Hồi tháng 1, tại một bệnh viện ở Hà Nội, bác sĩ phát hiện ông bị loét dạ dày, sinh thiết xác định lành tính. Không yên tâm, ông đến Bệnh viện Bạch Mai kiểm tra lại sau đó một tháng. Ổ loét không lớn hơn, nhưng sinh thiết lần này cho kết quả ngược lại: ung thư dạ dày giai đoạn một. Hội chẩn tại Bệnh viện K sau đó xác nhận chẩn đoán.
Bác sĩ Hà Hải Nam, Phó Trưởng khoa Ngoại bụng 1, Bệnh viện K, giải thích tế bào ung thư có thể đã tồn tại từ lần sinh thiết đầu, nhưng khả năng kim sinh thiết không bấm trúng vị trí chứa tế bào ác tính, dẫn đến âm tính giả.
Vài ngày trước, bác sĩ Nam cũng tiếp nhận bệnh nhân nam 60 tuổi phát hiện ung thư đại tràng giai đoạn muộn, chỉ ba tháng sau khi tầm soát cho kết quả bình thường. Lần khám trước, ông làm siêu âm và xét nghiệm chỉ điểm ung thư tại bệnh viện tư, không có nội soi đại tràng – phương pháp duy nhất có thể phát hiện tổn thương trực tiếp.
“Trường hợp này có thể do tầm soát chưa đầy đủ hoặc thiếu tư vấn từ bác sĩ chuyên khoa ung bướu, khiến người bệnh bỏ lỡ thời gian điều trị”, bác sĩ Nam nói.
Một phụ nữ 50 tuổi cũng đi chụp nhũ ảnh (siêu âm tuyến vú) định kỳ vào tháng 1/2025, kết quả không có khối u. Lịch hẹn tiếp theo của bà là vào tháng 1 năm sau. Tuy nhiên, đến tháng 9/ 2025 (tức là 8 tháng sau lần khám trước), bà tự sờ thấy một khối cứng ở ngực. Khi đi khám lại, bác sĩ chẩn đoán ung thư vú.
Trong y khoa, hiện tượng bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư ngay giữa hai kỳ kiểm tra định kỳ, dù kết quả lần khám trước đó hoàn toàn bình thường, được gọi là ung thư ngắt quãng (interval cancer).
Y văn thế giới phân loại nguyên nhân dẫn đến ung thư ngắt quãng thành hai nhóm chính, gồm đặc tính sinh học của khối u và giới hạn của quy trình y khoa. Về mặt sinh học, một số tế bào ung thư có tốc độ nhân đôi nhanh. Tại thời điểm tầm soát, tổn thương mới ở mức vi thể, không thể phát hiện bằng thiết bị chẩn đoán hiện hành, nhưng phát triển thành khối u chỉ vài tháng sau.
Về mặt quy trình, sai sót có thể phát sinh từ giới hạn thiết bị, điển hình như nhũ ảnh bỏ sót tổn thương ở mô vú đặc. Các yếu tố kỹ thuật cũng góp phần tạo ra sai số, như bệnh nhân làm sạch ruột chưa kỹ che khuất polyp trong nội soi đại tràng, hoặc kim sinh thiết không bấm trúng vị trí chứa tế bào ác tính dẫn đến kết quả âm tính giả.
Tỷ lệ ung thư lọt lưới này được ghi nhận qua nhiều nghiên cứu quy mô lớn. Dữ liệu từ Tổ chức Nội soi Tiêu hóa Thế giới (WEO) và tạp chí Gastroenterology cho thấy tỷ lệ ung thư đại trực tràng xuất hiện sau nội soi dao động từ 3-9% tổng số ca mắc mới.
Đối với ung thư vú, nghiên cứu công bố trên The New England Journal of Medicine (NEJM) chỉ ra phụ nữ có mô vú đặc mang rủi ro mắc ung thư ngắt quãng cao hơn đáng kể. Các khối u phát hiện trong khoảng thời gian trống này thường có kích thước lớn và độ ác tính sinh học cao hơn so với u được phát hiện qua tầm soát thông thường.
