29 năm trước, đúng thời gian này, anh Nguyễn Mạnh Hà (SN 1982, Từ Liêm, Hà Nội) đang chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THCS. Thời đó, thi tốt nghiệp và thi vào lớp 10 là hai kỳ thi tách biệt, cách nhau hơn 1 tháng.
“Tôi không nhớ 3 năm trước con trai đã thi vào lớp 10 như thế nào, nhưng vẫn nhớ như in kỳ thi lớp 10 của chính mình, thậm chí còn nhớ cả bài hình trong đề toán”, anh Hà chia sẻ.
Anh Hà cho biết, học sinh sinh năm 1982 trở về trước thi tốt nghiệp 4 môn và thi vào cấp 3 với 2 môn toán, văn. Tỷ lệ trượt tốt nghiệp thấp còn tỷ lệ trượt cấp 3 rất cao. Lứa tuổi của anh Hà, cả làng chỉ có 5 người đỗ. Số còn lại học bổ túc hoặc bỏ học.
“3 năm liên tiếp trước lứa chúng tôi, làng tôi không có ai đỗ cấp 3. Chị gái tôi học khá cũng trượt. Vì thế bố tôi không cho tôi đăng ký trường Tây Tiền Hải, là trường tốt nhất huyện và gần nhà, mà bắt phải đăng ký một trường cách nhà hơn 10km, ở gần biển, điểm đầu vào rất thấp”, anh Hà hồi tưởng.
Mặc dù có lực học tốt và được giáo viên chủ nhiệm tin cậy, anh Hà vẫn phải đăng ký trường xa để chắc một suất công lập. Ngay sau khi thi tốt nghiệp xong, anh được bố cho đi học thêm ở thị trấn. Sau 1 tháng luyện thi, anh Hùng đỗ điểm cao, thừa nhiều điểm để vào Trường THPT Tây Tiền Hải trong sự tiếc nuối của gia đình.
Lớp ôn thi của anh khi ấy cũng chỉ có vài ba người trúng tuyển công lập.
Chị Nguyễn Bích Đào (SN 1982, Vĩnh Hưng, Hà Nội) cũng lưu giữ kí ức khó quên về kỳ thi lớp 10 cách đây 30 năm tại Ninh Bình (tỉnh Nam Định cũ).
Ngày ấy Nam Định chưa có trường tư, ngoài trường công chỉ có trường bổ túc. Tuy nhiên trong trường công lập có một hệ bán công để “vớt” những học sinh thi trượt vì thiếu một ít điểm. Hệ bán công thu học phí cao hơn 2-3 lần so với mức chung.
“Tôi nhớ bạn bè mình trượt rất nhiều. Ngay ông xã tôi cũng trượt hệ thường, chỉ đỗ hệ bán công dù những năm cấp 2 là học sinh giỏi, học lớp chọn, là “ngôi sao” của trường”, chị Đào kể.
Cả Đào và chồng học cùng khoá nhưng khác lớp. Theo lời chị, việc trượt công lập là bài học sâu sắc với chồng chị, khiến anh học hành tu tỉnh hơn, đạt kết quả cao khi thi đại học. Trong khi đó chị trượt đại học năm đầu, mất thêm một năm ôn thi mới chinh phục được mục tiêu.
Tại Hà Nội, 32 năm trước, kỳ thi vào lớp 10 cũng căng thẳng như bây giờ, theo lời chị Phạm Thanh Mai (SN 1979, phường Hoàn Kiếm).
Hà Nội ngày ấy thi lớp 10 với hai môn toán, văn. Quanh các trường phổ thông có rất nhiều “lò luyện thi”. Chị Mai học thêm văn một thầy ở phố Lò Đúc, học thêm toán một giáo viên Trường THPT Lý Thường Kiệt. Tuy nhiên, các “lò luyện” thường chỉ hoạt động khoảng 1 tháng kể từ sau kỳ thi tốt nghiệp đến trước kỳ thi lớp 10.
“Nhiều bạn bè cấp 2 của tôi không đỗ trường nào, đi học bổ túc hoặc nghỉ học. Một người bạn của tôi chuyển khẩu về Bắc Ninh, ở nhờ nhà người họ hàng để thi cấp 3 tại Bắc Ninh. Ngày đó nếu trượt công lập là trượt hẳn, không có nhiều trường tư như bây giờ để “chống trượt””, chị Mai chia sẻ.
Chị Mai có hai con, đều đã trải qua kỳ thi lớp 10 công lập tại Hà Nội. Từ trải nghiệm của hai thế hệ, chị Mai cho rằng việc thi vào cấp 3 chưa bao giờ dễ dàng trong suốt hơn 3 thập kỷ qua. Song, áp lực của thế hệ hôm nay dường như lớn hơn thế hệ cha mẹ do định kiến xã hội, chị Mai nhận định.
