Đây là một trong những nội dung trọng tâm tại Kế hoạch hành động thực hiện chỉ thị số 52-CT/TW ngày 3-10-2025 của Ban Bí thư về thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân trong giai đoạn mới, vừa được Phó thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký ban hành.
Kế hoạch hành động nhằm hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2026 đạt trên 95,5% dân số tham gia BHYT và tiến tới bao phủ BHYT toàn dân vào năm 2030, nâng cao quyền lợi người tham gia, giảm tỉ lệ chi tiền túi khi khám chữa bệnh và tăng khả năng tiếp cận các phương pháp điều trị tiên tiến.
Theo kế hoạch hành động, BHYT sẽ từng bước tăng tỉ lệ và mức thanh toán đối với nhiều dịch vụ y tế thiết yếu, đặc biệt là các hoạt động dự phòng và phát hiện sớm bệnh tật. Một số nội dung mới đáng chú ý gồm mở rộng chi trả cho dịch vụ phòng bệnh, khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc theo yêu cầu chuyên môn, tư vấn dinh dưỡng và quản lý bệnh mạn tính.
Chính phủ cũng đặt mục tiêu xây dựng cơ chế hỗ trợ trực tiếp cho người tham gia BHYT khi sử dụng dịch vụ y tế, nhất là hộ nghèo, cận nghèo, người hưởng chính sách xã hội. Một số chương trình hỗ trợ giảm chi phí cùng chi trả sẽ được nghiên cứu triển khai thí điểm trong thời gian tới.
Kế hoạch cũng yêu cầu rà soát, sửa đổi các quy định liên quan đến danh mục thuốc, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT theo hướng phù hợp với thực tiễn điều trị và khả năng cân đối của quỹ BHYT.
Theo bà Trần Thị Trang – Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm tế (Bộ Y tế), thuốc hiện vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng chi khám chữa bệnh BHYT. Năm 2023, con số này tăng lên 45,841 nghìn tỉ đồng, tương đương 32,82%. Đến năm 2024, chi phí thuốc tiếp tục tăng lên 50,784 nghìn tỉ đồng, dù tỉ trọng giảm còn 31,22%.
Hiện việc thanh toán thuốc BHYT được thực hiện theo danh mục quy định tại thông tư số 20/2022, gồm 1.037 hoạt chất thuốc hóa dược và sinh phẩm, chia thành 27 nhóm lớn cùng 59 thuốc phóng xạ và chất đánh dấu phục vụ chẩn đoán, điều trị.
Tuy nhiên, phần lớn danh mục thuốc BHYT hiện nay vẫn được xây dựng trên nền tảng danh mục từ 2018. Trong khi đó, khoa học dược phẩm phát triển rất nhanh với nhiều thuốc phát minh mới trong điều trị ung thư, bệnh hiếm và bệnh mạn tính có hiệu quả điều trị cao nhưng chi phí lớn.
Để đáp ứng nhu cầu điều trị thực tế, Bộ Y tế đang hoàn thiện dự thảo sửa đổi thông tư 20/2022 theo hướng mở rộng danh mục thuốc được BHYT chi trả, bổ sung 84 thuốc hóa dược và sinh phẩm mới, trong đó có nhiều thuốc điều trị đặc hiệu chi phí cao nhưng mang lại hiệu quả vượt trội.
“Có 30 thuốc điều trị ung thư dự kiến được bổ sung, chiếm khoảng 35,7% tổng số thuốc mới. Đây chủ yếu là các thuốc điều trị đích, thuốc miễn dịch và kháng thể đơn dòng thế hệ mới. Ngoài ra, dự thảo còn bổ sung 24 thuốc điều trị bệnh mạn tính như tim mạch, đái tháo đường, bệnh hô hấp và rối loạn tâm thần, đồng thời đưa thêm 18 thuốc điều trị bệnh hiếm vào danh mục chi trả”, bà Trang nêu.
TS.BS Đặng Huy Quốc Thịnh, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM, cho biết việc mở rộng phạm vi chi trả cho các thuốc điều trị ung thư thế hệ mới được xem là một tín hiệu rất tích cực đối với cả bệnh nhân lẫn bác sĩ điều trị.
Theo bác sĩ Thịnh, trước đây nhiều loại thuốc điều trị ung thư chi phí cao chưa được BHYT chi trả nên có trường hợp bệnh nhân buộc phải từ bỏ điều trị hoặc tìm đến những loại thuốc trôi nổi, không rõ nguồn gốc tại một số phòng khám tư nhân.
