Hôm 2/5, hãng hàng không giá rẻ Spirit Airlines của Mỹ, thông báo “ngừng hoạt động một cách có trật tự” do hết tiền vận hành, hủy bỏ tất cả chuyến bay, khiến hành khách và nhân viên mắc kẹt trên khắp đất nước, vùng Caribe và Mỹ Latinh.
Giám đốc điều hành Dave Davis thừa nhận đây là điều vô cùng đáng thất vọng và không ai mong muốn. “Việc duy trì hoạt động kinh doanh đòi hỏi bổ sung hàng trăm triệu USD tiền mặt mà Spirit đơn giản là không có và không thể có”, ông nói.
Theo dữ liệu từ công ty phân tích hàng không Cirium, Spirit có 4.119 chuyến bay nội địa theo lịch trình từ ngày 1 đến ngày 15/5, cung cấp 809.638 chỗ ngồi. Đến 3/5, hãng cho biết gần như đã hoàn tất việc hoàn tiền cho hành khách và đưa phi hành đoàn trở về trụ sở.
Reuters cho rằng Spirit Airlines chính là “nạn nhân đầu tiên của ngành hàng không” liên quan đến cuộc xung đột Trung Đông khiến giá nhiên liệu bay tăng gấp đôi. Le Monde bình luận khủng hoảng năng lượng đã “giáng đòn cuối” vào một công ty vốn đã suy yếu tài chính do Covid, từng 2 lần nộp đơn xin phá sản để tái cấu trúc theo Chương 11.
Mới đầu hè, Spirit vừa đạt được thỏa thuận với các chủ nợ, giúp thoát khỏi tình trạng phá sản lần 2. Tuy nhiên, giá nhiên liệu máy bay tăng vọt đã dập tắt hy vọng. Trong kế hoạch tái cấu trúc, hãng giả định giá nhiên liệu khoảng 2,24 USD mỗi gallon năm nay và 2,14 USD mỗi gallon vào 2027.
Nhưng chiến sự ở vùng Vịnh khiến giá thực tế tăng lên 4,51 USD mỗi gallon vào cuối tháng 4, buộc hãng phải có nguồn tài chính mới nếu muốn tiếp tục vận hành. Hội đồng quản trị Spirit đã triệu tập cuộc họp hôm 1/5 nhưng không đạt được thỏa thuận giải cứu nào, dẫn đến quyết định dừng hoạt động.
“Thật không may, bất chấp những nỗ lực của công ty, việc giá dầu tăng mạnh gần đây và các áp lực khác đối với hoạt động kinh doanh đã ảnh hưởng đáng kể đến triển vọng tài chính của Spirit”, hãng hàng không nêu trong thông báo.
Spirit thành lập tại Michigan năm 1964, ban đầu là công ty vận tải đường dài. Những năm 1980, họ chuyển sang lĩnh vực hàng không với tên gọi Charter One Airlines, phục vụ các gói du lịch nghỉ dưỡng. Hãng đổi tên thành Spirit năm 1992, chuyên khai thác phân khúc giá rẻ và hoạt động hiệu quả trong một thời gian.
Vào thời kỳ đỉnh cao, Spirit thuộc top 10 hãng hàng không hàng đầu của Mỹ, vận chuyển 40 triệu hành khách mỗi năm. Ngay trước Covid-19, công ty đã mua khoảng 100 máy bay Airbus mới và lên kế hoạch mua thêm gần 300 chiếc vào 2027. Nhưng chỉ trong vài năm, mọi thứ sụp đổ vì đại dịch.
Năm 2023, Spirit suýt được cứu, thông qua đề nghị mua lại của đối thủ JetBlue. Thỏa thuận gần như sắp hoàn tất, nhưng cuối cùng bị cơ quan chống độc quyền dưới thời Tổng thống Joe Biden chặn lại. Trên chương trình “Sunday Morning Futures” của Fox Business Network hôm 3/5, Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent đổ lỗi cho chính quyền Biden về việc Spirit phải đóng cửa.
Không thể tự xoay xở, công ty nộp đơn phá sản lần đầu hồi 2024. Sau tái cơ cấu trước, họ giảm nợ được 795 triệu USD bằng cách chuyển đổi thành cổ phần, đồng thời nhận 350 triệu USD vốn chủ sở hữu từ các nhà đầu tư hiện hữu.
Tuy nhiên, đến cuối tháng 8/2025, Spirit Airlines lại nộp đơn xin bảo hộ phá sản, do không khắc phục được cơ cấu chi phí phình to trong lần phá sản đầu tiên. Trong khi, chi tiêu du lịch tại Mỹ suy giảm vì các chính sách thương mại và cắt giảm ngân sách dưới thời Tổng thống Trump.