Bác sĩ Ngô Văn Tỵ, Khoa Ung Bướu, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cho rằng sai lầm phổ biến nhất là người dân coi tầm soát như “bảo hiểm” trọn đời. Không có phương pháp nào đạt độ chính xác tuyệt đối, và thiết bị y tế cũng có giới hạn sai số. Kết quả xét nghiệm âm tính chỉ phản ánh tình trạng cơ thể tại thời điểm kiểm tra, không đảm bảo tình trạng không mắc bệnh cho đến kỳ khám sau.
“Quy tắc trong phòng chống ung thư hiện nay là cá nhân hóa phương pháp, tần suất tầm soát theo nhóm rủi ro và không phớt lờ các triệu chứng lâm sàng”, ông Tỵ nói.
Để tầm soát hiệu quả mà không hoang phí, các chuyên gia khuyến cáo cần dựa vào độ tuổi, tiền sử gia đình và lối sống. “Không phải cứ làm nhiều xét nghiệm là tốt, mà là thực hiện đúng phương pháp vào đúng thời điểm. Đừng để tấm giấy kết quả ‘lành tính’ trở thành bức màn che mắt bạn trước những nguy cơ thực sự của cơ thể”, bác sĩ Nam nhận định.
Nếu gia đình có tiền sử mắc bệnh hoặc bản thân có các yếu tố nguy cơ (hút thuốc, viêm gan B, béo phì), khoảng cách giữa các lần tầm soát cần ngắn hơn và sử dụng các phương pháp chuyên sâu hơn (như MRI thay vì chỉ siêu âm).
Người bệnh nên chủ động lắng nghe cơ thể khi có bất thường, đi khám lập tức, đừng đợi đến kỳ khám tiếp theo. Như trường hợp cụ ông 70 tuổi may mắn phát hiện ở giai đoạn sớm, bác sĩ chỉ định mổ nội soi, cắt bán phần dạ dày, không cần hóa xạ trị, tiên lượng sống tích cực.
Thịt chim câu chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng. Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ, 100g thịt chim câu cung cấp khoảng 18-23g protein chất lượng cao, 4-5mg sắt chủ yếu ở dạng heme iron dễ hấp thu, cùng 2-3mg kẽm, vitamin nhóm B như B6, B12, niacin và các khoáng chất như phốt pho, selen. Những vi chất này đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu, hỗ trợ hệ miễn dịch và hoạt động của hệ thần kinh
Tuy nhiên, bạn không nên hầm thịt chim câu mỗi ngày. Các món hầm trong thời gian dài có thể làm tăng lượng purin hòa tan trong nước dùng. Purin là hợp chất có trong mô cơ và mô liên kết của động vật. Khi nấu hoặc hầm lâu, các nucleic acid trong thịt bị phân giải, khiến purin hòa tan nhiều hơn vào nước dùng, đặc biệt khi nước hầm được nấu cô đặc.
Do đó, người mắc bệnh gout, người tăng acid uric máu hoặc có nguy cơ rối loạn chuyển hóa cần lưu ý. Việc uống nhiều nước hầm đậm đặc có thể làm tăng lượng purin nạp vào cơ thể và nguy cơ khởi phát cơn gout cấp.
Người bệnh thận mạn cần kiểm soát lượng protein theo hướng dẫn của bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng. Người rối loạn mỡ máu cũng nên chú ý nếu món ăn được chế biến với nhiều mỡ hoặc kết hợp với các thực phẩm giàu chất béo khác.
Guangdong Yangcheng Evening News ngày 12/4 đưa tin sự việc xảy ra khi người mẹ tên Lâm kèm con làm bài tập vào buổi tối. Thấy con tiếp thu chậm, cô mất kiên nhẫn và nổi cơn thịnh nộ. Ngay lúc đó, người phụ nữ ôm đầu đau nhức dữ dội, mắt tối sầm, thị lực suy giảm. Người nhà lập tức đưa Lâm đến bệnh viện địa phương cấp cứu.