Thực tế này tiềm ẩn nhiều rủi ro vì bệnh nhân khó kiểm chứng được thuốc thật hay giả. Gần đây truyền thông quốc tế cũng đã đưa tin về việc phát hiện các đường dây sản xuất thuốc giả, trong đó có cả thuốc điều trị ung thư. Vì vậy, khi BHYT hỗ trợ chi trả cho thuốc chính thống, người bệnh sẽ yên tâm điều trị tại bệnh viện hơn, đồng thời giảm nguy cơ sử dụng thuốc kém chất lượng.
Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui đó TS Thịnh cũng nhấn mạnh trách nhiệm của đội ngũ bác sĩ trong việc sử dụng thuốc đúng chỉ định và theo dõi sát hiệu quả điều trị. Các loại thuốc này có chi phí rất cao nên cần được chỉ định đúng đối tượng, đánh giá thường xuyên và ngưng sử dụng khi không còn hiệu quả, nhằm tránh lãng phí nguồn quỹ BHYT.
Theo bác sĩ Nguyễn Duy Anh – chuyên khoa ung bướu, điều trị ung thư hiện nay là điều trị đa mô thức, kết hợp nhiều phương pháp như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp sinh học và thuốc điều trị đích. Những tiến bộ này giúp kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân nhưng cũng khiến chi phí điều trị tăng mạnh.
Bên cạnh bổ sung thuốc mới, dự thảo thông tư cũng đề xuất sửa đổi điều kiện và tỉ lệ thanh toán đối với 52 thuốc đã có trong danh mục hiện hành nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận điều trị và giảm mức đồng chi trả cho người bệnh.
Bà Trang cũng cho hay dự kiến trong quý 2 năm nay, Bộ Y tế sẽ ban hành danh mục này. Dù BHYT chỉ chi trả một phần, việc đưa các thuốc điều trị ung thư thế hệ mới vào danh mục vẫn mang ý nghĩa rất lớn đối với người bệnh.
“Đây là nhóm thuốc có hiệu quả điều trị cao nhưng rất đắt đỏ. Việc BHYT hỗ trợ ở mức đồng chi trả 30-70% cũng giúp giảm đáng kể áp lực tài chính và tăng khả năng tiếp cận điều trị”, bà Trang nói.
Nếu trước đây khám sức khỏe định kỳ không được BHYT chi trả thì từ ngày 1-7-2026, người dân trên cả nước sẽ chính thức được quỹ BHYT chi trả chi phí khám sức khỏe định kỳ và khám sàng lọc miễn phí theo lộ trình và khả năng cân đối của quỹ. Quy định này nằm trong Luật Phòng bệnh, được Quốc hội biểu quyết thông qua tháng 12-2025.
Việc khám định kỳ giúp phát hiện sớm các bệnh không lây nhiễm phổ biến như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa, ung thư… Qua đó tăng khả năng điều trị hiệu quả, giảm thiểu biến chứng và chi phí điều trị về lâu dài. Đây được xem là giải pháp bền vững nhằm giảm gánh nặng chi phí y tế cho cả người dân và hệ thống BHYT.
Chia sẻ về việc chuẩn bị khám sức khỏe miễn phí cho người dân, TS Hà Anh Đức – Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế – cho biết đến nay bộ đã xây dựng các hướng dẫn chuyên môn để bảo đảm việc thực hiện thống nhất trên toàn quốc.
Dự kiến kinh phí để tổ chức triển khai khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân được xác định nhiều nguồn, trong đó có BHYT.
“Các địa phương sẽ xây dựng chương trình cụ thể trên tinh thần thăm khám cho người dân ngay tại cơ sở y tế gần nhất, đó là trạm y tế. Hiện nay các trạm y tế đủ điều kiện triển khai việc này.
Trường hợp không đủ điều kiện, trạm sẽ được hỗ trợ về mặt chuyên môn và nhân lực để triển khai việc khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân ngay tại tuyến y tế ban đầu”, TS Đức chia sẻ.
Cũng theo ông Đức, đối tượng cần được ưu tiên nhất khám sức khỏe định kỳ hiện nay là nhóm chưa tham gia BHYT. Cả nước còn khoảng 5% dân số chưa tham gia, tương đương hơn 5 triệu người chưa có thẻ BHYT, trong đó có người chưa bao giờ được đi khám sức khỏe.
Vì vậy đây là nhóm ưu tiên nhất khi bắt đầu triển khai khám sức khỏe định kỳ cho người dân. Những đối tượng khác như gia đình chính sách, người có công cũng sẽ được ưu tiên.
