Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh để đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số, đột phá về thể chế vẫn là then chốt nhất. Thể chế giống như “con đường”, tạo hành lang thông thoáng cho “cỗ xe kinh tế” phát triển. Nếu “con đường” được nâng cấp, “cỗ xe” ấy sẽ đi với tốc độ cao hơn.
Vì vậy, trong năm 2026, loạt vấn đề về thể chế phải được xử lý dứt điểm, bao gồm tổng rà soát hệ thống pháp luật, xây dựng chiến lược pháp luật trong kỷ nguyên mới, xử lý các vướng mắc liên quan đến vận hành của chính quyền 2 cấp. Năm 2026 cũng là “năm hướng về cơ sở”, tập trung nâng cao chất lượng cán bộ tại cấp xã, phường, bởi đây là lực lượng đóng vai trò then chốt trong kiến tạo phát triển.
Song song với thể chế, Chính phủ sẽ quyết liệt cải cách hành chính, cắt giảm tối đa các thủ tục, điều kiện kinh doanh, nâng cao năng lực và trách nhiệm thực thi công vụ. Dự kiến phương án cắt giảm cụ thể sẽ được trình trước ngày 15.4, qua đó giảm chi phí tuân thủ, tạo lòng tin của người dân, doanh nghiệp (DN) với chính sách.
Về hạ tầng, Thủ tướng cho hay các dự án trọng điểm về giao thông đường bộ, sân bay và năng lượng sẽ được đẩy mạnh. Quy hoạch điện 8 sẽ được điều chỉnh, củng cố nguồn điện nền, kết hợp ứng dụng công nghệ mới để đảm bảo an ninh năng lượng và tiêu chuẩn môi trường. Phương án dự trữ quốc gia cũng đã được xây dựng, nhất là một số mặt hàng thiết yếu, không chỉ là xăng dầu.
Vẫn theo Thủ tướng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong nhiệm kỳ này cần khoảng 40% GDP, tương đương 38,5 triệu tỉ đồng, trong khi nhiệm kỳ trước chỉ khoảng 33% GDP, “áp lực là rất lớn”. Trong đó, tổng vốn đầu tư công hơn 8 triệu tỉ đồng, chỉ chiếm hơn 20% tổng vốn đầu tư xã hội. Khoảng 80% còn lại phải huy động từ những nguồn lực khác, từ DN trong nước, xã hội, nước ngoài… Điều này đòi hỏi bắt buộc phải có những giải pháp cụ thể để tạo ra hành lang pháp lý minh bạch, khuyến khích người dân và DN đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần tăng trưởng nhưng phải dựa trên nền tảng ổn định vĩ mô, “xây nhà thì nền móng phải rất vững chắc”, không thể tăng trưởng “nóng” bằng mọi giá, vì cái giá phải trả cho bất ổn vĩ mô là rất lớn về dài hạn.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, nhiều ý kiến cũng lưu ý về việc giải phóng các nguồn lực. Chủ tịch Quốc hội (QH) Trần Thanh Mẫn cho rằng phải có nhiều tập đoàn tư nhân lớn, kinh tế tư nhân phát triển thì đất nước mới phát triển. “Hiện nay các công trình lớn quốc gia giao cho các tập đoàn này xây dựng rất nhanh, đảm bảo yêu cầu đặt ra. Tại sao Nhà nước một công trình làm thủ tục 3 – 4 năm mới xong, rồi xây dựng kéo dài. Trung tâm hội chợ triển lãm quốc gia lớn nhất VN làm 10 tháng xong”, ông nói.
