Bộ Công an đang lấy ý kiến đối với dự thảo hồ sơ chính sách dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), trong đó đề xuất xử lý hình sự các hành vi liên quan đến tội phạm môi trường.
Theo đó, ba hành vi đang được đề xuất xử lý hình sự trong các tội phạm về môi trường gồm:
Hành vi đốt chất thải, nhất là với các chất thải nguy hại; hành vi gây ra trái phép tiếng ồn, độ rung và mùi vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn; hành vi tận diệt đối với động vật (sử dụng các loại vật liệu, hóa chất, công cụ có tính chất tận diệt đối với các loài động vật).
Báo cáo tổng kết việc thi hành Bộ luật Hình sự, thống kê từ ngày 1-1-2018 đến tháng 6-2025, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã phát hiện, điều tra, khởi tố 28 vụ án hình sự.
Chủ yếu tập trung vào các tội gây ô nhiễm môi trường; vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản; sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm.
Cạnh đó là các tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi; vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
Theo cơ quan soạn thảo, tình trạng thu gom, xử lý chất thải không đúng quy định; vi phạm về xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn ra môi trường; đổ chất thải trái phép; khai thác, vận chuyển, kinh doanh khoáng sản (đất, cát, sỏi, vàng, than) trái phép, không có nguồn gốc hợp pháp diễn ra phức tạp ở nhiều địa phương.
Hơn nữa, hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, khai thác tài nguyên và đa dạng sinh học đang ở mức báo động.
Vi phạm trong việc nuôi nhốt, buôn bán các sản phẩm từ sinh vật nguy cấp, quý hiếm diễn ra với các phương thức, thủ đoạn tinh vi.
Vi phạm về y tế, an toàn thực phẩm chủ yếu đến từ hành vi kinh doanh, lưu giữ, tiêu thụ các mặt hàng thực phẩm là sản phẩm động vật đông lạnh không rõ nguồn gốc, không đảm bảo an toàn thực phẩm, sử dụng các loại phụ gia, hóa chất không bảo đảm chất lượng hoặc không đúng quy trình…
Theo Bộ Công an, “nhìn chung, người dân chưa thực sự cảm thấy an toàn về môi trường sống của mình”.
Tình trạng ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, mất an toàn trong lao động, trong xây dựng, trong khi tham gia giao thông đã đến mức báo động. Vì vậy Bộ luật Hình sự cần được tiếp tục hoàn thiện để góp phần tạo ra một khung pháp lý vững chắc, để bảo vệ môi trường sống an toàn cho người dân.
Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) cho thấy hiện nay, trong các hành vi của tội gây ô nhiễm môi trường và tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại chưa có quy định về hành vi đốt chất thải, nhất là đối với các chất thải nguy hại.
Đồng thời chưa có quy định về hành vi gây ra trái phép tiếng ồn, độ rung và mùi vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn nên chưa có cơ chế xử lý hình sự đối với người thực hiện các hành vi này.
Bộ luật Hình sự hiện hành cũng chưa có quy định để xử lý hình sự với các hành vi sử dụng các loại hóa chất, phương tiện, công cụ đánh bắt động vật có tính chất tận diệt như dùng kích điện, dùng sóng cao tần, dùng hóa chất độc hại…
Việc xác định giá trị gây thiệt hại trong các trường hợp trên để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự là rất khó, trong nhiều trường hợp là không thể.
Tuy nhiên mức độ nguy hiểm của hành vi nêu trên rất lớn, gây tận diệt sinh vật, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự đa dạng sinh học. Thực tiễn cho thấy việc đánh bắt tận diệt đã và đang biến các con sông thành “sông chết”.
Do đó cần phải có chế tài nghiêm khắc hơn để xử lý, thay vì chỉ xử lý hành chính như hiện nay.
Thiệt hại từ những dự án bất động sản sai phạm này không dừng lại ở con số hàng ngàn tỉ đồng bị chiếm đoạt, mà còn là số phận của hàng trăm nhà đầu tư thứ cấp - những người từ chỗ kỳ vọng sinh lời đã trở thành bị hại bất đắc dĩ. Họ phải theo đuổi khiếu nại, tố cáo trong nhiều năm, đối diện nguy cơ mất trắng tài sản, thậm chí phát sinh những "điểm nóng" về an ninh trật tự.
Đáng lo ngại hơn, quá trình giải quyết hậu quả thường kéo dài và bế tắc, nhất là khi tài sản đảm bảo liên quan đến các yếu tố pháp lý phức tạp như đất quốc phòng hoặc dự án chưa hoàn thiện pháp lý.
Về mặt pháp luật, khuôn khổ điều chỉnh hoạt động kinh doanh bất động sản không phải là thiếu.
Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 (nay được thay thế bằng luật năm 2023) đã quy định khá rõ: Chủ đầu tư chỉ được đưa sản phẩm vào kinh doanh khi đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp lý; việc bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận đủ điều kiện và được ngân hàng thương mại bảo lãnh nghĩa vụ tài chính.
Đồng thời chủ đầu tư phải công khai minh bạch thông tin về dự án, tình trạng pháp lý và số lượng sản phẩm được phép giao dịch.
Tuy nhiên khoảng cách giữa quy định và thực thi vẫn còn rất lớn. Nhiều chủ đầu tư đã "lách luật" bằng các hình thức huy động vốn trá hình như "hợp đồng đặt cọc giữ chỗ", "hợp đồng hợp tác đầu tư", "phiếu đăng ký sản phẩm"… để thu tiền của khách hàng khi dự án chưa đủ điều kiện.
Các sản phẩm như căn hộ du lịch, biệt thự nghỉ dưỡng cũng được rao bán rầm rộ dù chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận. Những hành vi này không diễn ra trong thời gian ngắn mà kéo dài nhiều năm, có sự tham gia của hệ thống môi giới, sàn giao dịch và các chiến dịch quảng cáo dày đặc trên mạng xã hội.
Khi các sai phạm bị phát hiện, hậu quả thường đã vượt quá khả năng khắc phục. Thực tế cho thấy có những vụ án đã có bản án hình sự hiệu lực nhưng việc thi hành phần dân sự vẫn gặp bế tắc do tài sản không đủ điều kiện pháp lý để xử lý. Điều này đặt ra vấn đề không chỉ ở khâu xử lý vi phạm, mà còn ở hiệu quả phòng ngừa từ sớm, từ xa.
Nguyên nhân của tình trạng này đã nhiều lần được chỉ ra: công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng còn tồn tại sai sót qua nhiều nhiệm kỳ; việc thanh tra, kiểm tra chưa kịp thời; tình trạng giao dịch đặt cọc, giữ chỗ tràn lan nhưng không được kiểm soát; chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe.
Đặc biệt, hoạt động môi giới bất động sản, nhất là môi giới tự do, còn thiếu cơ chế quản lý chặt chẽ, trở thành "kênh phát tán rủi ro" lớn trên thị trường.
Một thực tế đáng chú ý là dù cơ quan quản lý đã nhiều lần ban hành văn bản cảnh báo, yêu cầu các chủ đầu tư không được quảng cáo, giao dịch khi chưa đủ điều kiện, nhưng trên không gian mạng vẫn tràn lan thông tin rao bán, chào giá các dự án chưa đủ điều kiện kinh doanh.
Điều này cho thấy nếu chỉ dừng lại ở việc "nhắc nhở trên giấy" mà thiếu biện pháp kiểm soát hiệu quả thì khó có thể ngăn chặn nguy cơ tái diễn những vụ án tương tự trong tương lai.
Để thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, cần một cách tiếp cận quyết liệt và thực chất hơn.
Trước hết phải bịt các "lỗ hổng" trong hoạt động huy động vốn. Mọi hành vi thu tiền của khách hàng khi dự án chưa đủ điều kiện, bất kể dưới hình thức nào, đều phải được phát hiện và xử lý ngay từ đầu. Cần thay đổi tư duy từ "xử lý hậu quả" sang "ngăn chặn vi phạm", đặc biệt đối với các hành vi có tính chất hệ thống.
Bên cạnh đó, việc công khai thông tin dự án cần được thực hiện theo hướng minh bạch, dễ tiếp cận. Không chỉ dừng lại ở việc đăng tải trên website, cần xây dựng hệ thống dữ liệu số thống nhất về dự án bất động sản, trong đó thể hiện rõ tình trạng pháp lý, tiến độ, điều kiện kinh doanh và các cảnh báo rủi ro để người dân có thể tra cứu thuận tiện.
Một yếu tố then chốt khác là phải xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý.
Nếu để xảy ra tình trạng dự án chưa đủ điều kiện nhưng vẫn quảng cáo, huy động vốn trong thời gian dài mà không bị xử lý thì cần xem xét trách nhiệm cụ thể của từng cá nhân, đơn vị liên quan.
Không thể tiếp tục tồn tại thực trạng "cơ quan quản lý buông lỏng - doanh nghiệp vi phạm - người dân gánh chịu hậu quả".
Đồng thời cần siết chặt hoạt động môi giới bất động sản. Chỉ những cá nhân có chứng chỉ hành nghề, hoạt động trong khuôn khổ pháp lý rõ ràng mới được tham gia môi giới.