Với thế hệ 7X, 8X đời đầu, việc thi trượt cấp 3 chưa bị nhìn nhận một cách nặng nề. Học sinh không đỗ lớp 10 sẽ chuyển hướng học nghề hoặc tham gia thị trường lao động. Nhưng hiện tại, theo quan sát của chị Mai, một đứa trẻ không đỗ lớp 10 sẽ bị xem là một thất bại lớn, nhất là trong những gia đình có sự đầu tư cho sự học hành của con cái.
Ở góc nhìn khác, anh Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng mưu cầu và kỳ vọng của bố mẹ thế hệ 8X vào con cái lớn hơn thế hệ ông bà. Với thế hệ ông bà, con cái chỉ cần đi học là đủ. Với thế hệ bố mẹ 8X, con cái còn phải học giỏi, đỗ trường chuyên hoặc trường “top”. Chính tâm lý này đẩy áp lực xã hội lên cao.
Hiệu trưởng một trường THPT nhận định, kỳ vọng của phụ huynh là chính đáng. Song, con đường học tập không chỉ có một lối đi duy nhất.
“Học lớp 10 công lập có thể là con đường thuận lợi, nhưng không phải con đường duy nhất và phù hợp nhất với tất cả học sinh”, vị hiệu trưởng nói.
Câu chuyện lan tỏa sau khi Đài truyền hình Hà Nam đăng tải đoạn video về hoàn cảnh của Zichen, hôm 13/4. Chỉ sau một thời gian ngắn, nó đã thu hút hơn 46 triệu lượt xem trên các nền tảng mạng xã hội.
Cha qua đời vì bệnh hiểm nghèo từ vài năm trước, mẹ tái hôn rồi rời đi, Zichen lớn lên cùng ông nội tại một vùng quê nghèo. Mỗi khi suất ăn ở trường có món thịt, Zichen đều lặng lẽ gói ghém một phần mang về.
"Em lo nếu không được ăn thịt ông sẽ yếu nên mang về, mong ông sống thật lâu", cậu bé chia sẻ.
Ở nhà, Zichen tự mình đảm đương mọi việc nhà, từ nấu cơm, giặt giũ đến phơi quần áo. Ông nội em cho biết dù ban ngày tỏ ra mạnh mẽ, nhưng ban đêm Zichen thường khóc vì nhớ cha mẹ. Người ông 73 tuổi áy náy vì sức yếu, không thể cho cháu một cuộc sống đủ đầy hơn.
Cô Vương, giáo viên chủ nhiệm của Zichen, cho biết em là học sinh ngoan và cực kỳ hiểu chuyện.
"Nếu không may có chuyện gì với ông, đứa bé này sẽ là con tôi. Tôi xin hứa sẽ nuôi cháu đến lúc trưởng thành", cô nói.
Dưới phần bình luận, hàng nghìn người bày tỏ ngưỡng mộ trước nghị lực của Zichen, đồng thời mong muốn được quyên góp hỗ trợ em. Cũng nhiều người trách mẹ Zichen vì bỏ rơi em khi còn quá nhỏ.
Ngay khi sự việc gây bão truyền thông, chính quyền địa phương và Hội Liên hiệp Phụ nữ cho biết đang xem xét chính sách hỗ trợ cho Zichen.
Chiến lược phát triển giáo dục đại học và sắp xếp các cơ sở giáo dục đại học là nội dung trọng tâm được Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh tại buổi làm việc với Vụ Giáo dục Đại học chiều 6/5.
Về một số nhiệm vụ cụ thể, Bộ trưởng lưu ý nguyên tắc “nắm ít nhưng nắm việc quan trọng”, những vấn đề phức tạp phải được xử lý theo hướng đơn giản, hiệu quả.
Về chuyên môn, Bộ trưởng yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương pháp làm việc; chuyển tư duy quản lý từ kiểm soát hành chính sang quản trị theo chuẩn và dữ liệu.
Theo đó, Bộ trưởng lưu ý công tác quản lý cần tập trung vào những nội dung cốt lõi như chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn cơ sở giáo dục đại học và hệ thống dữ liệu về tuyển sinh, người học.
“Tư duy hiện nay phải là tư duy kiến tạo phát triển; luôn đặt câu hỏi “mình giúp gì được cho các trường, cho sinh viên, cho giảng viên”, thay vì chủ yếu đặt ra quy định để kiểm soát, hạn chế“, theo Bộ trưởng.