Chủ tịch QH cũng lưu ý muốn tăng trưởng cần đột phá về thể chế, mở đường cho sản xuất, cần tập trung vào cải cách theo hướng “5 hóa”: thực hiện triệt để số hóa, xanh hóa, tối ưu hóa nguồn lực, thông minh hóa quản trị và hài hòa hóa lợi ích. “Kinh tế phát triển nhưng phải đảm bảo sự công bằng xã hội, từ giáo dục, y tế, lao động đến giải quyết việc làm”, Chủ tịch QH nhấn mạnh. Thêm vào đó phải đẩy mạnh cắt giảm chi phí tuân thủ, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm rộng rãi, xóa bỏ tâm lý sợ sai bằng cách từng cấp, từng ngành, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Theo Phó chủ tịch QH Nguyễn Hồng Diên, một nhiệm vụ quan trọng là phải thiết lập niềm tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Dẫn chứng từ làn sóng đầu tư FDI rất lớn gần đây, ông Diên chỉ rõ nhà đầu tư nước ngoài vào VN do hàng loạt yếu tố thuận lợi như giá năng lượng thấp, chi phí rẻ, thị trường rộng lớn. Tuy nhiên, “72 – 74% giá trị xuất khẩu hiện nay vẫn thuộc về các DN FDI”. Do đó, phải chấn chỉnh thu hút đầu tư FDI, đặt ra điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài đến VN không chỉ khai thác lợi thế mà phải lan tỏa cho cộng đồng DN trong nước. DN FDI không chỉ mang tiền mà phải công nghệ mới, quản trị mới, có như vậy thu hút đầu tư mới thực chất.
Cạnh đó, đề nghị Chính phủ sớm có giải pháp “để người dân, xã hội yên tâm đầu tư chứ không phải vùi tiền vào trong đất, vùi tiền vào trong vàng, ném tiền ra nước ngoài đầu tư”. Đơn cử như việc siết chặt thuế phải trên cơ sở nuôi dưỡng nguồn thu, dưỡng sức dân, dưỡng sức DN.
Ông Diên nêu ví dụ “ai cũng nhìn thấy, khắp nơi trên đất nước này có hàng trăm, hàng nghìn dự án bất động sản, giống như Trung Quốc cách đây nhiều năm có nhiều thành phố ma. Hàng trăm tỉ, hàng nghìn tỉ không được đưa vào sử dụng, đắp chiếu như thế khiến mỗi ngày qua đi lãi mẹ đẻ lãi con, lãi cháu, bốc hơi đi hàng chục tỉ”. Theo đó, cần tập trung tháo gỡ các dự án, công trình dở dang trên cả nước, như của 173 dự án năng lượng tái tạo vướng mắc trước đây cũng đã có tổng mức đầu tư lên tới 13 tỉ USD, không vận hành được rất lãng phí. Nếu gỡ được những dự án này thì nguồn lực huy động được rất lớn, tạo ra sức bật kinh tế trong năm 2026.
Đại biểu Đặng Ngọc Huy (đoàn Quảng Ngãi) dành sự quan tâm đến hệ thống dự trữ xăng dầu quốc gia. Ông nói Nghị quyết 70 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu dự trữ xăng dầu đạt khoảng 90 ngày nhập khẩu ròng vào năm 2030, song thực tế dự trữ quốc gia hiện nay chỉ đáp ứng được 7 – 10 ngày sử dụng, nếu cộng cả dự trữ thương mại chỉ tối đa 30 ngày. “Chúng ta không thể vận hành một nền kinh tế năng động với quy mô khoảng 514 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới, bằng một chiếc bình nhiên liệu luôn “báo đèn đỏ”. Khoảng cách từ 30 ngày lên 90 ngày không chỉ là bài toán về kho bãi, đó là bài toán về năng lực tự chủ chiến lược”, ông Huy băn khoăn.
Trước thực tế trên, ông Đặng Ngọc Huy cho rằng không thể chậm trễ trong việc xây kho dự trữ xăng dầu, việc này dù sẽ tốn kém nhưng cái giá của việc thiếu dự trữ còn đắt hơn gấp nhiều lần. “Chúng ta không thể chờ đến khi “khát” mới bắt đầu đào giếng. Xây dựng kho dự trữ chiến lược chính là mua bảo hiểm cho nền kinh tế”, ông Huy nói và kiến nghị Chính phủ quyết liệt bố trí nguồn lực ngân sách và cơ chế đặc thù để khởi công ngay hệ thống kho dự trữ quốc gia.
Thông tin thêm về tình hình thị trường xăng dầu, Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng cho hay Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ có chỉ đạo rất quyết liệt, xác định mục tiêu số một là phải bảo đảm an ninh năng lượng, dựa trên 3 trụ cột: phải đủ nguồn cung, phải tổ chức phân phối không đứt gãy và phải bảo đảm khả năng tiếp cận của người dân.