Gan là một trong những cơ quan nội tạng quan trọng nhất, đảm nhiệm nhiều chức năng thiết yếu đồng thời đóng vai trò "giải độc", loại bỏ các chất có hại khỏi cơ thể. Khi gan khỏe mạnh, toàn bộ cơ thể cũng hoạt động hiệu quả hơn. Vì vậy, chế độ ăn uống hỗ trợ bảo vệ và làm sạch gan là rất cần thiết.
Các loại quả mọng như việt quất và nam việt quất giàu anthocyanin - chất chống oxy hóa có thể bảo vệ gan khỏi nhiều dạng tổn thương, tăng cường khả năng miễn dịch của gan. Thêm chúng vào sữa chua, sinh tố, nước ép để tăng thêm chất dinh dưỡng có lợi cho gan.
Gan là một trong những cơ quan nội tạng quan trọng nhất, đảm nhiệm nhiều chức năng thiết yếu đồng thời đóng vai trò "giải độc", loại bỏ các chất có hại khỏi cơ thể. Khi gan khỏe mạnh, toàn bộ cơ thể cũng hoạt động hiệu quả hơn. Vì vậy, chế độ ăn uống hỗ trợ bảo vệ và làm sạch gan là rất cần thiết.
Các loại quả mọng như việt quất và nam việt quất giàu anthocyanin - chất chống oxy hóa có thể bảo vệ gan khỏi nhiều dạng tổn thương, tăng cường khả năng miễn dịch của gan. Thêm chúng vào sữa chua, sinh tố, nước ép để tăng thêm chất dinh dưỡng có lợi cho gan.
Củ dền cung cấp nhiều vitamin, khoáng chất và chất chống oxy hóa. Thực phẩm này có thể cải thiện dòng chảy của mật, từ đó hỗ trợ quá trình phân giải, đào thải độc tố qua gan.
Củ dền cung cấp nhiều vitamin, khoáng chất và chất chống oxy hóa. Thực phẩm này có thể cải thiện dòng chảy của mật, từ đó hỗ trợ quá trình phân giải, đào thải độc tố qua gan.
Cà phê chứa polyphenol - hợp chất có đặc tính chống oxy hóa và chống viêm, góp phần giảm nguy cơ phát triển xơ gan. Uống khoảng 2-3 tách cà phê mỗi ngày có thể giúp bảo vệ gan trước tác động của rượu bia hoặc chế độ ăn kém lành mạnh.
Cà phê chứa polyphenol - hợp chất có đặc tính chống oxy hóa và chống viêm, góp phần giảm nguy cơ phát triển xơ gan. Uống khoảng 2-3 tách cà phê mỗi ngày có thể giúp bảo vệ gan trước tác động của rượu bia hoặc chế độ ăn kém lành mạnh.
Tỏi là loại thực vật đa dụng, chứa các hợp chất có lợi. Khi sử dụng thường xuyên, tỏi có thể giúp bảo vệ tim mạch, gan, hệ miễn dịch, hệ tiêu hóa và nhiều chức năng khác của cơ thể. Điều này là do tỏi chứa allicin - hợp chất có đặc tính chống oxy hóa và kháng khuẩn.
Tỏi là loại thực vật đa dụng, chứa các hợp chất có lợi. Khi sử dụng thường xuyên, tỏi có thể giúp bảo vệ tim mạch, gan, hệ miễn dịch, hệ tiêu hóa và nhiều chức năng khác của cơ thể. Điều này là do tỏi chứa allicin - hợp chất có đặc tính chống oxy hóa và kháng khuẩn.
Thảo mộc và gia vị như oregano (kinh giới tây), xô thơm hoặc hương thảo giàu polyphenol - hợp chất có lợi cho cả gan và tim mạch. Sử dụng các gia vị này thường xuyên còn giảm lượng muối nạp vào từ khẩu phần ăn. Quế, rau mùi, nghệ, gừng cũng có khả năng hỗ trợ gan thải độc tố.
Thảo mộc và gia vị như oregano (kinh giới tây), xô thơm hoặc hương thảo giàu polyphenol - hợp chất có lợi cho cả gan và tim mạch. Sử dụng các gia vị này thường xuyên còn giảm lượng muối nạp vào từ khẩu phần ăn. Quế, rau mùi, nghệ, gừng cũng có khả năng hỗ trợ gan thải độc tố.
Các loại hạt, đặc biệt là hạnh nhân, cung cấp vitamin E dồi dào. Đây là dưỡng chất được cho là có thể giảm nguy cơ mắc gan nhiễm mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa. Hạnh nhân còn tốt cho tim mạch. Bạn có thể ăn trực tiếp các loạt hạt như bữa phụ hoặc thêm vào salad để tăng độ giòn và giá trị dinh dưỡng.
