Các chuyên gia y tế cảnh báo về một cuộc khủng hoảng y tế công cộng đang lan rộng tại Anh, khi tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhà vệ sinh công cộng đang đẩy người dân vào cảnh “khốn khổ”, theo Independent.
Phân tích mới nhất từ Hiệp hội Y tế Công cộng Hoàng gia Anh (RSPH) cho thấy số lượng các cơ sở vệ sinh sụt giảm mạnh 14% kể từ năm 2016. Trung bình mỗi nhà vệ sinh công cộng tại Anh đang phải phục vụ cho hơn 15.000 người. Dữ liệu dựa trên phản hồi chính thức từ 221 trên tổng số 309 chính quyền địa phương tại Anh. Các khu vực này là nơi sinh sống của 47 triệu dân, chiếm khoảng 82% tổng dân số cả nước.
Tình trạng thiếu nhà vệ sinh đang dẫn đến nhiều tác động xấu, điển hình là nạn phóng uế nơi công cộng, khiến môi trường sống trở nên mất vệ sinh. Nhiều người dân vì lo ngại không tìm được nơi “giải quyết nỗi buồn” đã chọn cách ở nhà thay vì ra ngoài, gây ảnh hưởng đến doanh thu của các doanh nghiệp địa phương. Nhiều người thậm chí còn không dám uống nước khi ra đường, dễ khiến cơ thể bị thiếu nước.
Ông William Roberts, Giám đốc điều hành RSPH, cho hay sử dụng nhà vệ sinh công cộng là nhu cầu cơ bản của mọi người, vì vậy không cần phải e ngại khi đề cập đến vấn đề này. “Chỉ có một nhà vệ sinh cho mỗi 15.000 người là không thể chấp nhận được. Nếu không hành động, con số này sẽ còn tăng vọt khi các cơ sở vệ sinh cứ tiếp tục bị đóng cửa”, ông nói, cho biết nhà vệ sinh công cộng là lý do khiến nhiều người ngại ra đường, hoặc khiến họ phải chấp nhận nhịn uống nước để khỏi phải tìm chỗ đi vệ sinh.
Theo ông Roberts, hệ quả của việc này không chỉ dừng lại ở mức độ cá nhân. Tình trạng thiếu hụt nhà vệ sinh công cộng tất yếu sẽ dẫn đến các hệ lụy về vệ sinh, tạo nên một môi trường kém văn minh và làm xuống cấp mỹ quan đô thị.
Để tăng số lượng, RSPH kêu gọi giao trách nhiệm cho các cơ quan quản lý mới trong việc đảm bảo hạ tầng vệ sinh tại các điểm công cộng, bằng ngân sách nhà nước. Tổ chức này cũng cho rằng các chủ đầu tư cần phải có trách nhiệm hơn. Họ kêu gọi ban hành các quy định bắt buộc xây nhà vệ sinh công cộng trong mọi dự án thương mại và dịch vụ.
Hiện nay, việc quyết định số lượng nhà vệ sinh cần thiết hoàn toàn phụ thuộc vào các hội đồng địa phương, dẫn đến sự chênh lệch rõ rệt so với các quốc gia khác trong vương quốc như Scotland hay xứ Wales, nơi tỷ lệ người dân trên mỗi nhà vệ sinh thấp hơn đáng kể.
Đại diện Hiệp hội Chính quyền Địa phương cho biết việc thiếu chỗ vệ sinh công cộng gây ảnh hưởng nặng nề hơn cả lên những nhóm người dễ bị tổn thương gồm người già, khuyết tật, có bệnh lý, trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và người vô gia cư. Tuy nhiên, các hội đồng cũng đang đối mặt với bài toán kinh tế khi chi phí duy trì một nhà vệ sinh có thể lên tới 25.000 bảng Anh mỗi năm.