Trên cơ sở đó, các kịch bản đã được xây dựng để ứng phó với biến động. Nhiều giải pháp được triển khai đồng bộ, từ việc tập trung bảo đảm đủ nguồn cung trong nước, đa dạng nguồn cung từ bên ngoài, nâng số ngày dự trữ lưu thông cho đến duy trì công suất tối đa tại 2 nhà máy lọc dầu phục hồi, đưa vào vận hành các nhà máy ethanol…
Nhờ vậy, VN đã nâng số ngày dự trữ từ khoảng 15 ngày lên khoảng 26 ngày và sẽ tiếp tục nâng hơn nữa để duy trì nguồn cung trong nước ổn định, không bị đứt gãy. Chưa kể, mức giá các mặt hàng xăng, dầu diesel cũng được duy trì thấp hơn mức bình quân thế giới. Ví dụ xăng RON95, bình quân thế giới khoảng 1,3 USD/lít (tương đương khoảng 34.000 đồng/lít, với tỷ giá 1 USD = 26.300 đồng), trong khi VN chỉ khoảng 23.000 – 24.000 đồng/lít.
Hoặc so sánh với các nước có chung biên giới phải đóng cửa khoảng 50% trạm xăng, con số này ở Campuchia khoảng 35%; hoặc các nước lân cận như Thái Lan rơi vào tình trạng quỹ Chính phủ mất kiểm soát, giá nhiên liệu rất cao, Philippines cũng tuyên bố tình trạng khẩn cấp… Trong khi đó, VN vẫn duy trì ổn định.
Ngày 22-4, đại diện Đội Cảnh sát giao thông đường bộ cao tốc số 6 (đội 6), Phòng 6, Cục Cảnh sát giao thông (Bộ Công an) cho biết qua công tác tuần tra trực tiếp trên tuyến, việc tài xế rơi vào trạng thái mệt mỏi, buồn ngủ khi chạy đường dài diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, chỉ cần vài giây mất tập trung, hậu quả có thể là những vụ tai nạn đặc biệt nghiêm trọng.
Đáng chú ý, thời gian gần đây xuất hiện nhiều trường hợp tài xế dừng, đỗ xe sai quy định trên cao tốc để nghỉ ngơi. Không ít người lựa chọn dừng xe ngay trên làn đường xe chạy hoặc dải dừng khẩn cấp để ngủ, tiềm ẩn nguy cơ tai nạn.
Theo lực lượng chức năng, việc mệt mỏi khi lái xe đường dài là điều khó tránh. Tuy nhiên, lựa chọn dừng xe ngay trên cao tốc để ngủ là sự lựa chọn không an toàn.
CSGT khuyến cáo: 'Buồn ngủ, tài xế hãy ra khỏi cao tốc hoặc vào trạm dừng nghỉ rửa mặt, uống nước, nghỉ ngơi, đảm bảo tỉnh táo rồi mới đi tiếp' - Video: C08
"Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên các tuyến cao tốc, trước khi các tài xế vào cao tốc phải kiểm tra kỹ các phần kỹ thuật của xe, nhiên liệu, đèn… Đặc biệt là tài xế phải ngủ đủ giấc, tỉnh táo, đảm bảo sức khỏe để lộ trình thuận lợi. Nghiêm cấm hành vi dừng đỗ sai quy định trên cao tốc để ngủ khi xe không gặp trường hợp bất khả kháng…", đại diện Đội 6 chia sẻ.
Thực tế cho thấy thay vì rời khỏi cao tốc hoặc tìm đến các điểm dừng nghỉ, một số tài xế lại chọn giải pháp nhanh nhưng tiềm ẩn rủi ro lớn. Điều này không chỉ là vấn đề kỹ năng lái xe mà còn liên quan đến nhận thức về giới hạn an toàn khi tham gia giao thông.
Bộ Tài chính vừa đề xuất loại bỏ sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô khỏi danh mục kinh doanh có điều kiện (từ ngày 1.7.2026). Đề xuất này tuy có vẻ mang lại sự thông thoáng, giảm chi phí nhưng sẽ đe dọa sự phát triển của công nghiệp ô tô, hệ sinh thái ô tô, quyền lợi người tiêu dùng và các hệ lụy cho phát triển của đất nước ở kỷ nguyên vươn mình.