Theo dữ liệu của Cirium, Spirit vận chuyển khoảng 1,7 triệu hành khách nội địa Mỹ trong tháng 2, với thị phần 3,9%, giảm so với 5,1% vào năm ngoái. Những tuần gần đây, thông tin Spirit sắp dừng hoạt động được lan truyền.
Tổng thống Donald Trump cho biết chính quyền ông cân nhắc ra tay giải cứu nhưng phải là “một thỏa thuận tốt”. “Nếu chúng tôi có thể giúp họ, chúng tôi sẽ làm, nhưng chúng tôi phải được ưu tiên trước”, ông Trump nói. Đến cuối tuần trước, chính phủ đề xuất gói cứu trợ 500 triệu USD nhưng các chủ nợ của Spirit phản đối, cho rằng việc này có thể làm giảm giá trị các khoản đầu tư của họ. Vì thế, cuộc họp hội đồng quản trị Spirit kết thúc hôm 1/5 trong ngõ cụt.
Theo Le Monde, thay vì tìm cách hồi sinh thương hiệu, các cổ đông rõ ràng đang trông chờ việc bán bớt tài sản, vì công ty được cho là vẫn còn khoảng 100 máy bay. Đây cũng là ý tưởng của Bộ trưởng Giao thông Vận tải Sean Duffy. “Họ đang thua lỗ nặng và việc này đã được lên kế hoạch từ lâu. Họ sẽ phải thanh lý tài sản,” ông Duffy bình luận hôm 3/5 trên chương trình “This Week” của đài ABC.
Để hỗ trợ hành khách bất ngờ bị hủy chuyến, các hãng hàng không khác của Mỹ đồng ý chấp nhận vé của Spirit, với một khoản phí bổ sung. Frontier, JetBlue và Southwest bán vé ưu đãi để giúp hành khách bị mắc kẹt và lên kế hoạch bổ sung các tuyến bay mới vào mùa hè. Delta và American Airlines cũng đang cung cấp giá vé thấp hơn tạm thời cho hành khách của Spirit.
Trước tình hình giá nhiên liệu bay neo cao, Hiệp hội các hãng hàng không giá rẻ Mỹ đề xuất gói trao đổi chứng quyền có thể chuyển thành cổ phần để nhận hỗ trợ 2,5 tỷ USD từ liên bang. Số tiền sẽ được dùng riêng để bù đắp chi phí nhiên liệu tăng thêm, như “biện pháp cần thiết và có mục tiêu để ổn định hoạt động và giữ giá vé máy bay ở mức hợp lý trong giai đoạn biến động”.
Hiệp hội cũng đề nghị Quốc hội tạm dừng thuế tiêu thụ đặc biệt liên bang 7,5% với vé máy bay và thuế 5,3 USD mỗi chặng bay, nhằm bù đắp khoảng một phần ba chi phí leo thang do giá nhiên liệu tăng.
Bình luận đề xuất hôm 1/5, Bộ trưởng Giao thông Vận tải Sean Duffy nói chưa thấy cần thiết ra tay cứu trợ vì các hãng hàng không tốt hơn nền huy động tiền trên thị trường tư nhân. “Tại thời điểm này, tôi không nghĩ điều đó là cần thiết. Họ có đủ tiền mặt. Nếu họ muốn đến với chính phủ, chúng tôi sẽ là người cho vay cuối cùng”, ông nói.
Tại phiên họp thường niên sáng 24/4, nhiều cổ đông của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (PVOIL) nhận định người dân đang chuyển dịch dần từ xe xăng sang xe điện. Họ lo ngại xu hướng này khiến sản lượng tiêu thụ và các chỉ tiêu tài chính của công ty bị ảnh hưởng tiêu cực, nên đề nghị ban lãnh đạo trình bày giải pháp ứng phó.
Ông Cao Hoài Dương, Chủ tịch HĐQT PVOIL, đồng tình chuyển dịch từ xe xăng sang xe điện là xu hướng tất yếu và không thể cưỡng lại. Điều này sẽ khiến tốc độ tăng trưởng sản lượng tiêu thụ xăng dầu chậm lại và có thể đi ngang trong thời gian tới.
Tuy nhiên, ông Dương nhấn mạnh PVOIL không ngại xe điện ảnh hưởng tiêu cực đến xăng dầu, mà xem đây là cơ hội để phát triển nguồn thu mới. Ông cho biết công ty đã ký hợp tác với VinFast từ 2018 và sau đó bốn năm bắt đầu xây dựng trạm sạc tại các cây xăng. Đến nay, khoảng 500 trong số 995 cây xăng tích hợp trạm sạc. Công ty dự tính mỗi năm tới phát triển thêm 100 cây xăng và tất cả đều có trạm sạc xe điện.
