Ngày 9-4, Giám đốc điều hành Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) Kristalina Georgieva cho biết tổ chức này dự kiến sẽ phải tăng viện trợ tài chính khẩn cấp cho các quốc gia bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến ở Trung Đông, và cuộc khủng hoảng này có thể gây ra những tác động kinh tế lâu dài.
“Do những ảnh hưởng lan tỏa của cuộc chiến ở Trung Đông, chúng tôi dự kiến nhu cầu hỗ trợ cán cân thanh toán của IMF trong ngắn hạn sẽ tăng lên mức từ 20 tỉ USD đến 50 tỉ USD”, Hãng tin AFP dẫn lời bà Georgieva.
Người đứng đầu IMF nhấn mạnh cuộc chiến ở Trung Đông đã gây nhiều thiệt hại về cơ sở hạ tầng, gián đoạn nguồn cung, mất niềm tin và những tác động tiêu cực khác.
Hiệu ứng dây chuyền của chiến tranh sẽ kéo dài trong một thời gian, gồm tình trạng thiếu hụt dầu diesel và nhiên liệu máy bay. Tình trạng mất an ninh lương thực sẽ tác động lên ít nhất 45 triệu người và vấn đề này có thể trở nên trầm trọng hơn theo thời gian do giá phân bón cao.
“Nếu không có cú sốc này, chúng ta đã có thể nâng cấp dự báo tăng trưởng toàn cầu. Nhưng giờ đây, ngay cả kịch bản lạc quan nhất của chúng ta cũng bao gồm việc hạ dự báo tăng trưởng”, bà Georgieva nói.
IMF dự kiến sẽ công bố báo cáo Triển vọng Kinh tế thế giới cập nhật vào tuần tới. Trong báo cáo trước đó được công bố vào tháng 1-2026, tổ chức này dự báo tăng trưởng toàn cầu đạt 3,3% trong năm nay và 3,2% vào năm 2027.
Nói về tác động kinh tế của chiến tranh, bà Georgieva cho biết, ngay cả trong trường hợp tốt nhất, “sẽ không có chuyện trở lại hoàn toàn và suôn sẻ” như hiện trạng trước đây.
“Chúng ta thực sự không biết tương lai sẽ ra sao đối với việc vận chuyển hàng hóa qua eo biển Hormuz… Điều chúng ta biết là tăng trưởng (kinh tế) sẽ chậm hơn, ngay cả khi nền hòa bình mới bền vững”, bà đề cập đến thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran.
Theo báo The Nation ngày 16-5, phát hiện này được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu do tiến sĩ Sita Manitkoon thuộc Đại học Mahasarakham dẫn đầu, phối hợp cùng Đại học College London (UCL) và Cục Tài nguyên khoáng sản Thái Lan.
Nghiên cứu nằm trong khuôn khổ Dự án Thaitan, được tài trợ bởi Hiệp hội Địa lý quốc gia Mỹ (National Geographic Society).
Loài khủng long mới có tên Nagatitan chaiyaphumensis. Trong đó "Nagatitan" được ghép từ "Naga" - một loài rắn thần trong tín ngưỡng Thái Lan và "Titan" - những vị thần khổng lồ trong thần thoại Hy Lạp, nhằm phản ánh vóc dáng đồ sộ của loài này.
Về từ "chaiyaphumensis", theo Cục Tài nguyên khoáng sản Thái Lan, nhóm nghiên cứu đã phát hiện và nghiên cứu hóa thạch tại làng Ban Phanang Suea, huyện Nong Bua Rawe, thuộc tỉnh Chaiyaphum.
Đây là loài khủng long thứ 14 được chính thức đặt tên tại Thái Lan, và hiện là loài khủng long lớn nhất từng được phát hiện ở Đông Nam Á.
Nagatitan thuộc nhóm khủng long ăn cỏ cổ dài, sống vào đầu kỷ Phấn trắng. Chúng có thể đã lang thang khắp Đông Nam Á khoảng 100-115 triệu năm trước.
Nhóm nghiên cứu đã phân tích hơn 20 mảnh hóa thạch, trong đó có một xương chi trước bên phải gần như hoàn chỉnh dài 178cm, cùng xương sườn và xương đùi dài hơn 2m. Từ đó họ ước tính Nagatitan có chiều dài khoảng 27-30m và nặng hơn 26 tấn.
Tiến sĩ Sita Manitkoon cho biết cá voi có thể đạt kích thước khổng lồ nhờ môi trường biển, nơi nước giúp nâng đỡ trọng lượng cơ thể, trong khi các loài khủng long chân thằn lằn (sauropod) lại sống hoàn toàn trên cạn.
Để thích nghi với kích thước đồ sộ, chúng phát triển các khoang rỗng trong xương nhằm giảm trọng lượng, cùng nhiều đặc điểm giải phẫu đặc biệt khác, qua đó trở thành những động vật sống trên cạn lớn nhất từng tồn tại trên Trái đất.
Ông Thitiwoot Sethapanichsakul, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại UCL và là tác giả chính của nghiên cứu công bố trên tạp chí Scientific Reports, cho biết nhóm nghiên cứu gọi Nagatitan là "titan cuối cùng" của Thái Lan vì hóa thạch của nó được tìm thấy trong tầng đá chứa khủng long trẻ nhất tại nước này.
