Theo kế hoạch tuyển sinh đầu cấp của Hà Nội, giai đoạn 2016-2018, mỗi năm thủ đô có hơn 80.000 học sinh hoàn thành chương trình THCS; từ 2019 đến nay, không năm nào dưới 100.000.
Năm 2026 được coi là mốc kỷ lục với 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, trong đó khoảng 130.000 em đăng ký thi lớp 10. Tuy nhiên, con số này sẽ sớm bị vượt qua, khi năm 2027 dự kiến có gần 190.000 em tốt nghiệp THCS, tính theo số học sinh vào lớp 6 năm 2023 (sinh năm Nhâm Thìn – 2012).
Với cách tính tương tự, giai đoạn 2028-2030, số học sinh lớp 9 được dự báo quanh mức 160.000, cao hơn khoảng 20.000 so với năm nay.
Còn so với thập kỷ trước, số học sinh lớp 9 của Hà Nội tăng 80.000-110.000; riêng giai đoạn 2021-2026 tăng 37.000.
Trong khi đó, từ năm 2021 đến nay, Hà Nội có thêm tổng cộng 11-13 trường THPT công lập (chưa gồm trường Việt Hùng, Minh Châu do chưa được giao chỉ tiêu). Nếu mỗi trường tuyển 15 lớp 10 (sĩ số 45) thì số suất học tăng thêm khoảng 7.400- 8.700, chỉ bằng 20-23% so với số học sinh tăng thêm. Chưa kể, không phải trường nào cũng tuyển được mức này.
“Học sinh tăng nhanh mà tốc độ xây trường thì chậm”, TS. KTS Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội, nhận định.
Chênh lệch cung – cầu khiến kỳ thi lớp 10 ở Hà Nội luôn được đánh giá căng thẳng nhất cả nước. Năm nay, tỷ lệ vào công lập chỉ 55-57%, thấp nhất trong 10 năm. Với mức gần 190.000 em năm tới, nhiều nhà giáo dự đoán tỷ lệ này còn giảm.
“Cuộc đua vào lớp 10 ở Hà Nội vẫn sẽ tiếp tục kéo dài, thậm chí tăng cao trong năm 2027”, thầy Quang, hiệu trưởng một trường THCS ở ngoại thành Hà Nội, nhận định.
Theo ông Đào Ngọc Nghiêm, một trong những lý do khiến thủ đô thiếu trường THPT công lập là công tác dự báo chưa sát với mức tăng dân số thực tế. Trước đây, giới chức dự kiến Hà Nội có 9 triệu dân vào năm 2030, nhưng nay đã gần đạt ngưỡng này. Trong khi đó, quỹ đất dành cho trường học ít.
Dù vậy, ông thấy thành phố cũng đang thực hiện nhiều kế hoạch dài hạn để giải quyết việc thiếu trường.
Đầu tiên là xây trường mới. Đồ án Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm cho biết sẽ ưu tiên dành 5% quỹ đất phục vụ công cộng của các phường và đất chưa khai thác để xây trường học, tận dụng đất cải tạo chung cư cũ hoặc sau khi di dời trụ sở các cơ quan…
Ngoài ra, thành phố thử nghiệm áp dụng cơ chế đặc thù trong xây dựng trường. Trước đây, trường học không được xây quá 4 tầng, song một số ở khu vực đông dân như quận Hai Bà Trưng cũ đã xây cao hơn, như THCS Vân Hồ, THCS Lê Ngọc Hân. Gần đây, THPT Đỗ Mười được xây mới với 5 tầng nổi, sử dụng thang máy.
Một cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cho biết năm 2027, thành phố dự kiến có thêm bốn trường THPT công lập, nằm tại Đông Anh, Phú Diễn, Vĩnh Hưng và Tây Mỗ. Trong 5 năm tới, số trường tăng “ít nhất” 8-10, gồm 6 trường liên cấp tiên tiến dự kiến hoạt động từ năm 2029.