"Chúng tôi xem phát triển hệ thống bán lẻ xăng dầu và trạm sạc là đi đều hai chân, để phục vụ cả hai nhóm khách hàng", ông Dương nói, đồng thời nhấn mạnh định hướng của PVOIL là biến mỗi cửa hàng thành một trạm cung cấp năng lượng tích hợp.
Không tiết lộ con số chi tiết như yêu cầu của cổ đông, nhưng Chủ tịch HĐQT PV OIL nói mảng dịch vụ phi xăng dầu "khá hiệu quả về lợi nhuận". Theo ông, mảng này đang đóng góp khoảng 20-30% lợi nhuận cho các đơn vị thành viên.
Liên quan đến chính sách hạn chế xe động cơ đốt trong vào nội đô các thành phố lớn, ban lãnh đạo đánh giá tác động không lớn, do mạng lưới cửa hàng của PVOIL tập trung chủ yếu ở vùng ven thành phố và các tỉnh.
PVOIL là đơn vị thành viên của Petrovietnam, hoạt động chính trong 3 lĩnh vực gồm xuất nhập khẩu dầu thô, sản xuất và phân phối xăng dầu. Họ đang xếp thứ hai về sản lượng tiêu thụ xăng dầu nội địa với khoảng 23% thị phần, sau Petrolimex. Mạng lưới phân phối có khoảng 995 cửa hàng trực thuộc và hàng nghìn đại lý, nhượng quyền thương mại.
Đơn vị này đặt mục tiêu năm nay doanh thu 150.700 tỷ đồng, tương đương năm ngoái; còn lợi nhuận trước thuế dự kiến tăng 25% lên 820 tỷ đồng.
Lý giải về kế hoạch lãi tăng đột biến trong bối cảnh thị trường xăng dầu biến động mạnh, Tổng giám đốc Nguyễn Đăng Trình cho biết thực tế mục tiêu này chênh lệch không nhiều so với cùng kỳ. Số liệu thay đổi đáng kể bởi năm ngoái công ty đã trích lập dự phòng 150 tỷ đồng cho khoản đầu tư tại một đơn vị liên kết, dẫn đến lợi nhuận bị bào mòn.
Cổ phiếu PVOIL hiện giao dịch trên thị trường UPCoM. Ban lãnh đạo cho biết đang từng bước khắc phục ý kiến ngoại trừ trên báo cáo kiểm toán để nộp hồ sơ niêm yết lên sàn TP HCM. Công ty dự kiến có thể chuyển sàn vào năm 2027.
Thông tin được OAPEC xác nhận hôm 3/5. Ban thư ký OAPEC cho biết đã được thông báo về quyết định qua nội dung thư của Bộ trưởng Năng lượng UAE Mohammed Al Mazrouei gửi Bộ trưởng Dầu khí Libya Khalifa Rajab Abdul Sadiq, Chủ tịch phiên họp hiện tại của Hội đồng Bộ trưởng OAPEC.
"Ban thư ký OAPEC bày tỏ trân trọng vai trò UAE trong suốt thời gian là thành viên và những đóng góp hiệu quả của nước này trong việc hỗ trợ tiến trình hành động chung của các nước Arab lĩnh vực dầu khí và năng lượng", OAPEC nêu.
Việc rút khỏi OAPEC có hiệu lực từ 1/5.
OAPEC thành lập vào năm 1968 bởi Kuwait, Libya và Arab Saudi, nhằm thúc đẩy hợp tác giữa các nước xuất khẩu dầu mỏ Arab. Sau khi UAE rời đi, tổ chức còn 10 thành viên, gồm Algeria, Ai Cập, Arab Saudi, Bahrain, Iraq, Kuwait, Libya, Qatar, Syria và Tunisia.
Liên minh này không trực tiếp điều tiết cung cầu dầu thô thế giới như OPEC và OPEC+. Họ chủ yếu hợp tác kỹ thuật, chia sẻ nguồn lực, chuyên môn, phối hợp triển khai các dự án chung và tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư trong lĩnh vực năng lượng trong các nước Arab.
Trước đó, hôm 28/4, UAE bất ngờ thông báo rời Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), từ ngày 1/5. Bộ Năng lượng nước này cho biết quyết định đưa ra sau quá trình rà soát toàn diện chính sách sản xuất cũng như năng lực hiện tại và tương lai của đất nước, giúp UAE linh hoạt hơn trong ứng phó với biến động thị trường.
Hôm 4/5, ông Sultan al-Jaber, Bộ trưởng Công nghiệp và Công nghệ tiên tiến UAE kiêm Giám đốc điều hành tập đoàn dầu khí quốc doanh ADNOC khẳng định việc rút khỏi OPEC và OPEC+ "không nhằm chống lại bất kỳ ai".
