Đây là nội dung tại hồ sơ thẩm định dự án Luật Hòa giải ở cơ sở sửa đổi vừa được Bộ Tư pháp công bố. Một trong những chính sách lớn của dự án Luật là hoàn thiện cơ chế lựa chọn và nâng cao chất lượng hòa giải viên ở cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, mỗi tổ hòa giải có từ 3 hòa giải viên trở lên. Chủ tịch UBND cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ căn cứ vào đặc điểm, tình hình địa phương.
Theo quy định hiện hành, tiêu chuẩn hòa giải viên là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, có phẩm chất đạo đức tốt, uy tín trong cộng đồng, khả năng thuyết phục, vận động và hiểu biết pháp luật.
Tại dự án Luật mới, Bộ Tư pháp đề xuất bỏ mô hình tổ hòa giải, thành lập các Trung tâm hòa giải cộng đồng tại cấp xã. Hòa giải viên phải có bằng tốt nghiệp đại học, có chứng chỉ nghề nghiệp và được chính quyền cấp xã tuyển dụng.
Bộ cho biết việc lựa chọn hòa giải viên gắn với trình độ học vấn, bằng cấp và đánh giá năng lực phù hợp với đặc thù địa bàn và từng loại vụ việc. Chính sách này học tập theo mô hình hòa giải của Singapore và Australia. Giải pháp nhằm chuyên nghiệp hoạt động hòa giải ở cơ sở, xử lý ngay tại cơ sở những tranh chấp, bất đồng trên cơ sở pháp luật, bảo đảm tối cao tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật.
Dự án Luật cũng nêu rõ hòa giải viên có trách nhiệm giải trình đối với chất lượng vụ việc hòa giải. Cơ chế đánh giá định kỳ hòa giải viên được thiết lập trên cơ sở kết quả hòa giải, mức độ tín nhiệm của cộng đồng và việc chấp hành quy định pháp luật, qua đó tạo động lực nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải.
Về cơ chế hỗ trợ tài chính, ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của Trung tâm hòa giải ở cộng đồng, bao gồm cơ sở vật chất và chi phí bộ máy hoạt động.
Hòa giải ở cơ sở là cơ chế giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ ngay trong cộng đồng dân cư thông qua sự tham gia của những người có uy tín như tổ trưởng dân phố, trưởng thôn, hội phụ nữ, cựu chiến binh hoặc các hòa giải viên được địa phương công nhận.
Luật Hòa giải ở cơ sở hiện hành hiệu lực từ năm 2014. Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2025, cả nước tiếp nhận 906.763 vụ, việc hòa giải, trung bình 90.676 vụ, việc/năm. Trong đó, vụ hòa giải thành công là 735.785/906.763 vụ, đạt tỷ lệ 80,22%. Một số tỉnh có tỷ lệ hòa giải thành cao như Lào Cai (88,46%); Tây Ninh (88,32%); Tuyên Quang (87,27%); Đồng Tháp (85,84%); Lai Châu (85,80%); TP HCM (85,24%); An Giang (85,17%); Quảng Ngãi (84,96%).
Thông qua công tác hòa giải ở cơ sở, những tranh chấp, bất đồng phát sinh được giải quyết kịp thời, hạn chế đáng kể tình trạng khiếu kiện ra cơ quan nhà nước, khiếu kiện vượt cấp. Công tác hòa giải ở cơ sở cũng góp phần quan trọng giữ gìn, vun đắp tình làng, nghĩa xóm, xây dựng cộng đồng dân cư yên bình, hạnh phúc.
Bộ Tư pháp cho biết hầu hết mâu thuẫn, tranh chấp được hòa giải chủ yếu phát sinh trong các lĩnh vực đất đai, dân sự; hôn nhân và gia đình. Một số vụ việc phát sinh mâu thuẫn giữa các bên do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt…
Tuy nhiên, qua hơn 10 năm thi hành, Luật xuất hiện một số quy định không còn phù hợp. Hiện nay, hòa giải viên nhận được thù lao hòa giải theo vụ việc 300.000-400.000 đồng, chỉ mang tính chất động viên.
Thực tế cho thấy những vụ việc tranh chấp phức tạp, đông người, hòa giải viên ở cơ sở chưa hòa giải được nhiều, do năng lực không đáp ứng, kiến thức pháp luật còn hạn chế. Đặc biệt, đối với các vụ tranh chấp đất đai, nguồn gốc, chính sách đất đai khá phức tạp, một số vụ thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết.