Các loại hạt, đặc biệt là hạnh nhân, cung cấp vitamin E dồi dào. Đây là dưỡng chất được cho là có thể giảm nguy cơ mắc gan nhiễm mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa. Hạnh nhân còn tốt cho tim mạch. Bạn có thể ăn trực tiếp các loạt hạt như bữa phụ hoặc thêm vào salad để tăng độ giòn và giá trị dinh dưỡng.
Đầy bụng là tình trạng khá phổ biến khi ăn rau sống hoặc các loại rau giàu chất xơ như bông cải xanh, bắp cải, măng tây. Tuy nhiên, nguyên nhân thường không phải do “không hợp rau” mà liên quan nhiều hơn đến cách chế biến, tốc độ tăng chất xơ và khả năng thích nghi của hệ tiêu hóa, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Dưới đây là những cách giúp tăng hấp thu dinh dưỡng trong rau nhưng lại không gây đầy hơi:
Không phải mọi cách nấu đều giống nhau. Luộc quá lâu có thể làm thất thoát các loại vitamin tan trong nước như vitamin C và folate. Trong khi đó, hấp hoặc xào nhanh ở nhiệt độ vừa phải thường giúp giữ lại dưỡng chất tốt hơn.
Hấp còn giúp làm mềm chất xơ trong rau mà không khiến rau mềm nhũn. Điều này giúp hệ tiêu hóa xử lý thức ăn dễ hơn và giảm cảm giác đầy bụng sau ăn. Nếu thường bị đầy bụng sau khi ăn rau, có thể ưu tiên rau hấp, luộc vừa chín hoặc xào nhanh với ít dầu, hạn chế ăn nhiều rau sống cùng lúc.
Chất xơ rất tốt cho sức khỏe đường ruột nhưng cơ thể cần thời gian để thích nghi. Khi đột ngột ăn nhiều rau hoặc tăng mạnh lượng chất xơ, vi khuẩn đường ruột sẽ lên men nhiều hơn và tạo ra nhiều khí hơn. Đây là lý do nhiều người cảm thấy chướng bụng khi mới chuyển sang chế độ ăn nhiều rau củ.
Nếu trước đây ăn ít rau, nên tăng từ từ trong vài tuần thay vì thay đổi đột ngột. Bắt đầu bằng rau nấu chín và chia đều lượng rau trong ngày thường giúp cơ thể thích nghi dễ hơn.
Một số vitamin trong rau là vitamin tan trong chất béo, chẳng hạn vitamin A, E và K. Nếu chỉ ăn rau mà không có chất béo, cơ thể có thể hấp thu các vitamin này kém hơn.
Do đó, thêm một lượng nhỏ chất béo lành mạnh như dầu ô liu, trái bơ, các loại hạt hoặc cá hồi có thể giúp tăng hấp thu vitamin và các hợp chất chống ô xy hóa trong rau. Lưu ý là không cần dùng quá nhiều dầu mỡ, một lượng vừa phải là đủ.
Một nguyên nhân ít được chú ý của đầy bụng là nuốt quá nhiều không khí khi ăn. Ăn quá nhanh, vừa ăn vừa nói chuyện liên tục hoặc ăn trong trạng thái căng thẳng có thể làm nuốt nhiều không khí vào bụng.
Rau xanh thường chứa nhiều chất xơ nên cần được nhai kỹ hơn các thực phẩm mềm. Nếu nhai quá nhanh, dạ dày và ruột sẽ phải làm việc nhiều hơn để xử lý thức ăn, từ đó dễ gây cảm giác nặng bụng hoặc khó tiêu. Ăn chậm, nhai kỹ và không ăn quá no sẽ giúp hệ tiêu hóa hoạt động dễ dàng hơn, theo Eating Well.
Theo thống kê trên thế giới, cứ 4 người thì có ít nhất 1 người từng mắc các bệnh viêm đường hô hấp.
Trăn trở trước thực tế đó, GS.TS Nguyễn Mạnh Cường và nhóm nghiên cứu Viện Hoá học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã kiên trì theo đuổi hướng tìm kiếm các hoạt chất chống viêm từ dược liệu tự nhiên.
