làm lúa, cách trị phèn là học theo. Tôi không đợi đất “thuần” mới làm, mà phải cưỡng ép nó, đưa nước vào rửa phèn, dẫn thủy nhập điền”, bà Bảy Hồng nhớ lại.
Sự quyết đoán của bà đã tạo nên một cú hích lịch sử. Từ những thửa ruộng mỗi năm chỉ “ăn may nhờ trời” được một vụ lúa lép, năng suất vẻn vẹn 1 – 2 tấn, bà đã đưa sản lượng nhảy vọt lên 7 – 8 tấn, rồi 10 tấn/ha. Tiếng lành đồn xa, người dân khắp nơi kéo về xem “bà Bảy lái máy cày” làm kinh tế. Bà không giữ bí quyết cho riêng mình. Những buổi tập huấn, những lần chia sẻ kinh nghiệm bên bờ ruộng, bà đều tận tình chỉ bảo, bởi với bà, “mình no mà hàng xóm đói thì cái no cũng không bền”.
Dấu mốc chói lọi nhất trong cuộc đời bà Võ Thị Hồng là năm 1986, khi đó mới 36 tuổi, bà vinh dự đại diện nông dân miền Nam ra Hà Nội dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc.
Bà kể, giọng vẫn còn nguyên sự bồi hồi: “Hồi đó, tôi làm vì trách nhiệm với Nhà nước, vì cái bụng của gia đình mình thôi, chứ đâu có nghĩ để trở thành anh hùng. Lần đầu tiên trong đời được đi máy bay, ra đến thủ đô, được gặp và bắt tay cụ Phạm Văn Đồng, cụ Trường Chinh, cô Ba Định, cô Ba Thi… là niềm vinh dự không gì bằng”.
Hôm ấy, các vị lãnh đạo đã ôm lấy người phụ nữ nhỏ nhắn mà khen: “Con gái miền Nam giỏi quá”. Danh hiệu Anh hùng Lao động năm ấy là sự ghi nhận cho một trái tim luôn rực cháy khát vọng chinh phục thiên nhiên.
Bây giờ, dù đã ở tuổi 76, cái chất “lão nông tri điền” vẫn đậm đặc trong từng cử chỉ. Bà Bảy Hồng đưa tay về phía con đập cao ngoài xa, giọng trầm xuống: “Giờ làm ruộng sướng hơn hồi xưa cả ngàn lần con ơi. Bơm nước có điện, rải giống, phun thuốc cũng có máy. Hồi xưa muốn đưa nước vào phải đào kênh kẻ rãnh cực lắm, tối cũng không dám đi vì sợ mìn, sợ đạn. Nhìn cánh đồng bây giờ, tôi mừng đến trào nước mắt”.
Căn nhà khang trang hiện tại là thành quả của cả một đời lam lũ mà mãi đến năm 2012 mới xây dựng được. Đó không chỉ là nơi ở, mà là một “bảo tàng” nhỏ lưu giữ những bằng khen, ảnh kỷ niệm. Có lẽ, bằng khen quý giá nhất đối với bà chính là sự kính trọng, tri ân của lớp trẻ. Đến tận bây giờ, các thanh niên vẫn hay tìm đến bà để hỏi về kinh nghiệm làm lúa, về cái đạo lý của người làm nghề nông.
Đồng Tháp Mười hôm nay không còn phèn chua, không còn dấu tích của vùng đất hoang hóa năm nào. Nhưng câu chuyện về người phụ nữ lái “con trâu sắt” sẽ mãi được kể qua các thế hệ nơi này.
CLB Thiên văn Đà Nẵng thuộc Đại học Đà Nẵng (DAC) thông tin về những hiện tượng thiên văn kỳ thú xuất hiện trong tháng 5 này mà người Việt có thể chiêm ngưỡng, tiêu biểu là 2 trăng tròn xuất hiện trong một tháng.
