Bài viết Đi làm cả ngày, tối nằm vật rồi lại ngày mới: Tuổi trẻ liệu có lãng phí? nhận về nhiều tranh luận của bạn đọc.
Guồng quay bận rộn là giai đoạn tự nhiên giúp ta rèn kỷ luật, tích lũy kinh nghiệm và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình. Nếu sự bận rộn ấy tạo ra giá trị và giúp ta tiến bộ mỗi ngày, thì mọi vất vả đều hoàn toàn xứng đáng.
Bạn đọc Lan Phương nói không hẳn là “lãng phí tuổi trẻ”, đây là giai đoạn rất bình thường của người mới đi làm.
“Nhịp sống đó rèn kỷ luật và tích lũy kinh nghiệm, thứ mà sau này muốn cũng không dễ có. Nhưng nếu kéo dài quá lâu mà không có mục tiêu rõ ràng thì đúng là dễ rơi vào cảm giác trống rỗng”, Phương bày tỏ.
Bạn đọc L.A.T. kể đã nghỉ hưu, nhìn lại thời thanh niên lao đầu vào công việc như bạn trẻ trong bài viết thấy không hối tiếc. Để được nghỉ hưu thảnh thơi phải làm việc cật lực, phải có đam mê công việc, lấy niềm vui từ công việc, từ việc kiếm tiền lo cho bản thân, cha mẹ già, con cái học hành chu đáo, đến việc thăng tiến trong công việc sẽ có đầy niềm vui trong cuộc sống, để khi về già ta không nuối tiếc.
“Giờ mới trẻ đã chỉ nghĩ ăn chơi, nhàn nhã, chỉ cần sau tuổi 40 sẽ thấy ngay sự nuối tiếc, dằn vặt trong tự bản thân khi thấy xung quanh ta, bạn bè cùng trang lứa hơn mình nhiều lần (mặc dù 10-20 năm trước họ còn thua kém xa mình)… Lúc đó sẽ cảm nhận rõ sự nuối tiếc một thời tuổi trẻ”, bạn đọc này bày tỏ.
Chung quan điểm, bạn đọc Linh cho rằng nhiều người đang phải nỗ lực để kiếm tiền, lo cho gia đình, đó cũng là một cách sống có trách nhiệm. Bạn đọc Phú thẳng thắn nói cùng một guồng quay nhưng người này thấy bế tắc, người khác lại thấy có động lực. Vấn đề nằm ở cách nhìn, không chỉ ở hoàn cảnh.
Còn bạn đọc Tín Phanh kể 23 tuổi, sáng cố vượt kẹt xe đi làm, tối về ăn xong là ngủ gục, lúc đó cậu cũng nghĩ đời mình sao nhạt vậy. Nhưng 2 năm sau nhìn lại, chính quãng đó cho mình kỹ năng, tiền bạc và sự lì đòn mà mấy thứ “trải nghiệm màu mè” không cho được.
Bạn đọc An Long Đặng nói không ai trả lời giùm được câu “tuổi trẻ liệu có lãng phí” ngoài chính bạn. Nhưng nếu bạn đã bắt đầu tự hỏi “mình có đang lãng phí không”, đó thường là dấu hiệu bên trong bạn đang muốn thay đổi.
“Nếu công việc mang lại giá trị, giúp học hỏi và tiến bộ thì guồng quay bận rộn là xứng đáng. Còn nếu chỉ làm để “tồn tại”, không học được gì thì đúng là nên xem lại”, bạn đọc này nói.
Bạn đọc Uyên cho rằng điều nguy hiểm không phải là bận rộn, mà là bận rộn nhưng không biết mình đang đi đâu, làm nhiều mà không tiến lên. Trong khi đó, bạn đọc Lan chia sẻ rằng nếu mỗi ngày trôi qua giống hệt nhau, thiếu trải nghiệm và sự phát triển, con người chỉ đang tồn tại chứ chưa thực sự sống.
Bạn đọc Hoa cho rằng nhiều người trẻ đang đánh đổi sức khỏe và thời gian cá nhân để giữ công việc, nhưng lại chưa chắc đạt được thứ mình thật sự muốn.
Bạn đọc Anh 7 thẳng thắn nhìn nhận thứ nguy hiểm nhất không phải là bận, mà quen với sự bận rộn vô nghĩa, thiệt đó. Một lúc nào đó bạn sẽ nhận ra 25, 26 tuổi rồi mà mọi thứ vẫn y chang 23, chán lắm.
“Mình từng nghĩ “đợi đỡ mệt rồi sẽ học thêm, sẽ thay đổi”, nhưng sự thật là nếu không chủ động cắt bớt hoặc điều chỉnh, bạn sẽ không bao giờ đỡ mệt cả”, bạn đọc này nói.