Trước mắt, thầy Quang khuyên phụ huynh không nên đợi tới khi con học lớp 9 mới tính chuyện thi lớp 10, mà cần lựa chọn lộ trình sớm, phù hợp. Ông cũng cho rằng phụ huynh nên cởi mở hơn với trường tư thục, học nghề, miễn sao phù hợp với năng lực của con và định hướng, tài chính của gia đình.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trao quyết định bổ nhiệm ông Bùi Hữu Toàn, Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch Hội đồng Học viện, ngày 14/4.
Vị trí này đã khuyết từ năm 2020, sau khi TS Bùi Tiến Nghị nghỉ công tác quản lý. Ban lãnh đạo hiện có hai Phó giám đốc là PGS. TS Phạm Thị Hoàng Anh và Nguyễn Thanh Phương.
Việc khuyết vị trí giám đốc kéo dài như Học viện Ngân hàng là hiếm. Giai đoạn 2020-2024, một số trường như Đại học Y Dược TP HCM, Nông lâm TP HCM, Công nghệ Kỹ thuật TP HCM (trường Sư phạm Kỹ thuật TP HCM cũ) bỏ trống vị trí này do chưa kịp thích ứng mô hình quản trị mới theo Luật Giáo dục đại học, hoặc chưa có sự chuẩn bị, bồi dưỡng. Tuy nhiên, thời gian chỉ 3-4 năm.
PGS. TS Bùi Hữu Toàn, 51 tuổi, quê Hải Phòng (Hải Dương cũ), là tiến sĩ ngành Luật. Ông có hơn 13 năm công tác tại Học viện Ngân hàng, từ năm 1999. Sau đó, ông giữ chức Trưởng phòng Tổng hợp (Vụ Tổ chức cán bộ, Ngân hàng Nhà nước) rồi đảm nhiệm chức Phó chánh Văn phòng Ngân hàng Nhà nước.
Năm 2018, ông được điều động về làm quyền Hiệu trưởng Đại học Ngân hàng TP HCM rồi được bổ nhiệm chính thức hơn một năm sau đó. Năm 2021, ông trở lại Học viện Ngân hàng, giữ chức Chủ tịch Hội đồng học viện.
Học viện Ngân hàng và Đại học Ngân hàng TP HCM là hai trường đào tạo nhân lực cho ngành ngân hàng quy mô lớn nhất cả nước. Chỉ tiêu tuyển sinh đại học chính quy hàng năm khoảng 4.500-5.000 sinh viên.
Tại buổi trao quyết định cho ông Toàn hôm nay, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Phạm Đức Ấn nhấn mạnh vị trí quan trọng của học viện trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành.
Ông Toàn cho biết thời gian tới sẽ nỗ lực nâng tầm toàn diện vị thế của trường, chú trọng chuyển đổi số toàn diện, phát triển đội ngũ giảng viên và chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, đảm bảo tính thực tiễn và khả năng thích ứng của người học, phát triển nghiên cứu khoa học, kết nối với doanh nghiệp...
Đây là thông tin GS-TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam nêu ra trong một hội thảo quốc tế tại Hà Hội, sáng 8.4.
"Theo khảo sát, họ làm việc khoảng 10 tiếng/ngày, đến trường từ khi mới mở cửa và ra về khi đã đóng cửa trường. Nhiều thầy cô phản ánh họ chỉ chăm sóc con người khác, không có thời gian chăm sóc con mình và gia đình", GS Lê Anh Vinh nói.
Từ đó ông Vinh cho rằng, cần phải thiết kế chế độ làm việc linh hoạt, phù hợp với nhóm giáo viên mầm non trên cả nước. Cần có kinh phí để chi trả cho giáo viên, bảo mẫu trong việc đón sớm, trả muộn…
Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam cũng nhấn mạnh cần thay đổi trong cách bảo đảm quyền của trẻ em. Phải tiếp cận theo hướng quyền của trẻ em là những thứ chúng ta không thể lấy đi của trẻ chứ không phải những gì chúng ta có thể mang lại cho trẻ.
Đại diện một số cơ sở mầm non tư thục cũng nêu thực trạng tuyển dụng giáo viên khó khăn và không ổn định. Nhiều giáo viên trẻ nghỉ sau sinh cũng nghỉ việc luôn với lý do con họ không có người chăm sóc.