Các hành vi quảng cáo sai sự thật, tiếp tay cho dự án chưa đủ điều kiện phải bị xử lý nghiêm, kể cả trên môi trường mạng.
Việc kiểm soát thông tin trên không gian mạng cũng cần được coi là nhiệm vụ trọng tâm. Các website, tài khoản mạng xã hội đăng tải thông tin sai lệch về dự án bất động sản phải được phát hiện, xử lý kịp thời, tránh tạo ra những "làn sóng đầu tư ảo" gây nhiễu loạn thị trường.
Trưa 8-4, Công an TP Đà Nẵng cho biết Công an phường Thanh Khê đã ra quyết định tạm giữ và lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Thị Hồng Phúc (37 tuổi, trú phường Thanh Khê) để điều tra về hành vi "gây rối trật tự công cộng".
Trước đó, khoảng 20h05 ngày 6-4, tại khu vực gác chắn đường sắt Thanh Khê, trong lúc chị Trương Thị Diệp Thúy (trú phường An Khê) và chị Nguyễn Thị Mộng Tuyền (trú phường Hải Châu) đang thực hiện nhiệm vụ đóng chắn tàu.
Phạm Thị Hồng Phúc điều khiển phương tiện đến, cố tình vượt qua gác chắn nhưng bị ngăn cản.
Do không chấp hành quy định, Phúc đã xảy ra cự cãi, sau đó cùng con là Nguyễn Phạm Hồng Quỳnh (16 tuổi) dùng mũ bảo hiểm tấn công hai nhân viên gác chắn. Mặc dù được người dân can ngăn, đối tượng vẫn tiếp tục có hành vi hành hung, gây mất an ninh, trật tự tại khu vực.
Hậu quả, hai nạn nhân bị thương phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng, hiện đang điều trị.
Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, Công an phường Thanh Khê đã khẩn trương triển khai lực lượng, tiến hành xác minh, làm rõ vụ việc, tạm giữ đối tượng Phạm Thị Hồng Phúc.
Đối với Nguyễn Phạm Hồng Quỳnh do chưa đủ 18 tuổi và đang mang thai, cơ quan công an tiếp tục củng cố hồ sơ để xử lý theo quy định.
Trước đó Công ty cổ phần Đường sắt Quảng Nam - Đà Nẵng đã có báo cáo gởi Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, Cục Cảnh sát giao thông, Công an thành phố Đà Nẵng liên quan đến vụ việc 2 nhân viên gác chắn ở Thanh Khê bị hành hung.
Ngày 13/4, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Quảng Trị cho biết đã bắt tạm giam Trần Quang Trọng (26 tuổi), Nguyễn Minh Thuận (29 tuổi, cùng ở Gia Lai), Lê Văn Kỷ (31 tuổi, TP HCM) và Hồ Đức Thế (36 tuổi, Đăk Lăk) để điều tra về hành vi Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản và Rửa tiền.
Chuyên án do Phòng An ninh mạng, Công an tỉnh Quảng Trị và Cục An ninh mạng (Bộ Công an) chủ trì triệt phá.
Theo điều tra, từ tháng 1, Trọng và Kỷ lên kế hoạch chiếm quyền sử dụng số điện thoại của nạn nhân bằng cách đổi sim. Các số này đều liên kết với tài khoản ngân hàng, giúp nhóm nhận mã OTP để chiếm đoạt tiền.
Trọng thu thập thông tin khách hàng có tiền gửi tiết kiệm, sau đó chuyển cho Kỷ đổi sang các sim trắng đã chuẩn bị. Kỷ thuê Hồ Đức Thế (cộng tác viên của Vinaphone) thực hiện việc chuyển đổi trái phép với giá 15 triệu đồng mỗi sim.
Sau khi chiếm quyền thuê bao, Trọng dùng thiết bị và phần mềm truy cập tài khoản ngân hàng, vượt qua nhiều lớp bảo mật để chuyển tiền. Số tiền chiếm đoạt được, Thuận giúp "rửa" bằng cách mua tiền điện tử USDT rồi luân chuyển qua nhiều ví nhằm che giấu nguồn gốc.
Điển hình ngày 20/1, nhóm này thu thập thông tin 15 khách hàng sử dụng sim Vinaphone, đổi thành công 13 sim, chiếm đoạt tiền của 7 đến 8 tài khoản khoảng 3 tỷ đồng. Quá trình chiếm đoạt tiền, nhóm này vượt qua hệ thống bảo mật bằng sinh trắc học khá dễ dàng.
Nhà chức trách xác định, từ tháng 1 đến tháng 3, với thủ đoạn tương tự, nhóm đã chiếm đoạt hơn 23 tỷ đồng. Toàn bộ số tiền sau đó được quy đổi sang tiền điện tử để hợp thức hóa và chia nhau.