Mặt trăng sẽ nằm ở vị trí xung đối. Lúc này bề mặt của mặt trăng sẽ phản xạ tối đa ánh sáng mặt trời về phía trái đất. Mặt trăng trong giai đoạn này mọc vào lúc hoàng hôn, đạt đỉnh cao nhất vào nửa đêm và lặn vào lúc bình minh.
Vì vậy, trăng tròn hiện diện trọn vẹn suốt cả đêm, từ khi trời vừa tối cho đến khi mặt trời mọc. Do được mặt trời chiếu sáng trực tiếp ở phía đối diện, trăng tròn rất sáng và dễ quan sát bằng mắt thường, kể cả trong điều kiện có một chút mây mù.
Tuy nhiên, cũng chính vì ánh sáng quá rực rỡ này, trăng tròn thường làm lu mờ các thiên thể mờ như tinh vân hay thiên hà, khiến thời điểm này không lý tưởng cho việc quan sát chúng. Lần trăng tròn này được các bộ lạc bản địa đầu tiên ở Mỹ gọi là trăng hoa, vì đây là thời điểm trong năm mà các loài hoa mùa xuân nở rộ.
Trận mưa sao băng Eta Aquarids có nguồn gốc từ sao chổi Halley, được phát hiện từ vào thời cổ đại. Sao chổi Halley (1P/Halley) là sao chổi nổi tiếng nhất và là sao chổi chu kỳ ngắn đầu tiên được xác nhận quay trở lại hệ mặt trời theo chu kỳ.
Sao chổi này được đặt theo tên của nhà thiên văn học người Anh là Edmond Halley. Năm 1705, Halley phát hiện ra rằng 3 sao chổi được báo cáo vào các năm 1531, 1607 và 1682 đều có quỹ đạo tương tự nhau.
Ông đề xuất rằng 3 sao chổi này thực ra là cùng một thiên thể. Cứ khoảng 74 - 76 năm thì sao chổi lại quay trở lại gần mặt trời và được nhìn thấy từ trái đất. Sau đó ông dự đoán rằng nó sẽ lại quay trở lại bầu trời vào năm 1758. Thật không may, Halley đã mất vào năm 1742, trước khi sao chổi này tái xuất hiện.
Trận mưa sao băng Eta Aquarids hoạt động từ khoảng 19.4 đến 28.5.2026 với cực điểm vào đêm 5.5, rạng sáng 6.5 với tần suất có thể lên đến 50 sao băng mỗi giờ trong điều kiện lý tưởng.
Vào thời điểm trăng non, mặt trăng nằm gần đường thẳng nối giữa trái đất và mặt trời. Trong pha này, phần được chiếu sáng của mặt trăng hướng hoàn toàn về phía mặt trời, trong khi phần tối lại quay về phía trái đất.
Mặt trăng trong giai đoạn này mọc cùng lúc với mặt trời vào buổi sáng và lặn vào lúc hoàng hôn, chỉ hiện diện trên bầu trời ban ngày. Tuy nhiên, việc quan sát mặt trăng vào ban ngày trong kỳ trăng non là cực kỳ khó khăn.
Do nằm rất gần mặt trời trên bầu trời, ánh sáng chói của mặt trời làm lu mờ hoàn toàn sự hiện diện của mặt trăng. Bên cạnh đó, phần mặt trăng quay về phía trái đất không được chiếu sáng, nên không phản xạ đủ ánh sáng để được nhìn thấy bằng mắt thường.
Người ta gọi lần trăng tròn này là trăng xanh. Đây là thuật ngữ dùng để chỉ trăng tròn lần thứ hai xuất hiện trong cùng một tháng dương lịch. Thông thường chỉ có 1 lần trăng tròn trong mỗi tháng dương lịch. Nhưng vì trăng tròn xảy ra sau mỗi 29,53 ngày nên đôi khi một tháng dương lịch sẽ có 2 lần trăng tròn. Dù được gọi là trăng xanh, mặt trăng không thực sự có màu xanh vào thời điểm này.