Người đứng đầu Bộ GD&ĐT cũng cho rằng những cơ sở giáo dục làm tốt, đầu tư bài bản cần được khuyến khích phát triển; việc cấp phép chỉ tập trung với một số ngành đặc thù, có yêu cầu quản lý riêng.
Bộ trưởng cũng đề nghị Vụ Giáo dục Đại học rà soát lại chức năng, nhiệm vụ trong bối cảnh mới; ngoài công tác tuyển sinh, chương trình đào tạo cần quan tâm làm rõ các vấn đề về tài chính giáo dục đại học, đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học, phát triển đội ngũ giảng viên…, với tinh thần không chỉ “làm gì” mà còn “chịu trách nhiệm về điều gì”.
Tại buổi làm việc, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học Nguyễn Tiến Thảo cho biết năm 2025, Vụ Giáo dục Đại học đã triển khai nhiều nhiệm vụ trọng tâm như xây dựng chuẩn chương trình đào tạo, quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, tham mưu các nội dung liên quan đến đào tạo tiến sĩ, tuyển sinh và phát triển các lĩnh vực đào tạo ưu tiên.
Công tác tuyển sinh được triển khai chủ động, kịp thời điều chỉnh quy chế tuyển sinh, cơ bản bảo đảm ổn định nguồn tuyển.
Tuy nhiên, công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn một số nội dung chưa hoàn thành đầy đủ và sẽ tiếp tục được xử lý trong năm 2026.
Sang năm 2026, Vụ Giáo dục đại học tiếp tục thực hiện hơn 60 nhiệm vụ. Trong 4 tháng đầu năm 2026, Vụ đã chủ trì và tham gia xây dựng 18 văn bản quy phạm pháp luật; trong đó đã ban hành 1 nghị định và 2 thông tư; triển khai 22 nhiệm vụ khác liên quan đến thực hiện Nghị quyết 57 NQ/TW về đột phá khoa học công nghệ.
Vụ cũng tiếp tục tham mưu xây dựng, ban hành chuẩn chương trình đào tạo trong các lĩnh vực đặc thù như đường sắt, điện hạt nhân.
Đối với việc mở chương trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học, Vụ trưởng Nguyễn Tiến Thảo yêu cầu tiếp tục thực hiện đúng tinh thần phân cấp, phân quyền, phát huy quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 8/4 công bố sửa đổi một số điều của Thông tư 29 về dạy thêm, học thêm.
Cụ thể, thời lượng dạy thêm tối đa trong trường vẫn là 2 tiết/tuần/môn, áp dụng với ba nhóm học sinh chưa đạt, ôn thi học sinh giỏi và cuối cấp (miễn phí). Tuy nhiên, các trường được dạy vượt ngưỡng này nếu học sinh có nhu cầu. Khi đó, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo sẽ xem xét, dựa trên đề nghị của hiệu trưởng.
Điểm mới nữa là Bộ yêu cầu các trung tâm dạy thêm công khai, cập nhật thường xuyên môn học, thời lượng, địa điểm, hình thức, danh sách học sinh và học phí. Trong quy định hiện hành, yếu tố "thường xuyên cập nhật" không được đề cập.
Giáo viên dạy ngoài trường cũng phải báo cáo hiệu trưởng các thông tin tương tự, kèm mối quan hệ với người tổ chức kinh doanh dạy thêm.
Ngoài ra, các xã, phường và trường học phải công khai số điện thoại đường dây nóng trên website hoặc niêm yết tại trụ sở, để tiếp nhận phản ánh của người dân về dạy thêm sai quy định.
Các sửa đổi có hiệu lực từ 15/5.
Thông tư 29 gây tranh cãi suốt một năm qua. Nhiều chuyên gia đánh giá nó giúp giảm hiện tượng dạy thêm tràn lan, phụ huynh cũng không phải e dè khi không cho con học thêm giáo viên ở trường. Tuy nhiên, phụ huynh phải gánh chi phí tăng 2-4 lần so với học thêm trong trường, dù cùng thời lượng, sĩ số lớp.
Tiếp xúc cử tri ở Hà Nội hồi đầu tháng 3, ông Hoàng Minh Sơn, Quyền Bộ trưởng Giáo dục, khẳng định "đấu tranh với những hiện tượng chưa lành mạnh" trong dạy thêm, học thêm, song sẽ tiếp thu các góc nhìn khác. Ông và Bộ sẽ nghiên cứu thấu đáo để vừa đảm bảo quyền được học tập của học sinh; vừa tạo sự công bằng, hạn chế thấp nhất vấn đề tiêu cực.