Chiều 10-4, theo thông tin từ Bệnh viện Tai mũi họng TP.HCM, các bác sĩ tại đây vừa điều trị thành công một trường hợp biến chứng nặng do viêm xoang. Đó là anh H., 20 tuổi, ngụ tại TP.HCM. Trường hợp này được đánh giá là điển hình cho mức độ nguy hiểm của bệnh viêm xoang khi không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Anh H. được chẩn đoán viêm đa xoang hai bên, trong đó tình trạng viêm bên phải nặng hơn, kèm theo viêm lan ra phần mềm vùng trán phải. Đáng chú ý, bệnh nhân đã bị hủy xương thành trước xoang trán phải, trên nền vẹo vách ngăn mũi trái và quá phát cuốn mũi dưới hai bên. Đây là những yếu tố làm cản trở dẫn lưu tự nhiên của xoang, khiến bệnh dễ tiến triển nặng.
Trước khi nhập viện khoảng 4 ngày, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng chảy mũi mủ đục bên phải kèm đau đầu dữ dội vùng trán. Tuy nhiên do chủ quan, bệnh nhân tự mua thuốc điều trị ngoại trú nhưng không cải thiện. Đến ngày thứ tư, vùng trán phải bắt đầu sưng nề, đỏ, lan xuống mi mắt phải, đây là dấu hiệu cảnh báo biến chứng nguy hiểm.
Kết quả chụp CT mũi xoang cho thấy tình trạng viêm đa xoang rõ rệt, đặc biệt bên phải. Hình ảnh học ghi nhận tổn thương lan từ xoang trán phải ra phần mềm vùng trán, kèm theo khuyết xương thành trước xoang trán. Đây là biểu hiện điển hình của biến chứng Pott’s Puffy Tumor – một dạng viêm xương trán kèm áp xe dưới màng xương.
Ngay sau khi nhập viện, bệnh nhân được điều trị nội khoa tích cực bằng kháng sinh phổ rộng kết hợp thuốc kháng viêm đường tĩnh mạch. Việc này giúp kiểm soát nhanh tình trạng nhiễm trùng và giảm phù nề niêm mạc, tạo điều kiện thuận lợi cho can thiệp phẫu thuật.
Sau một ngày điều trị, khi tình trạng ổn định hơn, ê kíp bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật nội soi mũi xoang với sự hỗ trợ của hệ thống định vị 3 chiều hiện đại. Công nghệ này cho phép xác định chính xác vị trí tổn thương, giúp mở rộng lỗ thông các xoang, làm sạch ổ viêm và hút triệt để mủ đục bên trong.
Trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ đã lấy mẫu mủ gửi xét nghiệm, kết quả xác định tác nhân gây bệnh là vi khuẩn tụ cầu. Sau 3 ngày can thiệp, bệnh nhân có dấu hiệu hồi phục rõ rệt: vùng trán và hốc mắt hết sưng, không còn đau đầu, tình trạng chảy mũi chấm dứt hoàn toàn.
Theo các chuyên gia, Pott’s Puffy Tumor không phải là khối u ác tính như nhiều người nhầm tưởng, mà là một biến chứng nhiễm trùng nặng của viêm xoang trán.
TS.BS Nguyễn Minh Hảo Hớn, trưởng khoa mũi xoang Bệnh viện Tai mũi họng, cho biết cơ chế gây bệnh liên quan đến cấu trúc xương trán mỏng và hệ thống tĩnh mạch xuyên xương không có van một chiều. Khi xoang bị bít tắc, áp lực mủ tăng cao có thể phá hủy xương, tạo áp xe dưới da, đồng thời vi khuẩn có thể lan ngược vào nội sọ, gây viêm màng não hoặc áp xe não.
Trường hợp bệnh nhân H.M.H đặc biệt phức tạp do có sự hiện diện của tế bào liên xoang trán khó tiếp cận, kết hợp với tình trạng viêm phù nề cấp tính gây bít tắc hoàn toàn. Điều này khiến việc xác định và dẫn lưu ổ mủ gặp nhiều khó khăn. Nhờ sự hỗ trợ của hệ thống định vị 3 chiều, ê kíp phẫu thuật đã xử lý chính xác tổn thương, hạn chế tối đa nguy cơ biến chứng.
