Đơn nguyên Rối loạn vận động – Đồng hành cùng người bệnh Parkinson

Nhà chức trách ấn định thời hạn trước ngày 18/5, đơn vị nhập khẩu phải báo cáo toàn bộ số lượng hàng đã nhập, bán ra và tồn kho để cơ quan chức năng có biện pháp xử lý triệt để.
Trước đó, ngày 2/5, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) thông báo hãng A2 Milk Company tự nguyện thu hồi ba lô sữa công thức bổ sung sắt dành cho trẻ 0-12 tháng tuổi. Đây là loại sản phẩm hộp thiếc lưu hành tại thị trường Mỹ, mang mã 2210269454 (hạn dùng 15/7/2026), 2210324609 (hạn dùng 21/1/2027) và 2210321712 (hạn dùng 15/1/2027). Nguyên nhân là nhà sản xuất phát hiện sản phẩm chứa cereulide - một loại độc tố bền nhiệt do vi khuẩn Bacillus cereus sinh ra, có khả năng gây hại nghiêm trọng cho trẻ nhỏ.
Độc tố này chịu nhiệt rất cao nên nước nóng pha sữa không thể tiêu diệt. Trẻ uống sữa chứa cereulide thường buồn nôn và nôn mửa trong 30 phút đến 6 giờ. Triệu chứng có thể tự thuyên giảm sau 24 giờ, nhưng nguy cơ mất nước rất cao, đòi hỏi phụ huynh đưa trẻ đến cơ sở y tế can thiệp ngay lập tức. Đến nay, nhà sản xuất chưa ghi nhận trường hợp trẻ em nào gặp vấn đề sức khỏe liên quan đến các lô sữa này.
A2 Milk Company nhận định một loại nguyên liệu trong công thức sữa đã mang theo vi khuẩn và sinh ra độc tố. Về vấn đề này, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) từng xác định dầu axit arachidonic (ARA) - thành phần phổ biến trong sữa công thức - là nguồn lây nhiễm chính gây ra nhiều đợt khủng hoảng an toàn thực phẩm đa quốc gia trước đây.
Nhằm bảo vệ sức khỏe trẻ em trong nước, Cục An toàn thực phẩm chỉ đạo các địa phương rà soát việc công bố và lưu hành sản phẩm, đồng thời tăng cường lấy mẫu kiểm nghiệm. Cơ quan quản lý cũng đề nghị các sàn thương mại điện tử, website bán hàng gỡ bỏ thông tin, ngừng kinh doanh mặt hàng thuộc diện cảnh báo, đồng thời khuyến cáo người dân dừng ngay việc sử dụng ba lô sữa nêu trên.
Tin Gốc: Vnexpress

Trong khi triglyceride tăng cao lại là dấu hiệu cảnh báo sớm các loại bệnh nguy hiểm như tim mạch, viêm tụy cấp, gan nhiễm mỡ, đái tháo đường, đột quỵ.
Tình trạng bệnh nhân nguy kịch do triglyceride gia tăng có ở nhiều bệnh viện.
Bệnh nhân Đ.C.T. (44 tuổi) nhập viện cấp cứu trong tình trạng đau tức vùng thượng vị, đau âm ỉ vùng mạn sườn trái và tăng dần theo thời gian. Bệnh nhân uống thuốc giảm đau nhưng không đỡ và xuất hiện cảm giác tức ngực, khó thở...
Kết quả xét nghiệm máu cho thấy chỉ số mỡ máu triglyceride của bệnh nhân lên tới 155,9 mmol/L - tăng gấp hơn 100 lần bình thường; mẫu huyết tương của bệnh nhân đục trắng như sữa - dấu hiệu điển hình của tình trạng tăng mỡ máu rất nặng.
"Triglyceride tăng gấp 100 lần bình thường là tình trạng cực kỳ hiếm và nguy hiểm, có thể dẫn đến hoại tử tụy, gây suy đa tạng, đe dọa tính mạng. May mắn, nhờ lọc máu liên tục 3 giờ, chỉ số mỡ máu của bệnh nhân đã giảm nhanh từ mức 155,9 xuống còn 5,3 mmol/L, và bệnh nhân đã được cứu sống", bác sĩ Lê Việt Long - khoa hồi sức tích cực (ICU) Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc - cho biết.
