Ngày 9-4, Tập đoàn giáo dục Đại Trường Phát đã phát đi thông báo khẩn với học sinh, giáo viên về việc ngừng truy cập đường dẫn tài liệu trong sách giáo khoa tin học lớp 3, chủ biên Nguyễn Tương Tri, Nhà xuất bản Đại học Huế.
Theo Tập đoàn giáo dục Đại Trường Phát, đã có một sự cố kỹ thuật nghiêm trọng liên quan đến đường dẫn (link) truy cập học liệu điện tử được in trong nội dung sách giáo khoa tin học do Đại Trường Phát phát hành.
Cụ thể, đường dẫn đã bị chuyển hướng tới các nội dung không phù hợp với môi trường giáo dục, bị dẫn đến một “web đen”.
Để bảo vệ an toàn cho các em học sinh trên không gian mạng, Tập đoàn giáo dục Đại Trường Phát đưa ra khuyến cáo khẩn cấp, yêu cầu tuyệt đối không truy cập vào đường link liên quan đến tài liệu bổ trợ trong quyển sách giáo khoa nêu dưới bất kỳ hình thức nào để đảm bảo an toàn thông tin.
“Kính mong thầy cô và phụ huynh hỗ trợ nhắc nhở các em học sinh không tò mò nhấn vào các liên kết này để tránh tiếp cận với các nội dung độc hại hoặc rủi ro về an ninh mạng.
Ngay khi phát hiện sự việc, Đại Trường Phát đã chủ động báo cáo đến Cục An ninh mạng và các cơ quan chức năng, đồng thời phối hợp với các đơn vị liên quan để xử lý”, thông báo nêu.
Theo tập đoàn này, sau sự việc sẽ nghiêm túc tăng cường hơn nữa công tác quản lý hệ thống liên kết học liệu. Hiện tại đang khẩn trương triển khai các giải pháp khắc phục, hướng tới một nền tảng truy cập an toàn và ổn định hơn trong thời gian sớm nhất.

Chiều 9.5, Trường Kỹ thuật và Công nghệ (trực thuộc Trường ĐH Nha Trang) tổ chức hội thảo "Kỹ thuật và Công nghệ Thủy sản thông minh - TESF 2026", thu hút sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, doanh nghiệp và sinh viên trong lĩnh vực thủy sản trong và ngoài nước.
Phát biểu khai mạc, TS Trần Doãn Hùng, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Nha Trang, nhấn mạnh trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang được ứng dụng sâu rộng, ngành thủy sản đang đứng trước nhiều cơ hội đổi mới để nâng cao năng suất, chất lượng và hướng đến phát triển bền vững. Ông kỳ vọng hội thảo sẽ thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ ngành thủy sản trong thời kỳ hội nhập và chuyển đổi số.
Hội thảo có 4 báo cáo chính từ các chuyên gia trong và ngoài nước, tập trung vào các chủ đề: ứng dụng IoT và AI trong thu thập, phân tích dữ liệu nuôi tôm, giúp giám sát môi trường và phát hiện dịch bệnh theo thời gian thực; chiến lược cung ứng cá ngừ đáp ứng tiêu chuẩn thị trường Mỹ và EU với trọng tâm kiểm soát toàn chuỗi cung ứng và tuân thủ quy định IUU; tối ưu hóa đa mục tiêu trong công nghệ thông minh; và giải pháp xây dựng nhà máy chế biến thủy sản thông minh ứng dụng hệ thống điều hành sản xuất MES, giúp loại bỏ báo cáo thủ công và tối ưu hóa tỷ lệ thu hồi nguyên liệu.
Bên cạnh phiên toàn thể, hội thảo còn có 12 tham luận kỹ thuật chia thành 2 phân ban: kỹ thuật và thiết bị trong nuôi trồng thủy sản; công nghệ cơ khí và thiết bị khai thác, chế biến thủy sản. Các nghiên cứu tập trung vào hệ thống AIoT giám sát chất lượng nước, ứng dụng ROV kết hợp AI trong giám sát nuôi biển, công nghệ Digital Twin, tái chế ngư cụ thải bỏ tại Khánh Hòa và nhiều chủ đề khác.