Hừng đông trên bãi tràn ngập nắng hồng, thứ nắng như được ngư dân chở về từ xa khơi. Vài con thuyền cập bờ. Chị cởi dép ấn vào tay tôi, chạy ào xuống sát mép nước, nơi mấy giỏ cá vừa được chuyển lên bến. Chị reo: "Cá hố!". Ánh mắt rất vui của mấy anh ngư dân đổ dồn về phía chị. Tôi cũng nhìn chị chứ nói chi ai. Và tôi thấy hạnh phúc ánh lên trong mắt chị. Đó là niềm hạnh phúc khi gặp một món ngon từng in đậm trong ký ức. Chị mừng như gặp bạn cũ cũng phải.
Mỗi năm về thăm quê một lần, kiểu "vội vã trở về vội vã ra đi", chị không có thời gian dạo bến quê. Lần này chị có 3 ngày ở lại. Giờ thì chị đã gặp… cố ngư. Mua cá xong, hai chị em về. Chị đi chân không, tay cầm mấy con cá. Còn tôi… xách dép. Chị xuýt xoa: "Cá quá trời tươi luôn. Cá này cắt lát, khứa nhẹ vài đường rồi ướp nghệ tươi với chút muối và bột nêm rồi chiên lên. Trời ơi ta nói cơm từ nồi nhôm cho chí nồi đồng đều hết sạch".
Lâu rồi chị mới đích thân làm cá, đứng bếp. Chị vui trong từng cử chỉ, từng cái nhìn với "đối tượng" của mình. Chị cẩn thận xắt cá ra từng lát, nhẹ và dứt khoát. "Cho cá khỏi trầy da, đường cắt phải sắc lẹm cho lát cá nhìn đẹp mắt", chị nói nhẹ nhàng và rõ từng tiếng. Tôi cười: "Làm cá mà như đang… hát tình ca, xin nghiêng mình chào nghệ sĩ ẩm thực". Chị cười rung bờ vai nhỏ…
Nghệ tươi hay nghệ bột đều cho mùi và màu không khác mấy. Nhưng chị nói, cá hố tươi phải được ướp với nghệ tươi mới "môn đương hộ đối". Nghệ tươi chỉ cần một củ nhỏ thôi cũng "chấp" 3 - 4 muỗng nghệ bột. Em nghĩ coi, lát cá ngời ánh bạc như vầy mà rắc bột nghệ vào chẳng phải… xúc phạm cá hay sao? Trưa trờ trưa trật, tôi đạp xe tới nhà thằng bạn. Mệt quá, tôi chỉ nói trong tiếng thở: Chị tao… cá hố… nghệ tươi… tao xin, rồi chỉ tay ra sau nhà. Thằng bạn hiểu. Nó chạy ra vườn như sợ chậm một giây là… gây tai nạn.
Mẹ nói cạo vỏ củ cho sạch đất cát. Chị không làm vậy vì vỏ củ chứa nhiều dưỡng chất. Chị rửa sạch rồi mài củ nghệ mà không nhờ tôi. Mẹ nói đeo bao tay vô, nghệ nó bám lâu lắm. Chị cười: "Con biết, nhưng con muốn mài tay trần cho nó vàng rực lên để sống lại thuở… hoàng kim". Đó là chị nói vui về một thời đói kém. Là chị cả nên hễ đi học về là nhào xuống bếp giành mẹ nấu cơm cho 5 miệng ăn.
Chị trộn đều nghệ với một ít muối, bột nêm rồi nhẹ nhàng ướp vào cá. Đang ngời trắng, cá ngả sang màu vàng tươi rất bắt mắt. Một lát sau, dầu trong chảo lăn tăn sôi nhẹ. Chị canh lửa vừa đủ để nghệ và gia vị thẩm thấu vào từng sớ thịt của cá. Cho cá ra đĩa, chị rắc lên chút lá hành cho... xanh thêm bữa cơm đoàn tụ. Tôi khen những "chiếc nhẫn" hành phi dễ thương. Chị bật mí: Cắt hành từng lát thẳng góc với cuống hành, khi phi sẽ có những vòng tròn đồng tâm nhìn ngộ lắm. Đúng là đĩa cá trông… mỹ miều hẳn.
