Liên quan đến nhiệm vụ này, hầu hết các doanh nghiệp, người dân đều cho rằng việc cắt giảm đã được làm quyết liệt trong các nhiệm kỳ vừa qua nhưng đến nay vẫn tồn tại nhiều thủ tục, điều kiện kinh doanh gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thậm chí các chuyên gia còn cho rằng việc cắt giảm có nơi chưa đi vào thực chất và lần này cần phải khắc phục.
Ông Phạm Đức Toản, Tổng giám đốc Công ty CP bất động sản EZ, cho rằng trong lĩnh vực xây dựng, đầu tư, kinh doanh bất động sản, dù khung pháp lý khá thông thoáng, nhưng khi đi vào từng quy định cụ thể, doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian.
Một dự án xây dựng tòa nhà chung cư, chủ đầu tư phải qua nhiều lần xin ý kiến các sở ngành liên quan. Chẳng hạn, trước khi được chấp thuận chủ trương đầu tư, doanh nghiệp phải xin ý kiến các sở ngành về sự phù hợp quy hoạch, đến khi được phê duyệt quy hoạch xây dựng chi tiết 1/500 lại phải xin ý kiến một lần nữa.
Ngoài ra, trước khi khởi công xây dựng, doanh nghiệp phải trình cấp thẩm quyền thẩm định phương án PCCC tòa nhà. Và sau khi hoàn thành, doanh nghiệp lại phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền nghiệm thu phương án PCCC tòa nhà trước khi đưa vào sử dụng.
Cũng theo ông Toản, dù nghị quyết 201/2025/QH15 của Quốc hội cho phép thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội theo hướng rút ngắn thủ tục đầu tư dự án nhà ở xã hội, nhưng theo quy trình này thì thời gian phê duyệt thủ tục đầu tư một dự án trung bình cũng mất khoảng 9 tháng.
Nếu phát sinh vướng mắc, thời gian phê duyệt dự án càng bị kéo dài hơn. Thực tế tại Hà Nội, nhiều dự án nhà ở xã hội dù được phê duyệt chủ đầu tư nhưng lại vướng chỉ tiêu dân số nên phải chờ xin ý kiến các sở ngành để điều chỉnh, tăng chỉ tiêu về mật độ dân số trước khi xây dựng.
Đối với các dự án nhà ở thương mại, dù Quốc hội đã ban hành nghị quyết 171/2024/QH15 cho phép thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất. Nhưng trên thực tế, khi chủ đầu tư mua được đất lại phải thực hiện thủ tục điều chỉnh quy hoạch các khu đất trước khi xây dựng.
Và để có được quy hoạch xây dựng nhà ở trên đất đã nhận chuyển nhượng, doanh nghiệp phải thực hiện hàng loạt các thủ tục liên quan. “Có thể thấy trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, quy định bên trên đã mở, thông thoáng giống như chúng ta mở cửa chính của một ngôi nhà, nhưng để sử dụng được phải tiếp tục mở khóa cửa từng phòng”, ông Toản ví von.
Còn theo đại diện một doanh nghiệp bất động sản tại Hà Nội, thủ tục cấp phép xây dựng các dự án nhà ở, khu đô thị hiện nay nhanh chậm với tùy từng trường hợp. Đối với các chủ đầu tư lớn, thực hiện các siêu dự án như trục cảnh quan sông Hồng, khu đô thị Olympic…, thành phố cho áp dụng cơ chế đặc biệt trong cấp phép đầu tư và giải phóng mặt bằng.
Do vậy, các thủ tục liên quan tới dự án được thực hiện đồng thời cùng lúc nên chỉ sau khoảng 3 – 4 tháng, chủ đầu tư dự án đã có mặt bằng sạch để xây dựng. Tuy nhiên, cũng có những dự án mắc kẹt nhiều năm chưa thể xây dựng vì vướng đủ thứ.
Trong kiến nghị gửi tới Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) mới đây, Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep) đã nêu ra hàng loạt vướng mắc, khó khăn về thủ tục hành chính mà các doanh nghiệp thủy sản đang gặp phải. Cụ thể, trong lĩnh vực kiểm dịch, an toàn thực phẩm, Vasep cho rằng quy định bắt buộc doanh nghiệp trong khu công nghiệp (KCN) đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý tập trung của KCN là quy trình “xử lý kép” bất hợp lý.