Chỉ 23% cơ sở mầm non tiếp nhận trẻ dưới 2 tuổi
Bà Helle Buchhave, Trưởng nhóm toàn cầu về giới, Ngân hàng Thế giới cũng nêu những thông tin đáng chú ý, như: chỉ 23% cơ sở mầm non công lập nhận trẻ dưới 2 tuổi, so với 66% ở khu vực tư thục; 11% trường mầm non công lập có số trẻ vượt quá khả năng tiếp nhận chính thức. Có địa phương như tỉnh An Giang, các xã có khu công nghiệp không có cơ sở nào dành cho trẻ dưới 3 tuổi.
59% người sử dụng nhóm chăm sóc trẻ theo gia đình (FCG) đánh giá mức độ kích thích, phát triển chưa đạt kỳ vọng; 66% không hài lòng với cơ sở vật chất của FCG. Đã ghi nhận các trường hợp bạo hành tại các cơ sở nhóm chăm sóc trẻ độc lập (ICG) và FCG ở khu công nghiệp.
75% bà mẹ có con dưới 2 tuổi hiện chưa sử dụng dịch vụ chăm sóc trẻ em, nhưng sẽ sử dụng dịch vụ có đăng ký với chi phí hợp lý nếu có sẵn. Điều này cho thấy nhu cầu là có, nhưng nguồn cung chưa đáp ứng.
Theo báo cáo, chỉ 8% cơ sở mầm non công lập hoạt động sau 18 giờ, so với hơn 33% ở khu vực tư/ICG và 40% ở FCG. Chỉ 7% cung cấp dịch vụ vào thứ bảy. Trong khi, công nhân làm việc theo ca tại các khu công nghiệp đòi hỏi dịch vụ phải linh hoạt vào buổi tối và cuối tuần.
Chỉ 1,6% trẻ em di cư diện KT4 được tiếp cận dịch vụ công lập, so với 34% ở nhóm thường trú. Trẻ em di cư có khả năng tiếp cận dịch vụ công lập thấp hơn 27 - 30 lần. Đây là mức chênh lệch lớn nhất về công bằng tiếp cận...
Bà Helle Buchhave cũng đề xuất nhiều giải pháp, trong đó chính sách đãi ngộ giáo viên, xây thêm trường công lập, chính sách khuyến khích khu vực trường ngoài công lập tồn tại và phát triển,...
Cách thông dụng để nói về ngày 30/4 là "Reunification Day", nghĩa là ngày Thống nhất. Cụm danh từ này thường đi với động từ "mark" (đánh dấu) hoặc "celebrate" (kỷ niệm).
Ví dụ: April 30 is celebrated as the Reunification Day in Vietnam (Mọi người ăn mừng ngày Thống nhất ở Việt Nam vào 30/4).
The event marked the reunification of the country (Sự kiện đánh dấu việc đất nước được thống nhất).
Một cụm từ khác là "resistance war" (kháng chiến), trong đó "resistance" có nghĩa là "kháng cự". Để nói về chiến thắng, ta dùng "victory".
Ví dụ: The victory brought an end to the long resistance war (Chiến thắng đã chấm dứt cuộc kháng chiến kéo dài).
Khi muốn nói về những sự kiện bước ngoặt, mang tầm quan trọng trong lịch sử, người Anh dùng cụm "historic event". Cần chú ý phân biệt từ "historic" với "historical" (có nghĩa là có liên quan tới lịch sử).
Ví dụ: This was a historic event in the nation’s history (Đây là một sự kiện mang tính bước ngoặt trong lịch sử đất nước).
Khi nghĩ tới ngày 30/4, người ta thường nghĩ tới độc lập, tinh thần đoàn kết dân tộc. Các từ để diễn đạt hai khái niệm này lần lượt là "independence" và "national unity".
Ví dụ: April 30 represents independence and national unity in Vietnam’s history (Ngày 30/4 tượng trưng cho độc lập và đoàn kết dân tộc trong lịch sử Việt Nam).
Cuối cùng, sau chiến thắng, có thể dùng các từ như "peace" (hòa bình) và "prosperity" (thịnh vượng) để nói về giai đoạn kế tiếp.
Ví dụ: The country entered a period of peace and prosperity (Đất nước bước vào giai đoạn hòa bình và thịnh vượng).