Món cá hố chị làm đậm đà, mượt mà, quấn quýt cái lưỡi hơn món cá hố nấu ngót hay kho mặn. Cái kết của bữa cơm sum họp ngon vui là thứ gì cũng hết. Chỉ đọng lại trong tôi một "âm mưu" là nghĩ cách giữ chị lại thêm vài bữa nữa…
Má tôi sinh ra và lớn lên ở vùng đất trứ danh đậu phộng Đức Hòa (Long An cũ, nay là Tây Ninh). Năm 19 tuổi, sau khi về làm dâu được ba tháng thì bà nội dắt mẹ đi mua bán… món khoái khẩu nơi đây.
Trên mỗi chuyến xe đi giao hàng thành phẩm đã tách vỏ tại kho nông sản ở Khu đèn Năm ngọn (TP.HCM), má đều mang theo chiếc bình ắc quy để ghé sạc bình ở gần Chợ Lớn. Chờ lúc xe chuẩn bị xuất phát má bảo anh tôi là tài xế lái xe chở đậu phộng: "Vũ nhớ đem theo cái bình ắc quy lát ghé gửi tiệm chú Năm sạc bình nghe con!".
Và cứ thế, mỗi lần xe ghé tiệm chú Năm là một cái bình ắc quy được để lại sạc, một bình ắc quy đã sạc đầy bình được mang lên xe về nhà. Khi ấy, dòng điện từ chiếc bình ắc quy, dòng điện từ TP.HCM đã nối nhịp bờ vui của không chỉ anh chị em gia đình tôi mà còn lan tỏa ra cả xóm chung một niềm vui lớn. Ánh sáng từ bóng đèn để anh chị em tôi học bài mỗi tối; có tivi trắng đen để học hỏi nắm bắt thông tin kiến thức về khoa học, kinh tế, nâng cao đời sống.
Cách biệt mấy mươi năm, má tôi giờ đây cũng đã già và cửa hàng sạc bình của chú Năm cũng đã đóng cửa do sự đổi thay của cuộc sống hiện đại; nhưng những dòng điện từ chiếc bình ắc quy của chú Năm năm nào mãi còn đó những nhịp bờ vui.
Trên chuyến xe đi tái khám bệnh suy tim cho má tôi từ nhà lên bệnh viện tại TP.HCM luôn có chị hai đi cùng. Khi xe đi ngang qua khu vực Công ty Pouyuen VN thì ký ức những ngày chị đi làm trong xưởng lại hiện về như vừa mới hôm qua. Lúc đó, ở quê công việc chính là làm ruộng, hết vụ mùa thì người dân nhàn rỗi. Thế là chị em trong xóm bảo nhau đi làm công ty may giày.
Chị tâm tình: "Hồi năm 1996, Công ty Pouyuen mới thành lập lớn nhất vùng này, chuyên gia công giày thể thao lớn nhất VN đó". Nghe chị nói, tôi ngạc nhiên hỏi: "Sao hồi đó mình không làm gần nhà mà đi làm chi xa vậy?". Chị kể: "Tại hồi đó em còn nhỏ không biết, lúc đó đang vào giai đoạn hội nhập đổi mới 1986 - 1995, TP cùng Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC) đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, góp phần quan trọng vào cuộc sống xây dựng và phát triển".
Thấy tôi trầm ngâm, chị kể tiếp: "Chính EVNHCMC đã cung cấp điện cho Pouyuen hoạt động. Em nhìn kìa, phía khuôn viên gần cổng phụ chính là khu vực lưới điện cùng các trạm bình biến áp để truyền tải điện đó".
"Ngành điện thành phố đi tới đâu, kinh tế phát triển tới đó, có công ty này thì không chỉ chị mà những chị em ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, kể cả các khu vực biên giới như Đức Huệ cũng được đến đây làm việc, có đồng lương ổn định để trang trải cuộc sống, đóng tiền ăn học cho các con, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đó em ạ", chị tôi tâm sự.