Bên cạnh đó, nạn phá hoại và các hành vi thiếu ý thức tại các điểm vệ sinh chung đang ngốn hàng triệu bảng từ ngân sách, buộc người đóng thuế phải gánh chịu chi phí cho việc vệ sinh và an ninh tăng cường. Mặc dù các mô hình hợp tác với doanh nghiệp tư nhân đã được triển khai song vẫn chưa thể lấp đầy khoảng trống khi các cửa hàng trên phố liên tục đóng cửa.
Người phát ngôn của Bộ Nhà ở, Cộng đồng và Chính quyền địa phương cho biết: “Để hỗ trợ các hội đồng cung cấp dịch vụ công như nhà vệ sinh, chúng tôi đã cấp ngân sách hơn 78 tỷ bảng Anh. Các lãnh đạo địa phương hoàn toàn có quyền tự quyết định cách chi tiêu hiệu quả nhất cho phần lớn số tiền này”.
Bác sĩ chuyên khoa 1 Bạch Thị Chính, Giám đốc Y khoa, Hệ thống Tiêm chủng VNVC, cho biết trẻ vị thành niên là nhóm có tỷ lệ mang vi khuẩn não mô cầu ở vùng hầu họng cao gấp đôi so với dân số chung. Nhóm này vừa đối mặt với nguy cơ mắc bệnh cao, vừa tiềm ẩn nguồn lây trong cộng đồng.
Theo thống kê từ Bộ Y tế, đầu năm đến nay cả nước ghi nhận 24 ca mắc bệnh não mô cầu, đáng lưu ý, trẻ dưới 15 tuổi chiếm tới 46% tổng số ca mắc. Bộ Y tế đã cảnh báo nguy cơ lây lan dịch trong cộng đồng, đặc biệt tại các môi trường tập trung đông trẻ em như trường học, nhà trẻ và khu vui chơi.
Vi khuẩn não mô cầu Neisseria meningitidis cư trú ở vùng hầu họng của con người và lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc gần với dịch tiết chứa mầm bệnh. Khi hệ miễn dịch suy giảm hoặc niêm mạc hô hấp bị tổn thương, vi khuẩn có thể nhanh chóng xâm nhập vào máu, gây nhiễm trùng huyết tối cấp hoặc tấn công lên não gây viêm màng não.
Bác sĩ Chính cho biết não mô cầu gây 2 thể bệnh thường gặp là viêm màng não (chiếm hơn 50% các trường hợp bệnh do não mô cầu xâm lấn) hoặc nhiễm trùng huyết tối cấp (chiếm từ 5 - 20%). Đây là 2 thể bệnh chính, có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc đồng thời với tốc độ diễn tiến rất nhanh, nhiều trường hợp ban ngày trẻ còn đi học nhưng chỉ sau vài giờ đã rơi vào tình trạng nguy kịch. Một số trường hợp ít gặp hơn bao gồm viêm phổi (chiếm từ 5 - 15%), viêm kết mạc, viêm tai giữa, viêm thanh môn, viêm khớp, viêm niệu đạo, viêm màng ngoài tim.
Các chuyên gia cho rằng trẻ dưới 15 tuổi đối mặt với "nguy cơ kép" khi vừa dễ mang vi khuẩn não mô cầu, vừa có nguy cơ diễn tiến nặng khi mắc bệnh. Theo Hội Y học dự phòng, tỷ lệ mang vi khuẩn ở nhóm này có thể lên tới 25 - 32%, cao nhất trong các độ tuổi, với nguy cơ mắc bệnh có thể gấp đôi dân số chung. Trong khi đó, thanh thiếu niên lại có nguy cơ lây lan cao trong môi trường tập thể như trường học, ký túc xá, sinh hoạt đông người.
Việt Nam đang lưu hành đồng thời 5 nhóm huyết thanh gây bệnh não mô cầu gồm A, B, C, Y và W. Bác sĩ Chính khuyến cáo tiêm chủng là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa và kiểm soát dịch não mô cầu. Tuy nhiên, mỗi loại vắc xin hiện nay chỉ phòng được một hoặc một số nhóm huyết thanh nhất định và không có miễn dịch chéo, nên việc phòng bệnh cần đặt ra yêu cầu bảo vệ toàn diện.