Đây là lần thứ 3 hội thảo TESF được tổ chức, tiếp nối chuỗi hoạt động khoa học thường niên của Trường Kỹ thuật và Công nghệ (trực thuộc Trường ĐH Nha Trang) nhằm tăng cường kết nối giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà quản lý. Ban tổ chức kỳ vọng chuỗi hội thảo sẽ góp phần mở ra nhiều cơ hội hợp tác trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành thủy sản trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tôi từng nghe một người mẹ thở dài: "Không cho con dùng điện thoại thì sợ tụt lại việc học, mà cho dùng thì sợ nó lạc vào những thứ mình không kiểm soát nổi". Đó có lẽ là nỗi niềm không của riêng ai.
Trong những ngày gần đây, đề xuất hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội được đưa ra, xuất phát từ những lo ngại rất thật: bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nghiện mạng… Những điều ấy không còn là cảnh báo xa xôi, mà đã hiện diện trong đời sống mỗi gia đình.
Song, nhìn kỹ, ta sẽ thấy mình đang đứng trước một nghịch lý: chính những nền tảng mà người lớn muốn "cấm", lại đang là công cụ học tập quen thuộc của trẻ. Lớp học hôm nay không còn gói gọn trong bốn bức tường. Bài tập được giao qua Zalo, thảo luận nhóm trên Facebook, tài liệu chia sẻ qua các ứng dụng nhắn tin.
Một học sinh nếu bị "cắt mạng", đôi khi cũng đồng nghĩa bị cắt khỏi dòng chảy học tập. Vậy nên, câu chuyện không còn đơn giản là "có nên cấm hay không" mà là câu chuyện của một thời đại mà ranh giới giữa học và chơi, giữa hữu ích và độc hại, không còn rõ ràng.
Tôi nghĩ, nỗi lo của người lớn là có thật. Nhưng phản xạ "cấm" nhiều khi lại là một phản xạ bản năng: khi không kiểm soát được, ta muốn loại bỏ. Thực ra, với không gian số, điều đó gần như không thể.
Trẻ em hôm nay không lớn lên trong một thế giới "có Internet", mà là một thế giới "chính là Internet". Các em không bước vào không gian số, mà đang sống trong đó. Vì vậy cấm đoán không phải là dựng một hàng rào, mà giống như yêu cầu các em không bước ra khỏi một thực tại vốn đã gắn liền với mình.
Và điều đáng nói hơn những gì bị cấm tuyệt đối, thường lại trở nên hấp dẫn hơn. Một đứa trẻ không được giải thích, không được trang bị, chỉ đơn thuần bị ngăn lại, rất dễ tìm cách đi vòng. Dùng tài khoản khác, mượn thiết bị khác, hoặc đơn giản là giấu đi. Khi đó, người lớn không còn kiểm soát được, mà trẻ cũng không có kỹ năng để tự bảo vệ mình.
Theo đó, nguy cơ không biến mất mà chỉ trở nên khó thấy hơn. Thực tế, nếu cấm đoán một cách cứng nhắc, chúng ta còn đối diện với một hệ quả khác: bất bình đẳng.
Một học sinh ở thành phố có nhiều thiết bị, nhiều kênh tiếp cận, có thể dễ dàng tìm cách thay thế. Nhưng một học sinh ở vùng khó khăn, phụ thuộc hoàn toàn vào những nền tảng phổ biến để nhận bài, trao đổi với thầy cô, có thể bị "rơi ra ngoài" chỉ vì một quyết định hành chính. Khi đó, câu chuyện không còn là bảo vệ trẻ em, mà là vô tình tạo thêm khoảng cách.