Bạn đọc Lão gàn nhấn mạnh nếu không cố gắng phấn đấu, thì 10 năm nữa, ăn mày cũng không đến lượt. Những người mà chỉ thấy nhàm chán, là những người không có khả năng tư duy, không biết giao tiếp và trước đó là ở nhà, nhưng không phải làm gì, không biết làm việc gì. Gieo gì gặt đó thôi.
Còn bạn đọc Trần Minh kể đã 39 tuổi. Anh làm việc từ 8 – 17h liên tục, đi học thêm văn bằng 2 từ 17h30 – 20h30. Về nhà ăn cơm, vệ sinh, học thêm tiếng Anh từ 22 – 23h. Lúc nào cũng cảm thấy thiếu thời gian để bổ sung thêm kiến thức.
Với bạn đọc nguy****@gmail.com nói thẳng “trẻ không chơi, già đổ đốn”.
“Tôi chỉ cảm thấy tôi đã quá lãng phí vì “không đủ thời gian dành cho con, cho cha mẹ, cho gia đình”. Đến khi muốn lãng phí thì không làm được”, bạn đọc này chia sẻ.
Hòa trong tiếng cồng chiêng vang vọng, lễ cưới truyền thống của đồng bào Chăm Hroi được tái hiện sống động tại làng Canh Tiến, xã Canh Vinh (Gia Lai), thu hút đông đảo du khách.
Đây là điểm nhấn trong chuỗi sự kiện “Điểm hẹn Canh Tiến - Nơi hòa quyện cùng thiên nhiên” diễn ra ngày 25-26/4, nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và hưởng ứng Năm Du lịch Quốc gia - Gia Lai 2026.
Không chỉ là hoạt động văn hóa, sự kiện còn mở ra không gian trải nghiệm đậm bản sắc, nơi du khách được “nghe núi rừng kể chuyện” qua những nghi lễ cổ xưa được phục dựng gần như nguyên bản.
Canh Tiến từng là ngôi làng biệt lập giữa đại ngàn. Để vào đây, người dân phải đi đò vượt hồ Núi Một hoặc băng rừng, qua đèo Nha Sam hiểm trở. Giờ đây, khi hạ tầng giao thông được đầu tư, điện lưới quốc gia phủ tới, diện mạo làng đã có nhiều đổi thay.
Theo lãnh đạo xã Canh Vinh, không chỉ chuyển mình về kinh tế - xã hội, Canh Tiến còn là nơi hội tụ văn hóa của đồng bào Ba Na, Chăm, cùng hệ sinh thái suối, rừng còn khá nguyên sơ, giàu tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng.
Người Chăm Hroi ở Canh Tiến theo chế độ mẫu hệ nên lễ cưới được tổ chức tại nhà gái. Trước ngày cưới, em gái cô dâu cùng đại diện nhà gái sang nhà trai để thay cô dâu thực hiện nghi thức "bắt chồng".
Sau đó, lễ cúng cưới chính thức được diễn ra trước sự chứng kiến của họ hàng hai bên và bản làng. Nghi thức này được những ông Chơ No (ông mai mối) hai bên đảm nhiệm.
Điểm khiến nhiều du khách thích thú chính là các lễ vật trong lễ cưới. Không cầu kỳ, xa xỉ, tất cả đều gắn với đời sống thường nhật nhưng mang giá trị biểu trưng sâu sắc. Một mâm lễ cơ bản gồm ghè rượu, gà, nồi đồng, vòng tay, kiềng bạc, sáp ong, trầu cau và thau đồng đựng nước. Mỗi vật phẩm không chỉ là sính lễ mà còn thể hiện sự gắn kết, lời chúc về cuộc sống đủ đầy, bền chặt của đôi vợ chồng trẻ.
Theo ông Vũ Trọng Tiến, Phó Chủ tịch UBND xã Canh Vinh, việc phục dựng lễ cưới truyền thống của người Chăm Hroi không chỉ nhằm tạo điểm nhấn cho du lịch mà còn góp phần gìn giữ một nghi lễ độc đáo đang dần mai một.
Mỗi nghi thức, mỗi lễ vật trong lễ cưới đều chứa đựng những giá trị văn hóa, tín ngưỡng và quan niệm sống của cộng đồng, cần được bảo tồn và truyền lại cho thế hệ trẻ.
“Thông qua việc tái hiện, chúng tôi mong muốn giúp người dân, đặc biệt là lớp trẻ hiểu hơn về phong tục của dân tộc mình, từ đó nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa”, ông Tiến nói.
Ông cũng cho rằng thông qua chuỗi sự kiện "Điểm hẹn Canh Tiến - Nơi hòa quyện cùng thiên nhiên" là cơ hội quảng bá hình ảnh Canh Tiến, một vùng đất giàu bản sắc, thân thiện và giàu tiềm năng; đồng thời từng bước xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng, nâng cao đời sống người dân.