Để phòng bệnh, bác sĩ khuyến cáo cần thực hiện tốt các việc như:
Hiện các bệnh truyền nhiễm khác như tay chân miệng, sốt xuất huyết, cúm… cũng đang có xu hướng gia tăng. Sự lưu hành đồng thời của nhiều tác nhân gây bệnh không chỉ làm tăng nguy cơ lây lan trong cộng đồng mà còn khiến việc nhận diện sớm trở nên khó khăn, dễ nhầm lẫn triệu chứng ban đầu và làm chậm trễ can thiệp y tế kịp thời. Vì vậy, phòng bệnh không thể chờ đến khi có ca bệnh mà cần được thực hiện chủ động, từ sớm và đầy đủ để giảm nguy cơ dịch chồng dịch, bảo vệ an toàn cho trẻ và cộng đồng.
Trên thực tế, rủi ro sức khỏe không nằm ở việc hâm nóng lại, mà chủ yếu phụ thuộc vào cách bảo quản trước đó, thời gian thức ăn bị để ngoài nhiệt độ phòng và số lần món ăn được hâm đi hâm lại, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Trong một số trường hợp, vi khuẩn có thể phát triển trước khi thức ăn được hâm lại và tạo ra độc tố. Độc tố này không thể bị phá hủy hoàn toàn ngay cả khi hâm ở nhiệt độ cao. Những sai lầm sau có thể khiến thức ăn không còn an toàn, ngay cả khi đã hâm lại.
Đây là nguyên nhân phổ biến khiến thức ăn hâm lại không còn an toàn. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), các thực phẩm dễ hỏng như thịt, hải sản, cơm, món có trứng, sữa hoặc nước sốt không nên để ngoài nhiệt độ phòng quá 2 giờ. Nếu thời tiết trên 32 độ C, thời gian an toàn giảm xuống còn 1 giờ.
Nguyên nhân là vì vi khuẩn phát triển nhanh trong khoảng nhiệt độ từ 4 đến 60 độ C. Trong môi trường này, các vi khuẩn như Salmonella, E. coli hoặc Staphylococcus aureus có thể sinh sôi mạnh.
Điều đáng lo là hâm nóng lại có thể tiêu diệt một phần vi khuẩn sống nhưng không phải lúc nào cũng loại bỏ được độc tố mà chúng đã tạo ra trước đó. Nếu thức ăn đã để trên bàn bếp quá lâu hoặc để qua đêm ở nhiệt độ phòng, cách an toàn nhất là không nên ăn tiếp.
Nhiều người nghĩ rằng hâm cơm nguội nhiều lần dễ gây hại. Thế nhưng, vấn đề thật sự lại nằm ở cách bảo quản cơm sau khi nấu.
Gạo có thể chứa bào tử của vi khuẩn Bacillus cereus. Các bào tử này có khả năng sống sót sau quá trình nấu. Nếu cơm chín để ngoài nhiệt độ phòng quá lâu, chúng có thể phát triển thành vi khuẩn và tạo độc tố gây nôn ói hoặc tiêu chảy.
Độc tố gây nôn của Bacillus cereus có khả năng chịu nhiệt khá cao. Điều này đồng nghĩa việc hâm nóng lại không đảm bảo cơm trở nên an toàn nếu độc tố đã hình thành từ trước. Cách tốt hơn là để cơm nguội nhanh sau khi nấu, cho vào tủ lạnh và chỉ hâm lại khi chuẩn bị ăn.
Một số người nghĩ rằng chỉ cần cho thức ăn vào tủ lạnh thì có thể để nhiều ngày mà không sao. Tuy nhiên, tủ lạnh chỉ làm chậm quá trình phát triển của vi khuẩn chứ không ngăn chặn hoàn toàn.
