Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa có văn bản gửi Bộ Công Thương kiến nghị cập nhật số liệu tài chính EVN đến hết năm 2025. Trước đó, trong hồ sơ thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực, Bộ Công Thương cho biết đến hết năm 2024, dù hoạt động kinh doanh của EVN đã có lãi, Công ty mẹ EVN vẫn còn lỗ lũy kế khoảng 44.792 tỷ đồng.
Để đảm bảo thông tin, số liệu được cập nhật kịp thời tới dư luận nói chung và các cấp có thẩm quyền nói riêng, EVN kiến nghị cơ quan quản lý cập nhật số liệu tài chính đến hết năm 2025.
Theo đó, tập đoàn này cho biết trong các năm 2024 và 2025, hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn này được cải thiện đáng kể, đến hết năm 2025 số lỗ luỹ kế của Công ty mẹ – EVN chỉ còn khoảng 5.611 tỷ đồng.
Trong dự thảo sửa đổi Luật Điện lực, Bộ Công Thương đã đề xuất bổ sung trường hợp, chi phí hợp lý, hợp lệ phục vụ cho việc sản xuất, cung ứng điện của đơn vị bán lẻ điện chưa được bù đắp đầy đủ trong các lần tính toán, điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân thì được phân bổ tính toán trong các lần tính toán, điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân tiếp theo.
Đơn vị bán lẻ có trách nhiệm công khai minh bạch các cấu phần hình thành giá bán lẻ điện bình quân, trong đó bao gồm chi phí từ các khâu (phát điện, truyền tải điện, phân phối – bán lẻ điện, điều độ vận hành hệ thống điện và điều hành giao dịch thị trường điện lực, dịch vụ phụ trợ hệ thống điện và điều hành – quản lý ngành) và các yếu tố đầu vào có tác động lớn đến giá điện.
Bộ Công Thương cho biết các khoản chi phí hợp lý phục vụ sản xuất, cung ứng điện chưa được tính đủ vào giá bán lẻ điện trước khi luật có hiệu lực sẽ được xử lý theo cơ chế chuyển tiếp, phân bổ vào các kỳ điều chỉnh giá điện tiếp theo.
Theo cơ quan này, việc sửa đổi quy định nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp điện lực thu hồi đủ chi phí hợp lý, đồng thời bảo đảm tính công khai, minh bạch trong tính giá điện, kể cả với các chi phí phát sinh khách quan chưa được tính đầy đủ trước đó.
Bộ Công Thương cho biết việc phân bổ các khoản chi phí này sẽ được cân nhắc theo từng thời điểm, có thể phân bổ toàn bộ hoặc một phần, phù hợp với tình hình kinh tế và mục tiêu điều hành giá điện ổn định, tránh biến động mạnh. Trong điều kiện thuận lợi về thủy văn, việc phân bổ chi phí có thể không làm phát sinh nhu cầu tăng giá điện.
Ngày 4-4, thông tin từ UBND thành phố Cần Thơ cho biết Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên vừa có văn bản chỉ đạo thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026.
Đáng chú ý, Chủ tịch UBND thành phố giao Giám đốc Sở Nội vụ phối hợp Sở Tài chính tham mưu UBND thành phố ban hành quy chế đánh giá, xếp loại thi đua năm 2026 đối với tập thể và cá nhân, trong đó quy định kết quả giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2026 là tiêu chí chủ đạo để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể và cá nhân, gắn trực tiếp với trách nhiệm của người đứng đầu.
Đồng thời xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cụ thể, định lượng, bao gồm: tỉ lệ giải ngân vốn đầu tư công theo kế hoạch được giao; tiến độ triển khai dự án đầu tư công; chất lượng quản lý, điều hành dự án; hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư công.
Bộ tiêu chí này là cơ sở để kiểm điểm trách nhiệm, xét thi đua, khen thưởng hoặc xử lý kỷ luật theo quy định. Thời hạn hoàn thành các công việc nêu trên là ngay trong tháng 4.
