Sáng 21-4, Quốc hội tiếp tục thảo luận ở hội trường về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.
Đại biểu Thạch Phước Bình (đoàn Vĩnh Long) cho biết chia sẻ trong tiến trình cải cách chính sách tiền lương, việc điều chỉnh mức lương cơ sở không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn là yếu tố quyết định trực tiếp đến đời sống, động lực làm việc và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã có những bước điều chỉnh tích cực khi nâng mức lương cơ sở từ 1,49 triệu đồng lên 1,8 triệu đồng rồi 2,34 triệu đồng/tháng và dự kiến tiếp tục tăng lên 2,53 triệu đồng từ ngày 1-7-2026.
“Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay không còn có tăng hay không mà là tăng ở mức nào để vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách, đồng thời tạo động lực phát triển khu vực công”, ông Bình đặt vấn đề.
Đại biểu đoàn Vĩnh Long đánh giá mức 2,53 triệu đồng/tháng từ 1-7-2026 là bước tăng hợp lý về mặt kỹ thuật nhưng chưa đủ mạnh để bảo đảm cuộc sống cho đa số người làm khu vực công.
Mức này chỉ tăng khoảng 8,12% so với 2,34 triệu đồng hiện hành, tức là cao hơn lạm phát bình quân năm 2025 là 3,63% và cũng cao hơn mức CPI bình quân quý 1-2026 là 3,51%, nên về danh nghĩa và khả năng thực tế, người hưởng lương ngân sách có thêm một phần thu nhập dương.
Đồng thời, ông Bình cho rằng: “Mức tăng này khá gần với nhịp tăng lương tối thiểu vùng năm 2026 của khu vực doanh nghiệp khoảng 7,2%. Tuy nhiên, mức này chưa đủ để người khu vực công sống được bằng lương, nhất là đối với người mới vào nghề, người không có nguồn thu bổ sung và người làm việc ở đô thị lớn”.
Đại biểu đoàn Vĩnh Long dẫn ví dụ, một công chức mới vào nghề với hệ số 1,86 chỉ đạt khoảng 4,7 triệu đồng/tháng trước khi trừ bảo hiểm, trong khi chi phí sinh hoạt tối thiểu tại đô thị phổ biến từ 6 – 7 triệu đồng một tháng.
Điều này cho thấy một khoảng cách đáng kể giữa thu nhập và nhu cầu sống cơ bản. Hệ quả người lao động khó sống độc lập bằng lương, phải phụ thuộc vào nguồn thu nhập bổ sung, giảm động lực và chất lượng cuộc sống.
Do đó có thể khẳng định mức 2,53 triệu đồng chỉ đạt mục tiêu ổn định, chưa đạt mục tiêu bảo đảm đời sống.
Mặt khác, từ ngày 1-7-2026, lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp đã lên 5,31 triệu đồng ở vùng 1, tăng 4,73 triệu đồng ở vùng 2, tăng 4,14 triệu đồng ở vùng 3, tăng 3,7 triệu đồng ở vùng 4. Bình quân 4 vùng là khoảng 4,47 triệu đồng/tháng.
Nếu lấy mức lương cơ sở mới 2,53 triệu nhân với hệ số khởi điểm thấp thường gặp 1,86, tiền lương theo công thức cũ chỉ khoảng 4,7 triệu đồng/tháng. Với hệ số 2,1 thì khoảng 5,3 triệu đồng/tháng.
Ngay trong năm 2025, nhiều nhóm chi phí thiết yếu tăng nhanh hơn CPI chung, như nhà ở, điện, nước và vật liệu xây dựng tăng 8,3%, còn thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,92%. Điều này rất quan trọng vì đây là các khoản chi “khó né” của hộ gia đình công chức, viên chức.
“Vì vậy dù lương cơ sở tăng 8,12%, cảm nhận thực tế của nhiều người vẫn có thể là đỡ hơn trước chứ chưa đạt mức an tâm, nhất là khi còn nuôi con, thuê nhà, đi lại, học hành và chăm sóc y tế”, ông Bình nói.
Theo đại biểu Thạch Phước Bình, từ các phân tích thực tiễn về thu nhập và chi phí sống, mức 2,65 – 2,7 triệu đồng/tháng, tăng khoảng 13 – 15% so với mức lương cơ sở hiện hành, nổi lên như một phương án hợp lý và khả thi hơn trong giai đoạn hiện nay.
Về mặt thu nhập thực tế, với mức này, người có hệ số 1,86 có thể đạt khoảng 4,9 – 5 triệu đồng một tháng; người có hệ số 2,1 đạt khoảng 5 – 5,5 triệu đồng/tháng. So với mức 2,53 triệu đồng, thu nhập tăng thêm khoảng 200.000 – 400.000 đồng/tháng.