Theo đó, doanh nghiệp tự xử lý đạt cột B, sau đó đưa vào hệ thống nước thải của KCN để xử lý tiếp lên cột A, khiến tổng chi phí bị đội lên rất cao từ 18.500 – 28.000 đồng/m3, trong khi nếu doanh nghiệp tự đầu tư xử lý đạt chuẩn cột A từ đầu, chi phí chỉ từ 5.500 – 10.500 đồng/m³, giúp tiết kiệm 13.000 – 17.500 đồng/m³, tương đương hàng trăm tỉ đồng/năm cho toàn ngành.
Vì thế, Vasep kiến nghị Quốc hội xem xét sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2020 và nghị định 08/2022 theo hướng cho phép doanh nghiệp thủy sản trong KCN được miễn trừ đấu nối hệ thống tập trung nếu tự đầu tư, vận hành hệ thống xử lý riêng đạt chuẩn cột A trước khi xả thải.
Vasep cũng nêu những bất cập trong hướng dẫn về mức thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với phế phẩm, phụ phẩm thủy hải sản. Theo đó, cùng một sản phẩm phế liệu (đến từ hai dây chuyền sản xuất, dây chuyền sản xuất sản phẩm sơ chế và dây chuyền sản xuất sản phẩm có gia nhiệt), bán cho cùng một khách hàng tại cùng một thời điểm nhưng lại có hai thuế suất VAT khác nhau.
Vì vậy, hiệp hội đề nghị Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn cho tất cả các chi cục thuế địa phương và các doanh nghiệp để các loại phế liệu, phế phẩm, phụ phẩm thủy hải sản (dù của mặt hàng sơ chế hay chế biến) nhưng chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường thì không phải kê khai, tính nộp thuế VAT ở khâu kinh doanh thương mại.
Ngoài ra, Vasep cũng cho rằng đang có bất cập về thuế suất thuế VAT cho sản phẩm thủy sản đông lạnh do quan điểm không thống nhất giữa Bộ Tài chính và Cục Thuế về thuế suất VAT với sản phẩm thủy sản đông lạnh.
Vasep đề nghị Bộ Tài chính và Cục Thuế sớm có văn bản hướng dẫn thống nhất, rõ ràng gửi tới các Cục Thuế địa phương và doanh nghiệp, theo hướng ưu đãi thuế TNDN thực hiện theo công văn 2550/BTC-TCT, áp dụng cho sản phẩm được xác định là “chế biến” theo quy định.
Việc áp dụng thuế VAT phải thực hiện đúng theo thông tư 219 của Bộ Tài chính, không mặc định rằng nếu sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế TNDN thì phải chịu thuế VAT 10%. Nếu sản phẩm đông lạnh chưa qua chế biến sâu, chỉ sơ chế như rửa, cấp đông, cắt khúc… cần được xác định là không chịu thuế VAT như trước nay vẫn áp dụng.
“Việc hướng dẫn cần mang tính thống nhất, áp dụng đồng bộ trên toàn quốc để tránh tình trạng mỗi địa phương hiểu và thực hiện khác nhau, làm tăng gánh nặng và rủi ro cho doanh nghiệp”, đại diện hiệp hội này kiến nghị.
Trong khi đó, ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, cho biết còn nhiều quy định chưa phù hợp trong ngành sản xuất chăn nuôi và thực phẩm, dù đã có sửa đổi trong quy định để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Cụ thể, theo ông Dương, sau khi Quốc hội thông qua việc sửa đổi, bổ sung Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, hàng hóa sẽ được phân loại mức độ rủi ro để quản lý. Vấn đề đặt ra là phân loại ra sao, phương pháp quản lý thế nào để vừa tạo điều kiện môi trường tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa có không gian cho cơ quan quản lý kiểm soát sản phẩm đảm bảo an toàn, doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh.
Như với ngành chăn nuôi, một sản phẩm thức ăn chăn nuôi bao gồm nguyên liệu thông thường như ngô, đậu tương, đậu nành… không có rủi ro cao, nhưng có những thức ăn bổ sung như kim loại, lại có yếu tố rủi ro cao hơn, nên cần phân loại sao cho phù hợp. Hay nhiều mặt hàng khác như phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật… phân loại vào nhóm nào?…
Theo ông Dương, trong bối cảnh vận hành chính quyền địa phương hai cấp, các bộ cần dũng cảm bỏ bớt công việc, chỉ thực hiện chức năng kiến tạo và thiết kế chính sách để phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương thực hiện. Cũng với đó, phải tăng cường hậu kiểm theo hướng kiểm soát rủi ro, kiểm soát mối nguy, tăng cường vai trò tự chịu trách nhiệm của người sản xuất kinh doanh, thay vì thắt chặt quản lý.