Gần đây tình trạng các bệnh nhân nguy kịch do triglyceride diễn ra ở khắp các bệnh viện. Đáng chú ý nhiều người nguy kịch do tăng triglyceride không phải do uống rượu mà do mỡ máu âm thầm phát triển trong cơ thể.
Tương tự, chỉ trong thời gian ngắn khoa cấp cứu - hồi sức tích cực và chống độc Trung tâm Y tế khu vực Yên Lập (Phú Thọ) đã tiếp nhận và điều trị thành công liên tiếp 5 trường hợp viêm tụy cấp do tăng triglyceride máu - một thể bệnh nguy hiểm, dễ diễn biến nặng.
Khi nhập viện, người bệnh đều có biểu hiện: đau bụng dữ dội vùng thượng vị, nôn nhiều, Amylase/Lipase tăng gấp 3 - 10 lần bình thường, triglyceride tăng cao 11 - 35 mmol/L (bình thường < 1,7 mmol/L). Trong đó có nhiều bệnh nhân là do tiền sử rối loạn mỡ máu.Bác sĩ Lê Việt Long ở trung tâm này cho biết viêm tụy cấp do tăng triglyceride xảy ra khi nồng độ triglyceride trong máu tăng quá cao, gây tổn thương và kích hoạt phản ứng viêm tại tuyến tụy. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, tình trạng này có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm như sốc viêm, suy đa cơ quan, thậm chí đe dọa tính mạng.Bác sĩ Đinh Minh Trí (Hội Tim mạch Việt Nam) thông tin rất nhiều người khi đi xét nghiệm máu hay khi nói đến bệnh tim mạch và đột quỵ thường quan tâm nhiều đến các chỉ số LDL, HDL và mức cholesterol toàn phần trong các xét nghiệm mỡ máu mà bỏ qua chỉ số triglyceride.
Tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho biết chỉ số triglyceride trong kết quả xét nghiệm lipid cũng rất cần chú ý, vì chúng cũng là thủ phạm gây xơ vữa động mạch và là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với bệnh tim mạch chuyển hóa và đột quỵ.Trong khi thực tế triglyceride tăng cao lại là dấu hiệu cảnh báo sớm của rối loạn chuyển hóa, có liên quan trực tiếp đến bệnh tim mạch, viêm tụy cấp nguy hiểm, gan nhiễm mỡ, kháng insulin và đái tháo đường. Điều đáng nói là triglyceride cao thường không có triệu chứng rõ ràng, nên nhiều người chủ quan cho đến khi bệnh tiến triển nặng.Bác sĩ Trí phân tích nồng độ triglyceride bình thường thấp hơn 150mg/dL, 150 - 199mg/dL là cao nhẹ, 200 - 499mg/dL được gọi là cao, và ở mức cao hơn 500mg/dL được gọi là rất cao. Tăng triglyceride máu và các rối loạn do tăng triglyceride máu gây ra thực sự khá nguy hiểm. Tăng triglyceride máu làm tăngnguy cơ mắc bệnh động mạch vành, dẫn đến góp phần vào việc tắc nghẽn các động mạch khác của cơ thể và cuối cùng sẽ dẫn đến một cơn đau tim hoặc cơn đột quỵ.Người bị bệnh đái tháo đường, bệnh thận hoặc suy giáp có nguy cơ cao khi kèm tăng triglyceride máu. Nồng độ triglyceride máu vượt quá 500mg/dL có thể dẫn đến bệnh viêm tụy cấp, đe dọa tính mạng.Tin Gốc: Tuổi TrẻSức Khỏe
Những sai lầm khiến tình trạng đau, 'đông cứng' khớp vai ngày càng nặng

PGS-TS, bác sĩ Lương Tuấn Khanh, Giám đốc Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, trung tâm tiếp nhận nhiều người bệnh đến khám, điều trị trong tình trạng đau do viêm quanh khớp vai.