PGS Lê Trần Quang Minh, Giám đốc Bệnh viện Tai mũi họng, cho biết theo các nghiên cứu quốc tế, có đến 72% bệnh nhân trẻ tuổi mắc biến chứng này có tổn thương lan vào nội sọ. Trước khi có kháng sinh, tỉ lệ tử vong của bệnh có thể lên đến hơn 60%. Vì vậy, việc phát hiện sớm và điều trị đúng cách đóng vai trò quyết định trong việc cứu sống người bệnh.
Các bác sĩ khuyến cáo người dân không nên chủ quan với các triệu chứng tưởng chừng đơn giản của viêm xoang.
Người dân cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa khi xuất hiện các dấu hiệu như đau đầu kéo dài không giảm, sưng nề vùng trán hoặc quanh mắt, chảy mũi mủ đục kèm sốt, ớn lạnh hoặc mệt mỏi. Việc thăm khám sớm giúp phát hiện bệnh kịp thời, tránh những biến chứng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng.
Những sự cố liên tiếp này là hồi chuông cảnh báo về nguy cơ mất an toàn thực phẩm trong môi trường học đường, đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ và có biện pháp phòng ngừa chặt chẽ hơn.
Ngày 28-4, Sở Y tế TP.HCM cho biết từ ngày 25 đến trưa 27-4, bốn bệnh viện trên địa bàn TP đã tiếp nhận loạt ca bệnh nghi ngờ bị ngộ độc thực phẩm tại Trường tiểu học Đặng Thùy Trâm, phường Tân Thuận, TP.HCM.
Trong đó Bệnh viện Nguyễn Thị Thập tiếp nhận điều trị 13 ca là các em học sinh, Bệnh viện Nhi đồng 2 có 9 ca học sinh, Bệnh viện Khánh Hội 1 ca học sinh và Bệnh viện Nhân dân Gia Định 2 ca người lớn (là bảo mẫu).
Trong các ca nhập viện có một học sinh khi nhập viện Bệnh viện Nhi đồng 2 có dấu hiệu sốt cao, mất nước nặng, sốc, gồng và co giật, toan chuyển hóa nặng. May mắn sau một ngày điều trị tích cực (chống sốc, vận mạch cao, thở máy), trẻ đã tỉnh táo, giảm sốt, giảm tiêu lỏng, ngưng vận mạch và cai thở máy.
Trước đó, Sở An toàn thực phẩm TP.HCM đã thông tin kết quả điều tra vụ ngộ độc thực phẩm tại Trường tiểu học Bình Quới Tây khiến 266 học sinh mắc, trong đó có 190 em phải nhập viện do bữa ăn bán trú ngày 7-4.
Bà Phạm Khánh Phong Lan, Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TP.HCM, cho hay vấn đề bảo đảm an toàn thực phẩm tại các bếp ăn tập thể như trường học, bệnh viện hay doanh nghiệp luôn được cơ quan quản lý đặc biệt quan tâm, nhất là trong môi trường giáo dục, tuy nhiên thực tế vẫn chưa thể yên tâm tuyệt đối.
Một số vụ việc gần đây cho thấy vẫn còn những đơn vị cung cấp suất ăn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, thậm chí qua kiểm tra hoặc phản ánh từ báo chí vẫn phát hiện tồn tại, sai phạm.
Bà Lan nhấn mạnh trách nhiệm không chỉ thuộc về doanh nghiệp mà còn nằm ở nhà trường, đặc biệt là hiệu trưởng, người chịu trách nhiệm cao nhất nếu xảy ra sự cố. Đồng thời phụ huynh và học sinh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát, phản ảnh chất lượng bữa ăn.
Bà Lan cho biết thêm với điều kiện khí hậu nóng ẩm, nguy cơ thực phẩm bị hư hỏng, biến chất là rất lớn. Đặc biệt số lượng thức ăn cơ sở chế biến lớn, không thể đảm bảo kiểm soát tuyệt đối 100%, rất cần sự phối hợp của nhiều bên, trong đó có cả báo chí và cộng đồng để phòng ngừa ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể.
PGS Nguyễn Duy Thịnh, nguyên giảng viên Viện công nghệ sinh học và thực phẩm (ĐH Bách khoa Hà Nội), cũng cho hay trong trường có tổ chức ăn bán trú, người chịu trách nhiệm cao nhất là hiệu trưởng.