Kết quả chụp CT và CTA (cắt lớp vi tính mạch máu não) ban đầu phát hiện một khối choán chỗ lớn vùng thái dương - đỉnh - chẩm phải, kèm dấu hiệu đột quỵ và xuất huyết ngay trong khối u. Bác sĩ dùng thuốc chống phù não nhưng tình trạng người bệnh vẫn nguy kịch. Bệnh viện tuyến dưới nhanh chóng chuyển cô đến Bệnh viện Não 39 Quảng Đông ngay trong đêm.
Bác sĩ Đặng Thiếu Dũng tiếp nhận Lâm trong tình trạng nôn mửa liên tục và lơ mơ. Kết quả MRI xác nhận khối u gây não úng thủy. Êkíp khoa Ngoại thần kinh VII lập tức hội chẩn và quyết định phẫu thuật cắt bỏ khối u. Trưởng khoa Ngô Thái Hoa trực tiếp bóc tách hoàn toàn khối u dọc theo vùng biên tổn thương, đồng thời bảo tồn nguyên vẹn cấu trúc não thất bên. Suốt ca mổ, các bác sĩ dùng hệ thống điện sinh lý thần kinh giám sát liên tục nhằm đảm bảo độ chính xác cao nhất.
Phân tích giải phẫu bệnh sau mổ kết luận Lâm mắc u tế bào thần kinh đệm lan tỏa độ cao (cấp độ 3-4 theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO), mang tính ác tính rất cao. Mười ngày sau ca phẫu thuật, người bệnh hồi phục, đi lại bình thường và xuất viện, không mang di chứng. Cô thừa nhận bản thân bỏ qua các triệu chứng đau đầu, chóng mặt dai dẳng từ trước. Người mẹ tự hứa từ nay chấm dứt việc ép con học đến mức vắt kiệt sức lực.
Trưởng khoa Ngô Thái Hoa cảnh báo các tổn thương choán chỗ trong sọ thường tiến triển âm thầm. Cảm xúc kích động mạnh làm huyết áp tăng và thay đổi đột ngột dòng máu lưu thông trong não. Khối u não chứa mạng lưới mạch máu dày đặc hoặc các mạch máu mới hình thành rất yếu ớt, dễ vỡ, gây xuất huyết hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng phù nề. Bác sĩ khuyên mọi người quản lý tốt cảm xúc, duy trì tâm trạng ổn định nhằm bảo vệ sức khỏe não bộ.
Keratin là một loại protein tồn tại tự nhiên trong tóc, móng và da. Nó tạo thành một lớp bảo vệ quanh thân tóc, giúp tóc duy trì độ đàn hồi và chắc khỏe.
Các sản phẩm bổ sung keratin thường được cho là giúp ngăn rụng tóc, thúc đẩy mọc móng và cải thiện kết cấu da. Tuy nhiên, một số thực phẩm lành mạnh có thể hỗ trợ cơ thể tự tổng hợp keratin tự nhiên.
Trứng
Ăn trứng là cách đơn giản để tăng cường sản xuất keratin tự nhiên. Ngoài ra, trứng còn cung cấp biotin (vitamin B7) dồi dào - dưỡng chất thiết yếu tham gia vào quá trình tổng hợp keratin. Trứng cũng chứa nhiều dưỡng chất có lợi khác như selen, riboflavin (vitamin B2) và các vitamin A, B12.
Keratin là một loại protein tồn tại tự nhiên trong tóc, móng và da. Nó tạo thành một lớp bảo vệ quanh thân tóc, giúp tóc duy trì độ đàn hồi và chắc khỏe.
Các sản phẩm bổ sung keratin thường được cho là giúp ngăn rụng tóc, thúc đẩy mọc móng và cải thiện kết cấu da. Tuy nhiên, một số thực phẩm lành mạnh có thể hỗ trợ cơ thể tự tổng hợp keratin tự nhiên.