Các chuyên gia khuyến cáo phần lớn thức ăn thừa chỉ nên giữ trong tủ lạnh khoảng 3 - 4 ngày. Sau thời gian này, nguy cơ nhiễm khuẩn bắt đầu tăng lên dù món ăn vẫn có vẻ bình thường về mùi và màu sắc.
Một số vi khuẩn như Listeria monocytogenes vẫn có thể phát triển trong môi trường lạnh. Vì vậy, nếu thức ăn đã để gần 1 tuần trong tủ lạnh, cách an toàn nhất là không nên ăn, theo Healthline.
Cụ thể, kế hoạch nêu rõ phạm vi, đối tượng, lộ trình ưu tiên, cơ sở tổ chức khám và nguồn kinh phí thực hiện chính sách khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí thực hiện theo nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh.
Theo đó, nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh đang được Bộ Y tế lấy ý kiến.
Trong đó, Bộ Y tế đề xuất từ năm 2026, ưu tiên thực hiện khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần cho người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công, người mắc bệnh mạn tính, người sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã đảo, đặc khu.
Ngoài ra, cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức hoặc cá nhân sử dụng người lao động theo quy định để tổ chức thực hiện khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Bộ Y tế giao sở y tế các tỉnh, thành phố phối hợp với sở giáo dục và đào tạo, các trường học xây dựng và trình UBND tỉnh, thành phố ban hành kế hoạch và tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân trên địa bàn.
Đồng thời chỉ đạo tổ chức rà soát, lập danh sách người dân; chỉ đạo tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân theo thẩm quyền quản lý tại địa phương tại trạm y tế hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã công bố đủ điều kiện khám sức khỏe.
Trường hợp trạm y tế cấp xã không đủ điều kiện khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc theo quy định, chính quyền cấp xã hoặc sở y tế chỉ đạo cơ sở đã đủ điều kiện khám sức khỏe trên địa bàn chủ động phối hợp, hỗ trợ chuyên môn hoặc chọn trạm y tế xã làm địa điểm khám sức khỏe lưu động theo quy định để đảm bảo thuận tiện cho người dân.
Kế hoạch cũng yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí. Bố trí phân nhóm đối tượng ưu tiên, sắp xếp lịch khám hợp lý để tránh quá tải.
Nội dung khám phải bảo đảm đầy đủ theo hướng dẫn chuyên môn, bao gồm đánh giá tình trạng sức khỏe, phát hiện sớm nguy cơ bệnh tật, tư vấn phòng bệnh, điều trị hoặc chuyển tuyến khi cần thiết. Toàn bộ quy trình phải tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật về khám chữa bệnh và phòng bệnh.
Kết quả khám được tổng hợp và lập sổ sức khỏe điện tử; liên thông, chia sẻ dữ liệu khám sức khỏe định kỳ và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành y tế với hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế; tích hợp trên ứng dụng VNeID theo hướng dẫn của Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Về tổ chức thực hiện, Bộ Y tế giao rõ trách nhiệm cho các đơn vị. Cụ thể, Cục Phòng bệnh chịu trách nhiệm xây dựng hướng dẫn chuyên môn về khám sàng lọc, trong đó các hướng dẫn khám sức khỏe định kỳ dự kiến hoàn thành ngay trong tháng 5-2026.
Cục Quản lý khám chữa bệnh ban hành hướng dẫn chuyên môn khám sức khỏe định kỳ; xây dựng hệ thống dữ liệu sổ sức khỏe điện tử quốc gia và kế hoạch thực hiện tại các địa phương đều được giao hoàn thành trong tháng 5.
Ngoài ra, Bộ Y tế cũng giao Cục Phòng bệnh hoàn thiện hướng dẫn sàng lọc cho từng nhóm đối tượng dự kiến hoàn thành trước cuối năm 2027.