Ngoài ra, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ cũng yêu cầu Giám đốc Sở Tài chính định kỳ hằng tháng tổng hợp kết quả giải ngân của các cơ quan, đơn vị, công khai minh bạch trên Cổng thông tin điện tử thành phố và các phương tiện thông tin đại chúng; đề xuất Chủ tịch UBND thành phố xem xét biểu dương, khen thưởng các đơn vị đạt tỉ lệ giải ngân cao, phê bình, kiểm điểm trách nhiệm các đơn vị giải ngân chậm.
Theo UBND thành phố Cần Thơ, kế hoạch triển khai kịch bản tăng trưởng thành phố ban hành từ đầu năm 2026 đặt mục tiêu phấn đấu quý 1-2026 giải ngân đạt khoảng 20%, quý 2 đạt 50%, quý 3 đạt 75% và đến ngày 31-12-2026 đạt 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Ẩn sâu dưới lòng New York là một trong những kho vàng lớn nhất thế giới - nơi cất giữ hàng nghìn tấn vàng của nhiều quốc gia, nhưng phần lớn lại không thuộc về Mỹ. Điều đáng chú ý là những “chủ nhân” chính lại là các nền kinh tế hàng đầu châu Âu.
Thực tế, kho vàng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tại New York (Fed) chỉ đóng vai trò lưu ký. Trong khoảng 6.300 tấn vàng đang được bảo quản, tới 98% thuộc về các ngân hàng trung ương và chính phủ nước ngoài - biến nơi đây thành “ngân khố chung” của thế giới.
Dù danh sách chi tiết không được công bố, nhiều dữ liệu cho thấy châu Âu chiếm phần lớn. Đức là cái tên nổi bật, với khoảng 1.200 tấn vàng từng được lưu trữ tại Mỹ. Dù đã triển khai chương trình hồi hương từ năm 2013, Berlin vẫn giữ khoảng 1/3 dự trữ tại đây.
Italy - một trong những quốc gia nắm giữ vàng lớn nhất thế giới - cũng duy trì lượng vàng đáng kể ở nước ngoài, bao gồm Mỹ, nhằm đảm bảo khả năng giao dịch nhanh trên thị trường quốc tế.
Trong khi đó, Hà Lan và Bỉ từng gửi tới một nửa dự trữ vàng tại New York, nhưng gần đây đã chuyển dần về nước. Thụy Sĩ lựa chọn cách phân bổ linh hoạt giữa trong nước, Mỹ và Anh. Ngược lại, Pháp từ lâu ưu tiên giữ vàng trong nước, hạn chế phụ thuộc vào các kho ngoại quốc.
Nguồn gốc của xu hướng này bắt đầu sau Thế chiến thứ hai. Khi đó, Mỹ nổi lên như nền kinh tế ổn định nhất. Việc chuyển vàng sang New York khi đó không chỉ để cất giữ, mà còn là cách “trú ẩn” trong một hệ thống tài chính được xem là an toàn nhất.
Nhưng yếu tố an toàn chỉ là một phần. Quan trọng không kém là tính tiện lợi. Kho vàng tại New York hoạt động như một trung tâm giao dịch khi các quốc gia có thể mua bán vàng chỉ bằng cách chuyển quyền sở hữu trong cùng hệ thống kho, không cần vận chuyển vật chất.
Vai trò trung tâm tài chính toàn cầu của New York càng củng cố xu hướng này khi đồng USD trở thành trụ cột của hệ thống tiền tệ và có thể quy đổi trực tiếp sang vàng.
Dù vậy, xu hướng đang dần đảo chiều. Trong hơn một thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã âm thầm đưa vàng về nước. Đức chuyển hàng trăm tấn về Frankfurt, Hà Lan cũng có động thái tương tự, còn Pháp gần như không phụ thuộc vào kho vàng Mỹ.
Động lực không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn đậm màu sắc địa chính trị. Khi thế giới chứng kiến các tài sản quốc gia có thể bị đóng băng trong xung đột, câu hỏi về “chủ quyền tài sản” trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bên cạnh đó, áp lực trong nước gia tăng khi cử tri và giới chính trị yêu cầu chính phủ kiểm soát trực tiếp các tài sản chiến lược.