Trải qua 30 năm phát triển, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia (18 nước) có khả năng tự sản xuất được thương hiệu ô tô nội địa bài bản, sản lượng năm 2025 khoảng 484.500 xe, tăng trưởng 39,1% so với 2024. Theo Tổ chức các nhà sản xuất ô tô quốc tế (OICA), Việt Nam ở vị trí 32 - 34 sản lượng ô tô toàn cầu.
Tổng doanh thu toàn ngành công nghiệp ô tô hơn 1,7 triệu tỉ đồng, đóng góp khoảng 3% tổng sản phẩm nội địa (GDP), nếu tính cả các hệ sinh thái ô tô như sản xuất lắp ráp, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ kỹ thuật và thương mại thì mức đóng góp khoảng 5 - 7%.
Hiện ngành ô tô Việt Nam có khoảng 1 triệu lao động, là nhóm có năng suất lao động cao nhất trong các ngành chế biến, chế tạo, gấp khoảng 3 - 5 lần so với các ngành lao động thấp khác.
Dư địa để phát triển ngành công nghiệp ô tô rất lớn khi tỷ lệ sở hữu xe hiện tại mới đạt khoảng 63 xe/1.000 dân, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan 280 xe/1.000 dân, Malaysia 170 xe/1.000 dân. Giai đoạn 2025 - 2030 được xác định là thời kỳ "bùng nổ ô tô hóa" (motorization) khi GDP bình quân đầu người vượt ngưỡng 5.000 USD hướng tới 7.500 USD vào năm 2030, là cơ hội "vàng" để ngành ô tô Việt Nam bứt phá.
Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng ngành ô tô bình quân 14 - 16%/năm, đây là mức tăng trưởng rất cao, góp phần tăng trưởng GDP cả nước kỳ vọng 2 con số. Quy mô tiêu thụ dự kiến đạt 1 - 1,1 triệu xe năm 2030 với đóng góp GDP và vai trò ngành công nghiệp lên mức 7% - 9% GDP hoặc cao hơn, đáp ứng khoảng 70% nhu cầu nội địa. Công nghiệp hỗ trợ với mức nội địa hóa 55 - 60%, tạo tiền đề để xuất khẩu linh kiện và phụ tùng đạt giá trị 14 tỉ USD.
Với tiềm năng lớn, ngành ô tô Việt Nam cần một cuộc cách mạng về chính sách và đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) để có thể tiến vào tốp 10 quốc gia sản xuất ô tô thế giới và làm chủ công nghệ lõi (ICE, PIN, EVCU).
Đầu tiên, Việt Nam cần thay đổi chính sách để tạo điều kiện phát triển, chuyển từ "lắp ráp" sang "nghiên cứu R&D và sản xuất" như duy trì "lá chắn" kỹ thuật giữ ô tô trong danh mục kinh doanh có điều kiện nhưng chuyển sang hậu kiểm minh bạch. Đồng thời, sử dụng rào cản kỹ thuật như khí thải Euro 6, 7, tiêu chuẩn an toàn để ngăn chặn xe công nghệ cũ, giá rẻ tràn vào.
Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần ưu đãi đặc thù cho công nghệ lõi. Với xe ô tô truyền thống, nhà nước có thể hỗ trợ trực tiếp cho các dự án sản xuất động cơ, như mô hình Kim Long Motor hợp tác sản xuất, xuất khẩu động cơ. Còn với xe điện, ưu đãi đặc thù có thể tập trung vào sản xuất pin và hệ điều hành EVCU.
Chính sách thuế quan cũng nên áp dụng linh hoạt, trong đó mức thuế nhập khẩu 0% cho linh kiện phục vụ sản xuất trong nước chưa làm được, đồng thời bảo hộ có thời hạn cho linh kiện đã nội địa hóa đạt chuẩn.
Để đạt tốp 10, Việt Nam phải nâng tỷ lệ đầu tư cho R&D lên mức đột phá, từ 0,43% GDP tăng lên mức 2 - 4% doanh thu, tương đương các nước phát triển, thông qua các quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ của nhà nước.