Nhưng nếu không cấm, thì làm gì? Có lẽ, câu trả lời không nằm ở một biện pháp duy nhất, mà ở một cách tiếp cận khác: từ "bảo vệ bằng rào cản" sang "bảo vệ bằng năng lực". Thay vì cố gắng kiểm soát mọi thứ, hãy giúp trẻ biết cách tự kiểm soát.
Một đứa trẻ biết nhận diện lừa đảo, biết phân biệt thông tin thật/giả, biết dừng lại khi thấy mình đang bị cuốn vào những nội dung vô nghĩa… sẽ an toàn hơn rất nhiều so với một đứa trẻ chỉ đơn thuần bị cấm. Điều này không thể đến từ một bài giảng đạo đức, mà cần được thực hành.
Trong gia đình, cha mẹ không chỉ là người giám sát, mà cần trở thành người đồng hành. Không phải là "đừng dùng", mà là "con đang xem gì vậy?", "con nghĩ gì về điều này?". Một cuộc trò chuyện mở, nhiều khi hiệu quả hơn cả một ứng dụng kiểm soát.
Ở trường học, kỹ năng số không nên chỉ là một khái niệm, mà cần trở thành một phần của giáo dục thực chất: cách ứng xử khi bị bình luận tiêu cực, cách bảo vệ thông tin cá nhân, cách quản lý thời gian sử dụng.
Về phía chính sách, thay vì đặt toàn bộ trách nhiệm lên gia đình và nhà trường, cần buộc các nền tảng công nghệ phải có trách nhiệm hơn: chế độ tài khoản dành riêng cho trẻ em, kiểm soát nội dung, giới hạn thời gian, giảm các thuật toán gây nghiện. Bởi suy cho cùng, một đứa trẻ không thể chống lại cả một hệ thống được thiết kế để giữ chân người dùng.
Có một câu hỏi mà tôi nghĩ chúng ta nên tự đặt ra: chúng ta muốn con mình "không dùng mạng", hay muốn con mình "biết dùng mạng"? Hai điều đó rất khác nhau.
Theo đó, một đứa trẻ không dùng mạng có thể an toàn trong một giai đoạn. Nhưng một đứa trẻ biết dùng mạng - biết chọn lọc, biết dừng lại, biết tự bảo vệ - mới có thể đi đường dài trong một thế giới mà công nghệ là điều không thể tách rời.
Chúng ta không thể đi thay con cả đời, nhưng chúng ta có thể dạy con cách đi. Có thể, thay vì hỏi "có nên cấm hay không", chúng ta nên hỏi một câu khác: con mình đang ở đâu trong thế giới số và mình đã ở đó cùng con chưa?
Điều trẻ cần không phải là một lệnh cấm, mà là một người lớn đủ kiên nhẫn để ngồi xuống, lắng nghe và đi cùng. Trong một thế giới ngày càng nhiều kết nối, có lẽ điều quan trọng nhất không phải là tắt đi một cánh cửa, mà là dạy nhau cách bước qua nó một cách an toàn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Cô Hồng, 49 tuổi, giáo viên Ngữ văn, kiêm tổng phụ trách Đội ở trường THCS Lê Thị Bạch Cát, phường Cửa Lò, đã có hơn 23 năm đứng lớp theo diện hợp đồng dài hạn. Từng đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp thị xã, được Sở Giáo dục và Đào tạo cử làm giáo viên cốt cán, nhưng cô chưa có cơ hội vào biên chế. Với 14,5 triệu đồng mỗi tháng, cô Hồng chắt chiu nuôi hai con ăn học và lo thuốc men cho chồng, thấy "đủ" để duy trì cuộc sống.
Khó khăn ập đến khi tháng 10/2025, tỉnh Nghệ An giao biên chế trực tiếp về các trường, nhóm do cấp huyện ký trước đây không còn nằm trong diện được trả lương từ ngân sách.
Cô Hồng không có lương từ đầu năm đến nay, dù vẫn đứng lớp đều đặn hai buổi mỗi ngày.