“Quan trọng hơn, đây là dịp khơi dậy niềm tự hào văn hóa, để mỗi người dân trở thành một đại sứ du lịch cho quê hương”, ông Tiến nhấn mạnh.
Vị đắng của măng tươi đến từ hai nhóm hợp chất glycoside (taxiphyllin) và phenolic tập trung ở phần vỏ, kẽ mô và lớp thịt măng bao quanh lõi. Cả hai nhóm chất này đều tan trong nước muối loãng hoặc có tính acid nhẹ.
Chính vì vậy, nấu lâu không phải chìa khóa duy nhất để khử đắng. Điều quan trọng là tạo điều kiện cho các phân tử đắng thoát ra ngoài và trung hòa môi trường phù hợp.
Bộ ba tác động giúp măng tươi giảm đắng vẫn giòn ngon.
Thẩm thấu: Nước muối loãng đóng vai trò như một chiếc nam châm, kéo "chất đắng" từ măng ra ngoài nhanh hơn nhiều so với nước thường.
Môi trường acid nhẹ: Một chút chanh hoặc giấm sẽ làm nhiệm vụ bẻ gãy các liên kết phenolic, từ đó làm dịu đi cảm nhận vị chát trên đầu lưỡi.
Nhiệt độ vừa đủ: Chỉ cần chần măng ở mức nóng già đủ để các mô sợi mở đường cho hợp chất đắng thoát đi mà không làm măng bị mềm, mất đi độ giòn nếu luộc lâu.
Quy trình 10 phút khử đắng cho măng tươi
Chuẩn bị (3 phút): Măng sau khi thái miếng đem bóp nhẹ bằng nước muối loãng rồi ngâm khoảng 3 phút để thẩm thấu.
Luộc nhanh (3 phút): Luộc măng nhanh khoảng 3 phút, thêm 1-2 thìa giấm hoặc một chút nước cốt chanh.
Sốc lạnh (1 phút): Vớt măng ra xả ngay dưới vòi nước lạnh. Bước này không chỉ giúp măng giòn mà còn rửa trôi lớp nước đắng vừa được kéo ra.
Cân bằng vị (3 phút): Trước khi nấu, hãy ướp măng với chút muối hoặc nước mắm trong 5 phút. Vị mặn nhẹ sẽ giúp măng đậm đà trở lại, tạo nên sự cân bằng hoàn hảo sau quá trình khử đắng.
Nhiều kinh nghiệm dân gian xưa thực ra có cơ sở khoa học. Người nội trợ xưa thường ngâm măng với nước gạo vì loại nước này hơi có tính acid và chứa enzyme lên men tự nhiên, giúp giảm vị đắng. Một nhúm muối khi chần măng cũng dựa đúng nguyên lý thẩm thấu.
Một số vùng còn xào măng với dầu hoặc mỡ trước khi nấu canh. Việc này tạo lớp màng chất béo bao bọc phân tử đắng, giúp món ăn hài hòa hơn. Những mẹo truyền miệng này cho thấy người Việt hiểu nguyên lý "khử đắng bằng môi trường" từ rất lâu, dù không gọi tên bằng khoa học hiện đại.
Trên thế giới, xu hướng tiếp cận người khuyết tật thay đổi rõ rệt: từ trợ giúp sang trao quyền, từ chăm sóc sang tạo cơ hội.
Một thay đổi quan trọng nhất trên thế giới là cách nhìn nhận về người khuyết tật. Theo Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD), họ không còn là "đối tượng thụ hưởng", mà là chủ thể có quyền, với quyền tiếp cận bình đẳng trong mọi lĩnh vực.
Ở Thụy Điển, nguyên tắc rất rõ ràng: xã hội phải thích ứng với con người. Điều này thể hiện qua việc mọi dịch vụ công - từ giao thông, giáo dục đến y tế - đều phải đảm bảo khả năng tiếp cận. Tại Canada hay Úc, các cơ quan và doanh nghiệp còn phải có kế hoạch cụ thể để loại bỏ rào cản, nếu không sẽ bị xử lý.
Việt Nam đã có luật và cam kết quốc tế, nhưng thách thức nằm ở khâu thực thi. Bài học từ các nước là không chỉ ban hành chính sách, mà cần cơ chế giám sát độc lập, chế tài rõ ràng và đặc biệt là sự tham gia của chính người khuyết tật trong quá trình xây dựng chính sách. Khi đó, "quyền" mới thực sự đi vào đời sống.