"Việc rời OPEC phục vụ lợi ích quốc gia và các mục tiêu chiến lược dài hạn của chúng tôi, phù hợp với tham vọng công nghiệp, kinh tế và phát triển, giúp có thêm dư địa để đẩy nhanh đầu tư, mở rộng quy mô và tạo ra giá trị", ông nói.
Dự báo nhu cầu dầu mỏ toàn cầu sẽ sớm đạt đỉnh, UAE muốn khai thác tối đa trữ lượng càng nhanh càng tốt, trước khi thế giới chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Abu Dhabi đặt mục tiêu tăng sản xuất lên 5 triệu thùng mỗi ngày vào 2027.
Ngay sau khi không bị ràng buộc bởi hạn ngạch sản xuất khoảng 3,4 triệu thùng mỗi ngày của OPEC, hôm 3/5, ADNOC tuyên bố cam kết chi 55 tỷ USD cho các dự án mới trong hai năm tới.
Cảng quốc tế Chu Lai chính thức đưa vào vận hành hệ thống điện năng lượng mặt trời đầu tiên, từng bước ứng dụng năng lượng sạch trong hoạt động khai thác cảng
Công suất dự kiến đạt 5.100 kWp
Dự án được triển khai theo 3 giai đoạn, với tổng công suất dự kiến đạt 5.100 kWp. Trong đó, giai đoạn 1 được triển khai theo 2 đợt liên tiếp trong năm 2026.
Cụ thể, đợt 1 bắt đầu từ tháng 1-2026 với công suất 700 kWp trên diện tích gần 5.000 m². Tiếp nối, trong tháng 4-2026, cảng triển khai đợt 2 với quy mô mở rộng thêm 800 kWp trên diện tích hơn 7.200 m².
Sau khi hoàn thành cả 2 đợt, tổng công suất giai đoạn 1 đạt 1.500 kWp với khoảng 2.300 tấm pin năng lượng mặt trời, sản lượng điện dự kiến khoảng 2,1 triệu kWh/năm.
Trong các giai đoạn tiếp theo, cảng sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng với tổng công suất bổ sung đạt 3.600 kWp (tương đương sản lượng điện khoảng trên 5 triệu kWh/năm), triển khai trên quy mô lớn tại hệ thống kho bãi và hạ tầng hiện hữu.
Khi hoàn thành, tổng công suất điện mặt trời tại Cảng quốc tế Chu Lai đáp ứng toàn bộ nhu cầu cung cấp điện cho hoạt động khai thác, đặc biệt là hệ thống container lạnh và chuỗi logistics nông nghiệp.
Nguồn điện năng lượng mặt trời được sử dụng trong các hoạt động xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, bãi tại cảng
Lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời
Với tổng diện tích 140 ha, trong đó khu kho bãi chiếm khoảng 20 ha, Cảng quốc tế Chu Lai có lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời áp mái. Kết hợp với điều kiện thời tiết khu vực miền Trung có số giờ nắng cao và bức xạ tốt, hệ thống này tạo ra nguồn điện ổn định, giúp duy trì liên tục hoạt động xếp dỡ, lưu trữ hàng hóa, hạn chế rủi ro gián đoạn trong khai thác.
Việc chủ động sử dụng nguồn điện tại chỗ giúp cảng giảm đáng kể chi phí điện năng - một trong những cấu phần chi phí lớn trong khai thác cảng, đặc biệt đối với vận hành container lạnh và hệ thống kho. Qua đó, tạo cơ sở quan trọng để cảng triển khai các chính sách giá linh hoạt và cạnh tranh hơn cho khách hàng.
Cảng quốc tế Chu Lai định hướng duy trì ổn định đơn giá dịch vụ trong dài hạn, hạn chế tối đa tác động từ biến động giá nhiên liệu và giá điện; đồng thời tối ưu chi phí lưu bãi, vận hành container lạnh và dịch vụ logistics liên quan, giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu - đặc biệt trong lĩnh vực nông sản - giảm áp lực chi phí chuỗi cung ứng, gia tăng hiệu quả kinh doanh.
Không chỉ mang lại lợi ích về chi phí, dự án còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng truyền thống và từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển cảng xanh.
Đây là một trong những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của Cảng quốc tế Chu Lai trong bối cảnh ngành logistics đang chuyển dịch mạnh theo hướng bền vững.
Hệ thống điện năng lượng mặt trời giúp khách hàng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng
Trong bối cảnh chi phí năng lượng liên tục gia tăng và yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao, việc đầu tư hệ thống điện mặt trời không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là chiến lược dài hạn, giúp Cảng quốc tế Chu Lai chủ động nguồn lực, đồng hành cùng khách hàng tối ưu chi phí và phát triển bền vững.