"Năng lực được ghi nhận, nhưng lương lại không có", cô ngậm ngùi.
Hơn 4 tháng qua, chi tiêu của gia đình cô Hồng dựa vào khoản lương hưu hơn 7 triệu đồng của chồng, kết hợp vay mượn đồng nghiệp và người thân, mỗi lần vài trăm nghìn.
"Tôi không dám vay nhiều, chỉ đủ cầm cự qua ngày", cô kể.
Gần đây, giá xăng tăng, chi phí cho quãng đường gần 20 km từ nhà đến trường cao hơn một chút. Vì thế, cô Hồng tự nấu cơm mang theo để tiết kiệm. Những khoản chi như học phí của con hay tiền thuốc cho chồng dần trở thành gánh nặng.
Sau gần 22 năm làm việc, chị Hà, nhân viên y tế trường Mầm non Bình Minh (phường Cửa Lò) nhận lương tháng khoảng 9,8 triệu đồng. Trước kia, chị tin hợp đồng dài hạn do Chủ tịch thị xã Cửa Lò (cũ) ký là đảm bảo cho một công việc ổn định.
Với thù lao lái xe thuê của chồng, tổng thu nhập gia đình chị Hà khoảng 15 triệu đồng mỗi tháng. Nay mất đi nguồn chính, cuộc sống gia đình 5 người chao đảo. Chị Hà phải tính toán, vay mượn từng đồng, bởi còn lo cho hai con lớn học đại học, con nhỏ học lớp 6.
"Tôi xoay như chong chóng", chị Hà nói, giọng mệt mỏi, cho biết phải mượn bạn bè từng khoản nhỏ, mỗi lần 1-2 triệu đồng để trang trải sinh hoạt.
Dù vậy, cả hai vẫn đi làm đều đặn. Cô Hồng dạy đủ hai buổi mỗi ngày, kiêm nhiệm công tác Đội, tối về thức khuya soạn giáo án. Trong lớp học, cô Hồng cố quên đi mọi bộn bề để giữ nguyên nhịp giảng.
"Đi làm vì cái tâm", cô nói, lấy tay lau nước mắt khi kể về việc người thân khuyên nghỉ dạy. Rời bỏ bục giảng sau 23 năm là điều cô chưa từng nghĩ đến.
Còn chị Hà phụ giáo viên chăm trẻ buổi sáng, buổi chiều tiếp tục các phần việc khác, từ y tế đến hỗ trợ lau dọn bàn ghế, vệ sinh phòng học... Ở tuổi 46, chị từng tìm việc làm thêm như rửa bát tại nhà hàng, quán ăn nhưng đều bị từ chối. Tính vay ngân hàng một khoản nhỏ để tìm hướng kinh doanh, song chị cũng bế tắc vì không có thu nhập ổn định để chứng minh khả năng trả nợ.
Cách đây vài ngày, cô Hồng, chị Hà cùng một số đồng nghiệp đến UBND tỉnh Nghệ An, đăng ký gặp Chủ tịch. Họ mong được giải quyết số tiền lương bị nợ và được trả lời rõ ràng về tương lai công việc.
"Chúng tôi cần một câu trả lời thỏa đáng để biết đường tính tiếp", chị Hà nói, cho hay đã có lịch gặp trong những ngày tới.
Tỉnh Nghệ An hiện có 63 giáo viên và 148 nhân viên hợp đồng (y tế học đường, thiết bị thư viện, thủ quỹ, kế toán...). Nhiều người làm việc trên 20 năm, cá biệt tới 29 năm. Cô Hồng và chị Hà thuộc diện hợp đồng dài hạn, hưởng chế độ như biên chế, còn phần lớn hưởng lương bậc 1 (khoảng 5 triệu đồng), thậm chí chỉ 85% mức này. Do nhiều năm không có chỉ tiêu hoặc không đạt yêu cầu tuyển dụng, đời sống và việc làm của họ luôn bấp bênh.
Tin Gốc: Vnexpress