Theo các nhà khoa học, phát hiện này không chỉ bổ sung thêm một loài khủng long mới cho thế giới, mà còn góp phần hé lộ môi trường, địa lý cổ đại và hệ sinh thái thời tiền sử. Những hóa thạch như vậy được xem là “hồ sơ” lưu giữ lịch sử Trái đất trước khi con người xuất hiện.
Một nhà khoa học cấp cao Trung Quốc đã phác thảo các ứng dụng quân sự tiềm năng của công nghệ năng lượng mặt trời từ không gian, qua đó cho thấy cách hệ thống truyền năng lượng từ quỹ đạo có thể phục vụ giám sát và tác chiến điện tử, theo South China Morning Post ngày 5.4.
Trong bài viết đăng trên tạp chí Scientia Sinica Informationis, ông Duan Baoyan, kiến trúc sư chủ chốt của dự án năng lượng mặt trời vũ trụ "Zhuri", cho biết thiết kế hệ thống quỹ đạo đã được cải tiến đáng kể. Theo đó, ngoài chức năng truyền tải điện, hệ thống còn có thể đảm nhiệm các nhiệm vụ khác nhau như liên lạc, định vị, trinh sát, gây nhiễu và điều khiển từ xa.
Ông Duan nhấn mạnh vai trò của các chùm vi sóng siêu hẹp, có thể điều khiển chính xác để truyền năng lượng từ không gian xuống trái đất.
Về nguyên tắc, công nghệ này cũng cho phép truyền tín hiệu có mục tiêu, mở ra khả năng gây nhiễu hoặc bảo mật thông tin liên lạc quân sự.
Trung Quốc hiện là một trong những quốc gia đi đầu trong lĩnh vực năng lượng mặt trời không gian. Khác với các hệ thống trên mặt đất, vốn phụ thuộc vào thời tiết và chu kỳ ngày đêm, các tấm pin đặt trên quỹ đạo có thể thu năng lượng gần như liên tục. Điện năng sau đó được chuyển thành vi sóng truyền xuống mặt đất và được chuyển đổi trở lại thông qua các ăng-ten thu trên trái đất.
Từ hơn một thập niên trước, nhóm của ông Duan đã đề xuất thiết kế OMEGA như một phương pháp chính của Trung Quốc để xây dựng hệ thống như vậy. Năm 2022, Trung Quốc đã hoàn tất cơ sở thử nghiệm cao 75 m để kiểm chứng toàn bộ quy trình, từ thu năng lượng, truyền không dây đến tiếp nhận trên mặt đất.
Trong nghiên cứu mới, ông Duan đề xuất chuyển từ mô hình một cấu trúc khổng lồ sang hệ thống mô-đun gồm nhiều đơn vị nhỏ hoạt động phối hợp. Cách tiếp cận này giúp tăng độ linh hoạt, duy trì vận hành khi một số bộ phận gặp sự cố, đồng thời giảm độ phức tạp kỹ thuật và rủi ro khi xử lý công suất lớn trong không gian, theo South China Morning Post.
Không chỉ Trung Quốc, các nước khác cũng theo đuổi công nghệ này. Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) từng đề xuất mô hình SPS-ALPHA dựa trên mạng lưới mô-đun tương tự.
Năm 2023, các nhà khoa học tại Viện Công nghệ California (Mỹ) cũng đã thử nghiệm thành công việc truyền điện bằng vi sóng trên quỹ đạo.
Được đề xuất từ thập niên 1960, năng lượng mặt trời không gian từ lâu được kỳ vọng trở thành nguồn năng lượng sạch quy mô lớn, song vẫn đối mặt nhiều thách thức về công nghệ và chi phí.
Pakistan có lợi thế nổi trội và lợi ích thiết thực riêng khi xung phong đảm trách vai trò ngoại giao trung gian giữa Mỹ và Iran. Cuộc chiến tại Trung Đông tác động rất tiêu cực và nguy hại trực tiếp tới Pakistan, đặc biệt về kinh tế, thương mại và an ninh. Pakistan có hơn 900 km biên giới chung trên bộ với Iran và cùng trực diện nguy cơ khủng bố ở vùng Balochistan của Pakistan. Pakistan không thể không quan ngại sâu sắc về khả năng mất an ninh và ổn định bởi chiến sự ở Iran lan sang Pakistan. Pakistan còn nhập khẩu gần như 100% dầu lửa và khí đốt từ các quốc gia vùng Vịnh mà chiến sự đang làm chuỗi cung ứng này gián đoạn rõ rệt. Xung đột càng sớm kết thúc thì mức độ tổn hại đối với Pakistan, cho dù chỉ bị vạ lây, càng giảm thiểu.
Lợi thế của Pakistan trong chuyện trung gian ngoại giao giữa Mỹ và Iran là dễ được Mỹ và Iran chấp nhận hơn những đối tác khác. Tổng thống Mỹ Donald Trump có mối quan hệ cá nhân thân thiết từ nhiều năm nay với Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif và Tư lệnh quân đội Pakistan Asim Munir. Ông Trump tin rằng do lệ thuộc ở mức độ lớn vào Mỹ về kinh tế và quân sự nên Pakistan không thể làm gì gây tổn hại tới lợi ích của Mỹ. Iran chấp nhận Pakistan vì 2 bên là láng giềng có sự gắn kết truyền thống, Pakistan trung lập trong cuộc chiến giữa Mỹ và Israel với Iran, không có căn cứ quân sự của Mỹ, lại hợp tác chặt chẽ với Ả Rập Xê Út, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ cũng như với Trung Quốc. Như vậy, Pakistan đã tận dụng lợi thế để chớp thời cơ phất cờ.