Ông kỳ vọng những nghiên cứu bài bản này sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm an toàn, có cơ sở khoa học, hỗ trợ bảo vệ sức khỏe lá phổi. Đồng thời, đây cũng là hướng đi giúp phát huy giá trị nguồn dược liệu địa phương, đặc biệt là cây Quýt hôi, cây thuốc đặc trưng của Việt Nam nói chung và của tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
Nghiên cứu tập trung khảo sát 8 cây thuốc chọn lọc có tác dụng kháng viêm trong đó có Quýt hôi, nhằm đánh giá toàn diện từ thành phần hóa học, cơ chế tác dụng đến khả năng phát triển sản phẩm.
Quýt hôi là cây thuốc bản địa của vùng núi Pù Luông, Thanh Hóa. Hiện nay, cây được trồng và mọc tự nhiên tại một số xã vùng núi cao của huyện Bá Thước như Ban Công, Thành Lâm, Thành Sơn, Lũng Cao, Cổ Lũng và Lũng Niêm với diện tích ước tính khoảng 60-80ha.
GS Cường chia sẻ: "Trong dân gian, lá và vỏ quả Quýt hôi từ lâu đã được đồng bào Thái và Mường sử dụng để trị ho hen, cảm cúm, phong thấp. Đặc biệt, lá Quýt hôi còn là thành phần chính trong bài thuốc hỗ trợ điều trị viêm phổi của mế Tiến ở Tân Lạc (Hòa Bình), khu vực giáp ranh với Bá Thước, Thanh Hóa.
Tuy nhiên, dù được sử dụng khá phổ biến trong y học dân gian, loài cây này trước đây hầu như chưa được nghiên cứu đầy đủ về tên khoa học, thành phần hóa học cũng như tác dụng kháng viêm".
Từ thực tế đó, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và đánh giá một cách hệ thống nhằm làm rõ giá trị khoa học của nguồn dược liệu bản địa này.
Bằng việc kết hợp song song phương pháp so sánh hình thái thực vật và giải trình tự gen, nhóm nghiên cứu lần đầu tiên xác định chính xác tên khoa học của Quýt hôi là Citrus × aurantium L., trong đó dấu “×” cho thấy đây là loài lai hóa tự nhiên.
Nhiều tiềm năng chữa bệnh
Khi tiến hành phân tích tinh dầu lá Quýt hôi tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu còn phát hiện hàm lượng lớn các hợp chất thơm thymol và thymol methyl ether. Đây là những thành phần có liên quan đến hoạt tính sinh học và tiềm năng kháng viêm của dược liệu này.
Khi đánh giá tác dụng kháng viêm trong phòng thí nghiệm, cao chiết từ lá Quýt hôi cho thấy khả năng ức chế mạnh sự sản sinh nitric oxide (NO) cùng các cytokine tiền viêm quan trọng như TNF-α và IL-6.
Đây là phát hiện đáng chú ý bởi trước đó tác dụng kháng viêm của loài cây này chưa từng được chứng minh rõ ràng bằng thực nghiệm.
Không chỉ Quýt hôi, rễ cây Nhó đông cũng cho thấy hoạt tính kháng viêm mạnh. Lần đầu tiên, cao ethanol 95% từ rễ cây này được xác nhận không gây độc tính trên động vật thực nghiệm, đồng thời có khả năng ức chế các cytokine tiền viêm quan trọng.
Từ các nguồn dược liệu nghiên cứu, nhóm đã phân lập và xác định một số hợp chất thiên nhiên có tiềm năng sinh học cao như tangeretin, nobiletin, morindone, ostruthin và murrayafoline A.
Các hợp chất này được ghi nhận có khả năng điều hòa những con đường tín hiệu liên quan đến phản ứng viêm.
Theo GS Cường, nhóm đã phối hợp với Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) để đánh giá tác dụng của các hợp chất thiên nhiên trên mô hình mô phỏng tình trạng đồng nhiễm vi khuẩn và virus, một đặc trưng thường gặp ở các ca viêm phổi nặng trên lâm sàng.
Trên mô hình này, các hợp chất tự nhiên như morindone (từ cây Nhó đông), ostruthin (từ Xáo tam phân) và murrayafoline A (từ cây Cơm rượu trái hẹp) cho thấy khả năng làm giảm mạnh các chất trung gian gây viêm.
Mô hình thực nghiệm kết hợp LPS - thành phần đại diện cho vi khuẩn Gram âm và poly (I:C) - đại diện cho RNA virus, giúp mô phỏng sát hơn phản ứng viêm phức tạp xảy ra trong cơ thể người bệnh.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các hợp chất tự nhiên này có tiềm năng trong kiểm soát hiện tượng “bão cytokine”, phản ứng miễn dịch quá mức có thể dẫn đến tổn thương phổi cấp và làm bệnh diễn tiến nghiêm trọng hơn.