Bởi muốn tăng trưởng hai con số, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa, cần phải nâng cao sức sản xuất, giải phóng tiềm năng sản xuất đang còn nằm trong dân, doanh nghiệp. “Do đó, phải tập trung cải cách thể chế, thủ tục và điều kiện kinh doanh. Mạnh dạn cắt giảm những điều kiện kinh doanh không cần thiết, không đảm bảo tính khả thi trong thực hiện”, ông Dương nói.
Ông Đỗ Văn Vẻ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên, cho rằng việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh đã được làm quyết liệt trong nhiệm kỳ vừa rồi, song vẫn được Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ này quan tâm và ưu tiên ngay, cho thấy đây vẫn đang là vấn đề cấp bách, cần tiếp tục được tháo gỡ. Nếu giảm được các thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ của doanh nghiệp sẽ có ý nghĩa rất lớn và cần thiết trong bối cảnh khó khăn hiện nay.
Tại buổi lễ khởi công, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết sân bay Phan Thiết được quy hoạch và nghiên cứu đầu tư từ năm 2014. Đây là cảng hàng không lưỡng dụng, quân sự kết hợp dân sự.
Trong đó, Thủ tướng giao Bộ Quốc phòng làm chủ đầu tư các hạng mục quân sự như: đường cất hạ cánh, đường lăn và khu quân sự. Cuối năm 2025, Quân chủng Phòng không - Không quân (Bộ Quốc phòng) đã đưa hạng mục quân sự vào hoạt động.
Riêng UBND tỉnh Bình Thuận (nay là Lâm Đồng) làm chủ đầu tư dự án dân dụng như: nhà ga, sân đỗ và hạ tầng hàng không dân dụng.
Đối với các hạng mục dân dụng, sau khoảng 10 năm và trải qua nhiều lần điều chỉnh thủ tục đầu tư, đến nay Sun Group là đơn vị khởi động trở lại.
Theo ông Minh, đây là cảng hàng không dân dụng đầu tiên tại Việt Nam được đầu tư bằng nguồn vốn tư nhân và sử dụng hạ tầng lưỡng dụng là đường cất hạ cánh, đường lăn do quân đội đầu tư để phục vụ cả nhiệm vụ quốc phòng lẫn phát triển kinh tế - xã hội.
Giai đoạn 2026 - 2030, Nhà nước sẽ đầu tư khoảng hơn 1,5 triệu tỉ đồng vào hạ tầng, trong đó hạ tầng giao thông là ưu tiên hàng đầu, với mục tiêu dẫn dắt, kích hoạt đầu tư.
"Cảng hàng không dân dụng Phan Thiết là một trong những dự án như vậy, thể hiện rất rõ chủ trương phát triển hạ tầng đồng bộ, hiện đại, gắn với thu hút đầu tư tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị", Bộ trưởng Trần Hồng Minh chia sẻ.
Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Hồ Văn Mười cho rằng đây là dự án mang tầm chiến lược, có vai trò kết nối tỉnh với các trung tâm kinh tế lớn trong nước và ngoài nước.
Tại buổi lễ, ông Đặng Minh Trường - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Sun Group - cam kết sẽ tập trung tối đa nguồn lực để hoàn thành và đưa dự án vào khai thác trong năm 2027.
Theo ông Trường, đây là sân bay thứ ba (sau Vân Đồn, Phú Quốc) mà Sun Group tham gia phát triển.
"Cảng hàng không Phan Thiết không chỉ là một công trình hạ tầng, mà còn là mảnh ghép khởi đầu cho hệ sinh thái du lịch - nghỉ dưỡng - hàng không quy mô lớn mà Sun Group định hướng đầu tư tại Lâm Đồng trong thời gian tới.
Qua đó góp phần hình thành không gian phát triển mới, thúc đẩy các ngành dịch vụ, logistics và nâng cao năng lực thu hút đầu tư cho toàn khu vực", ông Trường cho hay.