Quy định về quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên chưa bao quát toàn diện. Điều này khiến cho hòa giải viên còn e ngại, thiếu chủ động trong việc huy động các nguồn lực tư vấn chuyên môn hoặc mời người có uy tín phối hợp giải quyết các vụ việc phức tạp.
Ngoài ra, việc thiếu cơ chế gắn kết trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan Tòa án đã tạo ra điểm nghẽn trong quy trình công nhận kết quả hòa giải thành, làm giảm hiệu lực thi hành của các biên bản hòa giải và ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các bên tranh chấp.
7 chương trình hành động của MTTQ Việt Nam trong nhiệm kỳ mới được Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Hà Thị Nga khái quát khi trình bày dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, sáng 12/5.
Nhìn lại giai đoạn 2024-2026, bà Hà Thị Nga nhấn mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp, đoàn kết các tầng lớp nhân dân được đẩy mạnh với nhiều điểm mới. Chất lượng, hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội, thực hiện dân chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị được nâng cao.
Những kết quả này, theo bà Nga, khẳng định vai trò hạt nhân của MTTQ trong phát huy dân chủ, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Cùng với đó, MTTQ Việt Nam cũng đổi mới mạnh mẽ tổ chức bộ máy, nội dung phương thức hoạt động; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp.
Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ đã chủ động triển khai, sắp xếp tổ chức bộ máy, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và mô hình tổ chức mới...
Về phương hướng, mục tiêu và chương trình hành động của MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031, bà Hà Thị Nga cho biết MTTQ Việt Nam xác định tăng cường vai trò nòng cốt chính trị của MTTQ Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh nội sinh, khát vọng phát triển đất nước.
Theo bà, MTTQ Việt Nam đặt ra mục tiêu chung và 15 chỉ tiêu cụ thể có tính định lượng cao, đồng thời, triển khai 3 nhiệm vụ đột phá.
7 chương trình hành động cho nhiệm kỳ mới cũng được Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khái quát.
Chương trình 1 là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đổi mới công tác tuyên truyền; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển nền tảng Mặt trận số.
Chương trình 2 là đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội, thực hiện dân chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị.
Cùng với đó là nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội ngay từ khâu xây dựng, triển khai chính sách; xây dựng cơ chế theo dõi đến cùng việc giải quyết kiến nghị sau giám sát, phản biện xã hội.
Chương trình 3 là động viên các tầng lớp nhân dân thi đua học tập, lao động, sáng tạo, tham gia phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, bà Nga nhấn mạnh nhiệm vụ đổi mới mạnh mẽ việc xây dựng, phát động các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động theo hướng thực chất, dựa trên dữ liệu, số liệu và sự hài lòng của nhân dân.
Chương trình 4 là tham gia phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng xã hội số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống MTTQ Việt Nam.
Chương trình 5 là phát huy vai trò làm chủ, tinh thần tự quản của nhân dân, xây dựng khu dân cư đoàn kết, an toàn, ấm no, hạnh phúc.
Trong đó, bà Hà Thị Nga cho biết sẽ sớm cụ thể hóa danh mục mô hình tự quản phù hợp thực tế phong phú ở cơ sở, gắn với trách nhiệm và tiêu chí thi đua. “MTTQ sẽ phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng thí điểm mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa ở các địa phương trong cả nước”, bà Nga nhấn mạnh.
Chương trình 6 là thực hiện hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân, hợp tác quốc tế.
Chương trình 7 là đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; hoàn thiện, vận hành tổ chức bộ máy chuyên trách tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đi kèm với đó là tập trung kiện toàn tổ chức bộ máy của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp.
Sáng 20.4, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI sẽ thảo luận tại tổ về một số dự thảo nghị quyết, trong đó có nghị quyết thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương.
Theo dự thảo nghị quyết, thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên 12.737,18 km2 và quy mô dân số là 4.491.408 người của tỉnh Đồng Nai.
Thành phố Đồng Nai giáp TP.HCM, tỉnh Tây Ninh, Tỉnh Lâm Đồng và Vương quốc Campuchia.
Nghị quyết sẽ có hiệu lực thi hành từ 30.4.2026. Kể từ thời điểm này, thành phố Đồng Nai có 95 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 33 phường, 62 xã.
Trình bày tờ trình trước đó, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Thanh Bình cho hay, với việc thành lập thành phố Đồng Nai, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 7 thành phố và 27 tỉnh (giảm 1 tỉnh, tăng 1 thành phố).