Trứng
Ăn trứng là cách đơn giản để tăng cường sản xuất keratin tự nhiên. Ngoài ra, trứng còn cung cấp biotin (vitamin B7) dồi dào - dưỡng chất thiết yếu tham gia vào quá trình tổng hợp keratin. Trứng cũng chứa nhiều dưỡng chất có lợi khác như selen, riboflavin (vitamin B2) và các vitamin A, B12.
Khoai lang
Khoai lang rất giàu dinh dưỡng, có lợi cho việc thúc đẩy sản xuất keratin. Chúng đặc biệt chứa nhiều beta-carotene - chất sẽ được chuyển hóa thành vitamin A trong cơ thể. Vitamin A giúp tăng tổng hợp keratin, rất cần thiết cho sức khỏe da, tóc.
Khoai lang
Khoai lang rất giàu dinh dưỡng, có lợi cho việc thúc đẩy sản xuất keratin. Chúng đặc biệt chứa nhiều beta-carotene - chất sẽ được chuyển hóa thành vitamin A trong cơ thể. Vitamin A giúp tăng tổng hợp keratin, rất cần thiết cho sức khỏe da, tóc.
Cá hồi
Cá hồi rất giàu protein đồng thời cung cấp biotin dồi dào - một dưỡng chất quan trọng hỗ trợ sản xuất keratin. Các axit béo omega-3 trong cá hồi còn giúp cải thiện sự phát triển của tóc, tăng độ dày, giảm gãy rụng.
Cá hồi
Cá hồi rất giàu protein đồng thời cung cấp biotin dồi dào - một dưỡng chất quan trọng hỗ trợ sản xuất keratin. Các axit béo omega-3 trong cá hồi còn giúp cải thiện sự phát triển của tóc, tăng độ dày, giảm gãy rụng.
Xoài
Xoài không chỉ thơm ngon mà còn bổ sung thêm dưỡng chất, hỗ trợ quá trình tổng hợp keratin. Loại quả này giàu provitamin A, giúp thúc đẩy sản xuất keratin. Xoài cũng chứa nhiều dưỡng chất quan trọng khác như vitamin C, folate.
Xoài
Xoài không chỉ thơm ngon mà còn bổ sung thêm dưỡng chất, hỗ trợ quá trình tổng hợp keratin. Loại quả này giàu provitamin A, giúp thúc đẩy sản xuất keratin. Xoài cũng chứa nhiều dưỡng chất quan trọng khác như vitamin C, folate.
Hạt hướng dương
Hạt hướng dương có vị béo, dễ ăn và giàu dinh dưỡng. Đây là nguồn cung cấp biotin, protein tốt, hỗ trợ sản xuất keratin. Ngoài ra, hạt này còn chứa nhiều vi chất khác như vitamin E, đồng, selen, axit pantothenic.
Hạt hướng dương
Hạt hướng dương có vị béo, dễ ăn và giàu dinh dưỡng. Đây là nguồn cung cấp biotin, protein tốt, hỗ trợ sản xuất keratin. Ngoài ra, hạt này còn chứa nhiều vi chất khác như vitamin E, đồng, selen, axit pantothenic.
Cà rốt
Cà rốt dồi dào vitamin C, thúc đẩy tổng hợp collagen để hỗ trợ sức khỏe tóc, da và móng. Vitamin này cũng giúp làm lành vết thương, giảm viêm, bảo vệ da khỏi tổn thương. Ngoài ra, cà rốt còn cung cấp nhiều biotin, vitamin B6, K1 và kali.
Cà rốt
Cà rốt dồi dào vitamin C, thúc đẩy tổng hợp collagen để hỗ trợ sức khỏe tóc, da và móng. Vitamin này cũng giúp làm lành vết thương, giảm viêm, bảo vệ da khỏi tổn thương. Ngoài ra, cà rốt còn cung cấp nhiều biotin, vitamin B6, K1 và kali.