Bởi hiệu trưởng là người quản lý toàn bộ hoạt động của nhà trường, bao gồm cả bữa ăn của học sinh. Nếu xảy ra ngộ độc thực phẩm, trước hết phải kiểm điểm trách nhiệm của người đứng đầu. Không thể để tình trạng sự việc lặp lại rồi chỉ rút kinh nghiệm chung chung.
Để ngăn ngừa những sự việc như ngộ độc xảy ra, giải pháp không nằm ở những biện pháp cao siêu mà ở việc kiểm soát chặt chẽ từng khâu trong chuỗi cung ứng và chế biến thực phẩm. Tất cả các khâu đều phải sạch và đúng quy trình.
Mới đây, Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM cũng đã có văn bản gửi thủ trưởng các đơn vị giáo dục ở TP về bữa ăn bán trú. Văn bản nêu rõ các cơ sở giáo dục đang tổ chức bữa ăn học đường nghiêm túc triển khai rà soát, báo cáo toàn diện việc tổ chức và cung cấp bữa ăn học đường.
Sở Y tế TP.HCM nhận định để phòng ngừa ngộ độc thực phẩm do các loại vi khuẩn như Salmonella enteritidis cần thực hiện đồng bộ các biện pháp như: lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, còn hạn sử dụng và không có dấu hiệu hư hỏng; nấu chín kỹ thịt, trứng và các sản phẩm từ gia cầm.
Đồng thời không sử dụng thực phẩm sống hoặc chưa chín; giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay sạch trước khi chế biến và sau khi đi vệ sinh; vệ sinh thường xuyên bề mặt, dụng cụ nhà bếp; tách riêng thực phẩm sống và chín để tránh nhiễm chéo; đồng thời sử dụng thức ăn ngay sau khi nấu hoặc bảo quản lạnh đúng cách và hâm nóng kỹ trước khi ăn.
Trứng cung cấp protein chất lượng cao cùng nhiều vitamin và khoáng chất thiết yếu. Tuy nhiên, thành phần dinh dưỡng của trứng sống và nấu chín có một số khác biệt.
Thành phần dinh dưỡng tương đương
Về cơ bản, trứng sống và chín có thành phần dinh dưỡng tương đương. Một quả trứng cung cấp khoảng 6 g protein, chất béo lành mạnh, cùng nhiều vi chất như vitamin D, canxi, phốt pho và kali.
Lòng đỏ đặc biệt giàu choline - dưỡng chất quan trọng cho não bộ và các chất chống oxy hóa như lutein, zeaxanthin giúp bảo vệ thị lực. Tuy nhiên, phần lớn dưỡng chất tập trung ở lòng đỏ, trong khi lòng trắng chủ yếu chứa protein và nước.
Hấp thụ protein kém hiệu quả hơn
Dù trứng là nguồn protein hoàn chỉnh, cơ thể lại hấp thụ protein từ trứng sống kém hơn so với trứng chín. Một số nghiên cứu cho thấy khoảng 90% protein trong trứng chín được hấp thụ, trong khi con số này ở trứng sống chỉ khoảng 50%.
Nguyên nhân là khi nấu chín, nhiệt độ làm biến tính protein, khiến chúng dễ bị enzyme tiêu hóa phân giải hơn. Vì vậy, ăn trứng sống để bổ sung protein có thể kém hiệu quả hơn so với trứng chín.
Có thể cản trở hấp thụ biotin
Biotin (vitamin B7) đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa năng lượng và sức khỏe da, tóc, móng. Dù lòng đỏ trứng giàu biotin, lòng trắng trứng sống lại chứa avidin - một protein có thể gắn với biotin trong đường ruột, làm giảm hấp thu.
Khi trứng được nấu chín, avidin bị phá hủy, giúp cơ thể hấp thu biotin tốt hơn. Nguy cơ thiếu hụt thường thấp nếu chỉ thỉnh thoảng ăn trứng sống, nhưng việc tiêu thụ thường xuyên có thể ảnh hưởng đến cân bằng dinh dưỡng.
Nguy cơ nhiễm khuẩn Salmonella
Rủi ro lớn nhất khi ăn trứng sống là nhiễm vi khuẩn Salmonella, nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm. Vi khuẩn này có thể tồn tại trong trứng từ khi hình thành hoặc xâm nhập qua vỏ trong quá trình bảo quản, vận chuyển.