Ngoài ra, nhà nước cũng cần hỗ trợ làm chủ công nghệ thông qua việc giúp doanh nghiệp giảm chi phí thử nghiệm sản phẩm mới và làm chủ các tiêu chuẩn quốc tế, đào tạo nhân lực chuyên sâu về động cơ ô tô, pin EVCU-AI…
Ô tô là "ngành công nghiệp nền tảng", đóng vai trò là ngành trung tâm, dẫn dắt nhiều ngành khác phát triển, kéo theo chuỗi cung ứng của các ngành công nghiệp và chuỗi dịch vụ kỹ thuật - thương mại. Nếu mất đi, Việt Nam sẽ chỉ là thị trường tiêu thụ, phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ và sản phẩm từ bên ngoài, đánh mất cơ hội làm chủ các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cốt lõi.
Thực tế cho thấy các quốc gia có ngành ô tô mạnh đều trải qua và duy trì bảo hộ. Đơn cử như Hàn Quốc từng cấm nhập khẩu xe nguyên chiếc trong nhiều thập niên để Hyundai, Kia có thời gian lớn mạnh và chiếm lĩnh thị trường. Thái Lan duy trì các điều kiện cực kỳ khắt khe về tỷ lệ nội địa hóa và tiêu chuẩn kỹ thuật...
Trung Quốc sử dụng chính sách "đổi thị trường lấy công nghệ", buộc các hãng xe ngoại phải liên doanh với doanh nghiệp nội và đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất nghiêm ngặt để được hoạt động.
Chưa kể, khi không còn hàng rào kỹ thuật, rủi ro "thương mại ngắn hạn" sẽ phát sinh với sự xuất hiện hàng loạt doanh nghiệp nhỏ chỉ làm thương mại, người tiêu dùng bị bỏ rơi. Ô tô là tài sản lớn và cần bảo trì định kỳ 10 - 15 năm, doanh nghiệp thương mại thuần túy thường không đầu tư kho phụ tùng hay trạm dịch vụ chuyên nghiệp, gây khó khăn cho người mua do thiếu linh kiện thay thế chính hãng.
Đối với doanh nghiệp, chính sách này có thể phá vỡ quy hoạch và "phi công nghiệp hóa", gây tác dụng ngược cho công nghiệp hiện đại. Các tập đoàn lớn sẽ cân nhắc việc đóng cửa nhà máy tại Việt Nam để chuyển sang nhập khẩu từ các trung tâm sản xuất lớn trong khu vực. Hậu quả, Việt Nam sẽ mất đi cơ hội tiếp nhận chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực kỹ thuật cao.
Đối với kinh tế vĩ mô, thay vì giá trị gia tăng được giữ lại trong nước thông qua sản xuất, dòng tiền sẽ chảy ra nước ngoài để chi trả cho xe nguyên chiếc nhập khẩu. Nếu sản xuất đình trệ, làn sóng thất nghiệp ở nhóm lao động kỹ năng là điều khó tránh khỏi.
Chưa kể, việc nhập khẩu ồ ạt các dòng xe giá rẻ, công nghệ cũ (để tối ưu giá) sẽ gây áp lực cực lớn lên hạ tầng giao thông vốn đã quá tải và làm trầm trọng thêm vấn đề ô nhiễm môi trường.
Đặc biệt, Việt Nam có thể sẽ đánh mất cơ hội trong "kỷ nguyên xe điện" khi sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô không còn trong danh mục kinh doanh có điều kiện. Việt Nam đang có cơ hội hiếm hoi để "đi tắt đón đầu" thông qua xe điện.
Nếu "thả cửa", các dòng xe điện giá siêu rẻ, không có hạ tầng trạm sạc tiêu chuẩn, không có cam kết tái chế pin từ các đơn vị nhập khẩu thương mại sẽ tràn vào, không chỉ phá vỡ quy hoạch ngành xe điện nội địa mà còn để lại gánh nặng về môi trường.