Tại Tokyo (Nhật Bản), việc di chuyển bằng tàu điện ngầm là trải nghiệm gần như không rào cản. Thang máy, lối dốc, biển báo chữ nổi hay thông báo bằng âm thanh không chỉ dành cho người khuyết tật, mà còn hữu ích với người cao tuổi, phụ nữ mang thai hay khách du lịch.
Theo số liệu của Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản, hơn 90% các ga tàu lớn đã được cải tạo theo hướng tiếp cận toàn diện.
Singapore cũng áp dụng chương trình "Barrier-Free Accessibility" (Tiếp cận không rào cản) từ nhiều thập kỷ qua trong xây dựng nhà ở và không gian công cộng, trong khi các nước Bắc Âu đưa tiêu chí này ngay từ khâu cấp phép.
Điểm chung của các quốc gia này là không coi tiếp cận là chi phí bổ sung, mà là đầu tư dài hạn. Với Việt Nam, điều cần thay đổi là tư duy: không phải "làm thêm cho người khuyết tật", mà là thiết kế cho tất cả ngay từ đầu. Nếu không, những "lối dốc tượng trưng" hay "công trình có mà không dùng được" sẽ còn tồn tại.
Ở Phần Lan, hơn 95% học sinh khuyết tật học trong môi trường phổ thông, theo báo cáo năm 2018 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD). Mỗi học sinh có một kế hoạch giáo dục cá nhân, được xây dựng với sự tham gia của giáo viên, chuyên gia tâm lý và gia đình.
Ở Canada hay Úc, trong lớp học còn có giáo viên hỗ trợ, nhân viên công tác xã hội và dịch vụ tâm lý học đường. Điều đó cho thấy giáo dục hòa nhập không đơn giản là "cho học chung", mà là thiết kế lại hệ thống để phù hợp với sự khác biệt.
Việt Nam đã triển khai giáo dục hòa nhập, nhưng còn thiếu nhân lực và nguồn lực, phải đầu tư vào đội ngũ giáo viên, dịch vụ hỗ trợ tại trường và cơ chế phối hợp liên ngành. Nếu không, hòa nhập dễ trở thành hình thức hơn là thực chất.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, người khuyết tật có nguy cơ gặp vấn đề tâm lý cao gấp 2-3 lần, nhưng lại ít được hỗ trợ kịp thời. Ở Ấn Độ, chương trình mhGAP đào tạo nhân viên y tế cộng đồng hỗ trợ tâm lý ban đầu.
Tại Chile và Brazil, dịch vụ được tích hợp vào y tế ban đầu, còn Zimbabwe triển khai mô hình "Ghế tình bạn" - tư vấn ngay tại cộng đồng với chi phí thấp.
Với Việt Nam, hướng đi khả thi là phát triển mô hình chăm sóc phân tầng, sàng lọc sớm tại trạm y tế, đào tạo nhân viên tuyến cơ sở, lồng ghép vào phục hồi chức năng và có cơ chế chuyển tuyến rõ ràng.
Ở Đức, doanh nghiệp có trên 20 lao động phải dành ít nhất 5% vị trí cho người khuyết tật, nếu không sẽ phải đóng góp vào quỹ hỗ trợ việc làm. Trong khi đó tại Anh và Hàn Quốc, các mô hình doanh nghiệp xã hội và việc làm hỗ trợ giúp người khuyết tật làm việc đúng với năng lực, có hỗ trợ tại nơi làm việc và duy trì công việc lâu dài.
Bài học cho Việt Nam là cần xây dựng hệ sinh thái việc làm, không chỉ dừng ở đào tạo nghề, kết nối với doanh nghiệp, hỗ trợ tại nơi làm việc và thay đổi định kiến. Khi có cơ hội công bằng, người khuyết tật có thể chứng minh năng lực của mình.
Trong kỷ nguyên số, công nghệ đang trở thành "cánh cửa mới". Ở Hàn Quốc, người khuyết tật được hỗ trợ phần mềm đọc màn hình, ứng dụng giao tiếp. Tại Mỹ và châu Âu, các nền tảng số phải đảm bảo khả năng tiếp cận. Theo Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), công nghệ có thể giúp giảm đáng kể rào cản tiếp cận thông tin và dịch vụ.
Việt Nam đang chuyển đổi số mạnh mẽ, cần sớm xây dựng tiêu chuẩn tiếp cận số, hỗ trợ thiết bị và kỹ năng, khuyến khích doanh nghiệp phát triển giải pháp công nghệ cho người khuyết tật.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hỗ trợ người khuyết tật không phải là câu chuyện của riêng một ngành, mà là tiếp cận hệ thống. Một xã hội bao trùm không phải là điều xa vời, mà bắt đầu từ những thay đổi rất cụ thể - trong cách nghĩ, cách làm và cách chúng ta tạo cơ hội cho nhau.