Về trụ sở, trụ sở của thành phố Đồng Nai trực thuộc trung ương được giữ nguyên như hiện nay (phường Trấn Biên).
Về phương án sắp xếp kiện toàn tổ chức bộ máy, cơ bản giữ nguyên trạng tổ chức bộ máy tại các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị của tỉnh Đồng Nai hiện nay; thành lập mới các cơ quan, đơn vị theo quy định của Đảng, điều lệ của tổ chức và của pháp luật.
Về phương án sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, trước mắt giữ nguyên trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị của tỉnh Đồng Nai hiện nay; đồng thời tỉnh Đồng Nai đã có phương án, lộ trình thực hiện sắp xếp, bố trí nhân sự theo quy định bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền đô thị.
Theo Bộ trưởng Bộ Nội vụ, việc thành lập thành phố Đồng Nai sẽ tạo động lực phát triển mới không chỉ cho Đồng Nai mà còn đóng góp thiết thực cho khu vực miền Nam và cả nước.
Đây là bước chuyển căn bản về mô hình phát triển và mô hình quản trị địa phương nhằm đưa Đồng Nai trở thành đô thị lớn, có chức năng chia sẻ, liên kết, tương hỗ cùng phát triển với TP.HCM, đạt mục tiêu trở thành cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia, giữ vai trò là trung tâm kết nối kinh tế vùng và cửa ngõ hội nhập quốc tế.
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật - Tư pháp Phan Chí Hiếu cho hay, tỉnh Đồng Nai bảo đảm 5/5 điều kiện và 7/7 tiêu chuẩn thành lập thành phố trực thuộc trung ương theo quy định tại luật Tổ chức chính quyền địa phương và Nghị quyết số 112.
Cơ quan thẩm tra kiến nghị Quốc hội tán thành và thông qua nghị quyết về việc thành lập thành phố Đồng Nai. Đồng thời, đề nghị cấp ủy, chính quyền tỉnh Đồng Nai chỉ đạo khẩn trương hoàn thành quy hoạch đô thị, có kế hoạch, lộ trình cụ thể để khắc phục các tiêu chuẩn phân loại đô thị còn chưa đạt hoặc mới đạt ở mức 2 thấp để bảo đảm chất lượng đô thị.
Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị Đồng Nai quan tâm đến việc triển khai các dự án nhằm phát triển hệ thống đô thị vùng Đông Nam bộ đồng bộ, hiện đại, kết nối nhanh, giúp thành phố Đồng Nai thực sự trở thành đô thị lớn cấp vùng, chia sẻ, tương hỗ, cùng phát triển với các tỉnh, thành phố khác, tạo lập không gian kinh tế, đô thị của vùng.
Chính quyền tỉnh Đồng Nai cũng cần tiếp tục rà soát, có phương án xử lý hiệu quả các trụ sở, tài sản công dôi dư và kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế các cơ quan trong hệ thống chính trị của địa phương sau khi sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025 theo đúng các chỉ đạo, quy định của cấp có thẩm quyền.
Chiều 12/5, Hạt Kiểm lâm khu vực IX (Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi) thông tin, đàn chim tại đầm La Băng (xã Đình Cương, Quảng Ngãi) là cò nhạn, không phải sếu cổ đen quý hiếm.
Theo Hạt Kiểm lâm khu vực IX, ngày 8/5, đơn vị nhận được tin báo của người dân về một đàn chim di cư xuất hiện ở đầm La Băng. Khi lực lượng kiểm lâm có mặt tại hiện trường để xác minh, đàn chim đã rời khỏi đầm nước.
Qua làm việc với người dân địa phương, lực lượng chức năng được cung cấp một số hình ảnh chụp bằng điện thoại từ xa cùng thông tin mô tả sơ bộ. Từ các dữ liệu ban đầu này, kiểm lâm nhận định đàn chim này có thể là sếu cổ đen - loài nằm trong Sách Đỏ.
Ngày 12/5, đàn chim xuất hiện tại đầm La Băng nên Hạt Kiểm lâm khu vực IX đã theo dõi, dùng flycam (thiết bị bay không người lái) để ghi hình một cách rõ nét. Từ hình ảnh thu được, lực lượng kiểm lâm đối chiếu với tài liệu chuyên ngành, tham khảo ý kiến chuyên gia và xác định đàn chim này là cò nhạn (thuộc nhóm động vật thông thường), không phải sếu cổ đen như nhận định trước đó.