Thay vì xóa bỏ, nhà nước nên "nâng cấp" các điều kiện kinh doanh bằng số hóa thủ tục, chuyển toàn bộ việc đăng ký, kiểm định, báo cáo sang môi trường số, giúp loại bỏ cơ chế "xin - cho", giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Tiêu chuẩn hóa thay vì định tính các điều kiện kinh doanh bằng các bộ tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng thay vì những quy định chung chung dễ gây hiểu lầm.
Chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm có kiểm soát" là mấu chốt của cải cách hiện đại. Tiền kiểm thường bắt doanh nghiệp phải chứng minh đủ điều kiện mới được phép kinh doanh. Điều này thường tạo ra rào cản gia nhập thị trường và gây chậm trễ.
Trong khi đó, hậu kiểm có kiểm soát cho phép kinh doanh dựa trên cam kết, doanh nghiệp được phép hoạt động ngay sau khi đăng ký và cam kết đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về bảo hành, bảo dưỡng, an toàn. Cách làm này vừa tạo sự thông thoáng cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính, vừa loại bỏ được các doanh nghiệp "thương mại chụp giật" không đủ năng lực hậu mãi bài bản.
Ngày 14/4, Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cho biết, theo thông tư 08 của Bộ Khoa học và Công nghệ, từ ngày 15/4 sẽ tiến hành việc xác thực thông tin đăng ký, sử dụng số thuê bao di động qua ứng dụng định danh điện tử VNeID.
Việc triển khai quy định này nhằm tăng cường quản lý thuê bao, bảo vệ dữ liệu cá nhân và phòng, chống các hành vi lừa đảo trên không gian mạng. Các công tác chuẩn bị về các điều kiện xác thực thuê bao di động qua VNeID cũng đang gấp rút được triển khai.
Theo Thông tư 08, các thuê bao di động sẽ phải xác thực 4 trường thông tin gồm: Số định danh cá nhân; họ, chữ đệm và tên; ngày, tháng, năm sinh và quan trọng nhất là thông tin sinh trắc học ảnh khuôn mặt.
Các dữ liệu này phải khớp với thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Hiện, các đơn vị của Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ Công an đã tiến hành những công việc rà soát cuối cùng nhằm đánh giá hoạt động của tính năng xác thực thuê bao di động trên ứng dụng VNeID.
Theo quy trình, ứng dụng VNeID sẽ gửi thông báo đến người dùng theo từng đợt, đề nghị xác nhận việc có hay không sử dụng các số điện thoại đang đứng tên ở tất cả các mạng. Trường hợp người dùng xác nhận không sử dụng, số điện thoại sẽ bị khóa 1 chiều và yêu cầu cập nhật thông tin chính xác trong 60 ngày, nếu muốn tiếp tục sử dụng.
Việc xác thực thông tin thuê bao giúp ngăn chặn tình trạng SIM không chính chủ, tin nhắn rác, cuộc gọi rác và nhiều hành vi lừa đảo thời gian qua
Để tránh tình trạng hệ thống quá tải, nghẽn mạng sát thời hạn chót, Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ Công an khuyến cáo người dùng chủ động thực hiện sớm việc chuẩn hóa thông tin thuê bao bằng 1 trong các cách như: Trực tuyến thông qua VNeID; qua ứng dụng của nhà mạng; trực tiếp tại địa điểm dịch vụ của nhà mạng; và tại địa điểm được nhà mạng ủy quyền.
Hướng dẫn cách tự xác thực SIM chính chủ trên VNeID từ ngày 15/4:
Bước 1: Đăng nhập vào ứng dụng VNeID, tại màn hình Trang chủ hiển thị thông báo, công dân nhấn Truy cập chức năng.
Bước 2: Xác thực bằng passcode hoặc vân tay/ khuôn mặt (tùy theo cấu hình xác thực của tài khoản trên thiết bị).
Bước 3: Nhấn Số điện thoại.
Bước 4: Chọn yêu cầu tích hợp. Nhấn vào yêu cầu để xem chi tiết thông tin.
Bước 5: Xác nhận tích hợp thông tin , Xác nhận không tích hợp thông tin.
Bước 6: Xác nhận tích hợp thành công. Nhấn Quay lại để điều hướng về màn Xác nhận tích hợp thông tin.