Ngày 15/5, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025. Chỉ số này được thực hiện định kỳ từ năm 2005, là một trong những chỉ báo đánh giá khả năng xây dựng môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư của chính quyền các địa phương. Đây là năm đầu tiên họ công bố chỉ số này sau khi sáp nhập 34 tỉnh, thành.
Năm nay, thay vì đo lường môi trường kinh doanh các tỉnh, VCCI chuyển sang đánh giá hệ sinh thái phát triển tư nhân, bởi "điều hành phải tạo ra hiệu quả, tạo ra lực lượng doanh nghiệp tư nhân mạnh". Cơ quan này cũng chuyển từ công bố bảng xếp hạng cụ thể sang các nhóm chất lượng điều hành.
Theo đó, không tỉnh, thành nào đạt chất lượng điều hành rất tốt, với điểm số PCI trên 70,8 điểm. Nhóm đạt xếp hạng tốt (67,28-70,8 điểm) gồm Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Phú Thọ và Quảng Ninh. TP HCM thuộc nhóm khá, cùng 12 địa phương gồm Huế, Hưng Yên, Thái Nguyên, Khánh Hòa, Lạng Sơn...
VCCI không công bố chi tiết nhóm trung bình (gồm 10 tỉnh, thành), tương đối thấp (5 tỉnh, thành) và thấp (1). Đối chiếu tổng điểm thành phần, Hà Nội đạt 57,49 điểm, thuộc nhóm tương đối thấp.
Hà Nội có 6 trên 9 chỉ số thành phần thấp hơn trung vị cả nước, gồm gia nhập thị trường, tính minh bạch, chi phí không chính thức, cạnh tranh bình đẳng, thiết chế pháp lý và chính quyền kiến tạo. TP HCM có 3 chỉ số thấp hơn trung vị, gồm chi phí không chính thức, thiết chế pháp lý và chính quyền kiến tạo.
Theo VCCI, chỉ số chính quyền kiến tạo và cạnh tranh bình đẳng ghi nhận sự phân hóa mạnh giữa các địa phương. Tức là, một số địa phương đã có bước tiến mạnh trong việc tạo sân chơi bình đẳng và duy trì chính quyền chủ động, trong khi nhiều nơi khác còn cách xa chuẩn thực hành tốt.
Trong nhóm điều hành tốt, Bắc Ninh dẫn đầu các chỉ số chính quyền kiến tạo - phản ánh tính linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả tháo gỡ khó khăn cho khu vực tư nhân, và chi phí tuân thủ thủ tục hành chính. Tức là, thành phố không chỉ nằm ở tốc độ xử lý thủ tục, mà còn ở khả năng phản ứng chính sách và tạo độ tin cậy thể chế cho doanh nghiệp.
Cũng trong nhóm này, Đà Nẵng đứng đầu về gia nhập thị trường. Quảng Ninh tiếp tục duy trì vị trí cao với chỉ số cạnh tranh bình đẳng và chính quyền kiến tạo. Hải Phòng có chất lượng điều hành đồng đều, với 7 trên 9 chỉ số thành phần nằm trong top 10 địa phương cao nhất.
Kết quả PCI 2025 được đưa ra dựa trên khảo sát từ 3.500 doanh nghiệp tư nhân trong nước, gần 590 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và hơn 1.000 hộ kinh doanh tại 34 tỉnh, thành.
PGS. TS Hồ Sỹ Hùng, Chủ tịch VCCI, cho biết cải cách thể chế đã đi đúng hướng, nhưng khoảng cách giữa thiết kế chính sách ở Trung ương và năng lực thực thi tại cơ sở vẫn còn rất lớn. "Để đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, chúng ta phải chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy đồng hành, từ giảm gánh nặng thủ tục sang kiến tạo năng lực cạnh tranh", ông Hùng nói.
Năm nay, VCCI lần đầu tiên công bố Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân (BPI), đo lường sự phát triển của khu vực tư nhân và năng lực đổi mới sáng tạo. Ngược với kết quả PCI, TP HCM và Hà Nội nằm trong top đầu chỉ số BPI. Trong đó, TP HCM dẫn đầu với 5,67 điểm, Hà Nội theo sau với 5,41 điểm.