Người nhiễm có thể gặp các triệu chứng như đau bụng, tiêu chảy, nôn mửa và sốt, thường xuất hiện sau vài giờ đến vài ngày. Dù đa số trường hợp có thể tự hồi phục, nguy cơ biến chứng cao hơn ở trẻ nhỏ, người lớn tuổi, phụ nữ mang thai và người suy giảm miễn dịch.
Một số người được khuyến cáo nên tránh hoàn toàn trứng sống, bao gồm người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ và người có hệ miễn dịch yếu. Những người này khi ăn trứng sống, nguy cơ từ vi khuẩn có thể nghiêm trọng hơn nhiều so với lợi ích dinh dưỡng.
Nếu cần thiết dùng trứng chưa chín kỹ trong một số món, nên ưu tiên trứng đã tiệt trùng để giảm rủi ro. Ngoài ra, cần bảo quản trứng trong tủ lạnh, không sử dụng trứng nứt vỡ hoặc quá hạn, đồng thời đảm bảo vệ sinh khi chế biến. Tuy vậy, cách đơn giản và hiệu quả nhất để loại bỏ rủi ro vẫn là nấu chín trứng trước khi ăn.
Nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí khoa học Journal of the American Ceramic Society đã phát hiện sức mạnh chống ung thư mạnh mẽ từ chiết xuất tự nhiên của nghệ và gừng.
Nghiên cứu do Đại học Bang Washington (Mỹ) thực hiện, tập trung vào các biến chứng thường gặp liên quan đến cấy ghép xương.
Cấy ghép xương thường được sử dụng ở các vùng cơ thể bao gồm hông, đầu gối, cột sống, vai và xương dài bị chấn thương, thoái hóa hoặc do bệnh tật. Các biến chứng thường gặp bao gồm nhiễm trùng và sự tồn tại của tế bào ung thư xương ác tính - loại ung thư phổ biến nhất ở trẻ em và thanh thiếu niên.
Để giải quyết các biến chứng trên, nhóm nghiên cứu đã phát triển một lớp phủ cho cấy ghép titan bằng cách sử dụng chiết xuất gừng và curcumin, hoạt chất trong nghệ. Lớp phủ này được thiết kế để giải phóng các hợp chất dần dần theo thời gian. Phương pháp này đã được thử nghiệm trong điều kiện phòng thí nghiệm và trên mô hình chuột với cấy ghép xương đùi.
Kết quả cho thấy cấy ghép được phủ lớp từ chiết xuất gừng và nghệ đã tăng cường liên kết giữa xương và titan, tăng gấp đôi độ bám dính trong vòng 6 tuần sau phẫu thuật. Nó cũng loại bỏ 92% vi khuẩn trên bề mặt cấy ghép.
Đáng chú ý, nó giúp giảm số tế bào liên quan đến ung thư gấp 11 lần so với các mẫu không được xử lý, theo trang tin khoa học Scitech Daily.
Tác giả nghiên cứu, Giáo sư Susmita Bose từ Đại học Bang Washington, nhấn mạnh rằng lợi ích của nghệ và gừng không chỉ giới hạn trong công nghệ cấy ghép. Khi được đưa vào chế độ ăn uống, cả hai hợp chất này đều được biết đến với tác dụng chống viêm và chống oxy hóa.
Kết quả thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và trên mô hình chuột với cấy ghép xương đùi cho thấy cấy ghép được phủ lớp chiết xuất từ nghệ và gừng tăng cường liên kết xương - titan, tăng gấp đôi độ bám dính trong vòng 6 tuần sau phẫu thuật. Đáng chú ý, nó loại bỏ 92% vi khuẩn trên bề mặt và giảm 11 lần số tế bào liên quan đến ung thư so với mẫu không xử lý.
Các nhà nghiên cứu tin rằng các hợp chất này có thể được sử dụng dễ dàng như một biện pháp phòng ngừa trong cuộc sống hằng ngày.
Các tác giả nghiên cứu kết luận rằng công nghệ này giải quyết nhiều thách thức lớn trong cấy ghép xương. Hiểu đơn giản, các nhà khoa học đã kết hợp sức mạnh chữa lành tự nhiên của nghệ và gừng để tạo ra vật liệu cấy ghép “thông minh” hơn: Bám chắc vào xương, tự giảm vi khuẩn và hạn chế tế bào ung thư, mở ra hy vọng mới cho người cần thay khớp hoặc điều trị chấn thương.