Nguyên nhân viêm quanh khớp vai do tổn thương các cấu trúc mô mềm quanh khớp như gân, cơ, dây chằng, bao khớp, không liên quan trực tiếp đến tổn thương xương hay sụn khớp, chủ yếu ở phần mô mềm, nhưng lại gây ảnh hưởng rất lớn đến chức năng vận động.
Có 4 thể bệnh thường gặp, trong đó, thể đơn thuần thường do bệnh lý gân cơ; thể đau vai cấp; thể đông cứng do viêm dính, co thắt bao khớp, bao khớp dày, dẫn đến giảm vận động khớp ổ chảo - cánh tay; thể giả liệt do đứt gân cơ trên gai. Trong thực tế, các thể trên có thể kết hợp với nhau.
Các tổn thương thường gặp nhất trong viêm quanh khớp vai là tổn thương các gân cơ xoay gân cơ nhị đầu và bao thanh mạc dưới mỏm cùng vai.
Bệnh thường xuất phát từ 3 cơ chế chính: thoái hóa gân và chóp xoay theo tuổi; viêm bao hoạt dịch, viêm gân do vận động căng giãn gân cơ khớp vai lặp lại; co rút bao khớp (đông cứng khớp vai) gây hạn chế vận động.
Ngoài ra, những yếu tố như: lao động tay quá đầu (các hoạt động sử dụng cánh tay ở vị trí cao hơn vai, quá tầm đầu trong thời gian dài, hoặc lặp lại); chơi thể thao lặp đi lặp lại (tennis, golf, pickleball…), chấn thương hoặc phẫu thuật vùng vai, ít vận động hoặc bất động kéo dài đều có thể thúc đẩy bệnh tiến triển.
Về điều trị viêm quanh khớp vai, bác sĩ Khanh chia sẻ, nguyên tắc điều trị gồm 3 yếu tố chính: giảm đau, chống viêm; phục hồi tầm vận động khớp vai tăng sức mạnh cơ và ổn định khớp.
Trong đó, phục hồi chức năng và tập vận động là nền tảng quan trọng nhất, quyết định kết quả lâu dài, giúp người bệnh quay trở lại với các chức năng sinh hoạt bình thường.
Bệnh nhân cần được điều trị kết hợp: vật lý trị liệu (điện trị liệu và nhiệt trị liệu như: siêu âm trị liệu, điện xung, laser công suất cao, sóng xung kích, sóng ngắn; chương trình tập vận động trị liệu theo phác đồ cá thể hóa) và thuốc giảm đau, chống viêm khi cần.
"Điểm mấu chốt là không chỉ điều trị triệu chứng mà phục hồi chức năng vận động thực sự cho người bệnh", bác sĩ Khanh cho biết.
"Do triệu chứng ban đầu khá nhẹ, người bệnh thường nghĩ là đau cơ thông thường nên không đi khám. Ngoài ra, nhiều người ngại vận động vì sợ đau, điều này lại khiến khớp càng cứng hơn, tạo thành vòng xoắn bệnh lý", bác sĩ Khanh lưu ý.
Thạc sĩ vật lý trị liệu Nguyễn Thành Nam (Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai), chia sẻ thêm khi tham gia điều trị người bệnh thường sợ đau nên không muốn trị liệu, tập vận động, ngại hoặc bỏ dở tập giữa chừng, khiến bệnh kéo dài hoặc nặng hơn.
Với mỗi người, khi áp dụng vật lý trị liệu cũng như tập vận động phục hồi chức năng, kỹ thuật viên sẽ cài đặt, điều chỉnh các phương pháp vật lý trị liệu, thiết kế bài tập phù hợp với từng giai đoạn và theo dõi phản ứng của người bệnh, điều chỉnh cường độ tập.
Người bệnh cần tập vận động đúng hướng dẫn và duy trì luyện tập đều đặn; không bỏ tập giữa chừng, tập quá sức; không tự ý tập theo mạng.