Chia sẻ bên lề sự kiện, ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký, Trưởng ban Pháp chế VCCI, cho rằng năng lực đổi mới sáng tạo, tăng cường chất lượng quản trị của khu vực kinh tế tư nhân tại Hà Nội, TP HCM đang nằm trong top đầu cả nước. Ông cho rằng hai thành phố không nên chỉ là điểm đến cho các tập đoàn hàng đầu thế giới, mà còn cần tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Theo VCCI, phân tích tương quan cho thấy chất lượng điều hành (PCI) năm 2022 có tác động tới hiệu quả kinh tế tư nhân năm 2025, xác nhận tác động độ trễ chính sách khoảng 3 năm. Đây là cơ sở quan trọng để kiên định với lộ trình cải cách dài hạn thay vì kỳ vọng kết quả tức thời.
Ông Mạnh, chủ vườn 30 cây vải tại Thanh Hà, Hải Phòng (Hải Dương cũ), cho biết vừa bán 1 tấn vải với giá 95.000 đồng mỗi kg, tăng khoảng 20% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tổng sản lượng của vườn lại giảm khoảng 30%.
Cách đó không xa, bà Phạm Thị Vân, phường Ái Quốc, Hải Phòng (xã Quyết Thắng cũ) cho biết, giá vải đã hạ nhiệt so với giữa tháng 4 nhưng vẫn cao nhất nhiều năm qua. Năm nay, gia đình bà thu hơn một tấn, giảm khoảng một nửa so cùng kỳ năm trước. Theo bà, nguồn cung đầu vụ hạn chế nên thương lái và khách quen thường đặt mua từ sớm, đầu ra tương đối ổn định; vụ thu hoạch dự kiến kết thúc vào cuối tháng này.
Xu hướng "được giá, mất mùa" cũng ghi nhận tại Tây Nguyên. Ở Đăk Lăk, vải chín sớm được thu mua 60.000-80.000 đồng mỗi kg, cao hơn đáng kể so với mức 40.000-50.000 đồng những năm trước. Một hộ trồng vải tại địa phương cho biết có thời điểm giá lên tới 80.000 đồng mỗi kg, thương lái tìm mua và đặt cọc sớm, giúp cải thiện lợi nhuận.
Giá thu mua tại vườn tăng đã đẩy mặt bằng bán lẻ đi lên. Tại TP HCM, vải ở Đăk Lăk được bán 140.000-150.000 đồng mỗi kg, còn vải u trứng Thanh Hà ở mức 150.000-180.000 đồng. Với các lô hàng vận chuyển bằng đường hàng không, một số cửa hàng cho biết giá bán lẻ ở mức 195.000-210.000 đồng mỗi kg (tùy cửa hàng).
Đại diện một cửa hàng trái cây tại phường Thủ Dầu Một (TP HCM) cho biết, vải năm nay vào mùa muộn hơn, trong khi nguồn cung giảm 30-50% do ảnh hưởng thời tiết khiến tỷ lệ đậu quả thấp, năng suất giảm. Lượng hàng nhập mỗi đợt chỉ còn 50-60 kg, bằng một nửa so với trước, nhưng tiêu thụ nhanh nhờ chất lượng quả được đánh giá cao.
Theo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hải Phòng, năm nay, toàn thành phố có khoảng 9.350 ha vải, trong đó vải sớm khoảng 3.300 ha (tương đương 35%), tập trung tại các khu vực như Thanh Hà, Ninh Giang, An Trường, Quyết Thắng. Vải sớm dự kiến thu hoạch rộ từ đầu đến giữa tháng 5.
Cơ quan này cho biết điều kiện thời tiết không thuận lợi, với mùa đông ấm và thiếu các đợt rét sâu kéo dài, ảnh hưởng đến quá trình phân hóa mầm hoa. Một số diện tích xuất hiện tình trạng ra hoa không đồng đều hoặc xen lộc; cùng với chi phí vật tư tăng, việc chăm sóc ở một số vườn chưa đầy đủ, làm gia tăng nguy cơ sâu bệnh và ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng.
Trước thực tế này, ngành nông nghiệp địa phương yêu cầu nông dân tăng cường các biện pháp chăm sóc như duy trì độ ẩm hợp lý, bón phân cân đối, tỉa cành, kiểm soát sâu bệnh; đồng thời tuân thủ quy trình sản xuất an toàn nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và phục vụ xuất khẩu. Các đơn vị chuyên môn cũng được giao duy trì mã số vùng trồng, tăng cường dự báo dịch hại và đẩy mạnh kết nối tiêu thụ, khuyến khích doanh nghiệp liên kết sớm với nông dân để ổn định đầu ra.