Đây là mức tăng có ý nghĩa rõ rệt đối với nhóm có thu nhập thấp. Quan trọng hơn, mức này giúp thu hẹp khoảng cách với lương tối thiểu vùng của khu vực doanh nghiệp, giảm áp lực thiếu hụt chi tiêu thiết yếu.
Về mặt đời sống và tâm lý, mức tăng lên 2,65 – 2,7 triệu đồng tuy chưa thể bảo đảm hoàn toàn sống được bằng lương ở đô thị lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng, giúp người lao động giảm phụ thuộc vào nguồn thu nhập ngoài lương.
Việc này cũng tạo cảm nhận rõ ràng về sự cải thiện thu nhập thay vì chỉ tăng danh nghĩa, góp phần ổn định tâm lý và nâng cao động lực làm việc. Đặc biệt, trong bối cảnh các mặt hàng thiết yếu như nhà ở, y tế, điện, nước tăng nhanh hơn CPI chung, việc tăng lương ở mức đủ lớn để cảm nhận được là hết sức cần thiết.
Về mặt cân đối ngân sách, mức 2,65 – 2,7 triệu đồng/tháng có ưu điểm không tạo áp lực quá lớn lên ngân sách nhà nước, có thể thực hiện nếu đi kèm tinh giản biên chế, cơ cấu lại chi tiêu công, giảm các khoản chi kém hiệu quả. Điểm mấu chốt là đạt được sự cân bằng giữa khả năng chi trả và yêu cầu cải thiện đời sống.
“Tóm lại, việc nâng lương cơ sở lên 2,53 triệu đồng là cần thiết nhưng chưa đủ để giải quyết căn bản bài toán đời sống người làm việc trong khu vực công. Trong điều kiện hiện nay, mức 2,65 – 2,7 triệu đồng/tháng là phương án tối ưu về tổng thể, vừa bảo đảm tính khả thi, vừa tạo được bước cải thiện thực chất, đồng thời mở đường cho các bước cải cách sâu hơn trong thời gian tới”, ông Bình nói.
Thông tin được ghi nhận tại báo cáo thị trường lao động quý 1 của Trung tâm Dịch vụ việc làm TP HCM (Sở Nội vụ). Nhu cầu tuyển dụng vượt khả năng cung ứng của thị trường, song doanh nghiệp vẫn hướng đến nhóm lao động trẻ hơn.
Từ dữ liệu của trụ sở chính và các điểm tiếp nhận, trung tâm ghi nhận hơn 52.600 người có nhu cầu tìm việc, trong khi doanh nghiệp cần tuyển tới 82.700 vị trí. Thị trường ở trạng thái "cầu vượt cung", nhưng phân bổ không đồng đều giữa các nhóm tuổi, trình độ và ngành nghề.
Nhóm 36–49 tuổi dẫn đầu nguồn cung với gần 21.000 người, tương đương gần 40%, cao hơn cả nhóm 25–35 tuổi, gần 38%.
Trong khi đó, phía nhà tuyển dụng, ở các vị trí yêu cầu độ tuổi, nhu cầu tuyển dụng dành riêng cho nhóm 36–49 tuổi chỉ ở mức 0,32%. Doanh nghiệp vẫn ưu tiên lao động trẻ 18–35 tuổi, với trên 41%.
Phân tích nguyên nhân, bà Nguyễn Văn Hạnh Thục, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm TP HCM, cho biết nhóm lao động trung niên chiếm tỷ lệ cao trong số người tìm việc chủ yếu là những người đã tích lũy kinh nghiệm, có xu hướng chuyển việc để cải thiện thu nhập hoặc môi trường làm việc.
Trong khi đó, phân khúc thị trường đang thiếu nhân lực nhiều nhất lại là lao động phổ thông, chiếm hơn 33%, tương đương hơn 27.600 vị trí. Doanh nghiệp cũng không đặt nặng trình độ khi tới 82% nhu cầu tuyển dụng không yêu cầu bằng cấp hoặc chỉ từ trung học phổ thông trở xuống. Nhu cầu chủ yếu đến từ các khu công nghiệp, khu chế xuất, nơi ưu tiên lao động trẻ, dễ thích nghi với điều kiện sản xuất.
Sự lệch pha cung – cầu này khiến không ít lao động trung niên gặp khó khăn, bởi dù có kinh nghiệm. Nhiều người không còn phù hợp với nhu cầu mới, nhất là ở các ngành sản xuất, kỹ thuật đòi hỏi kỹ năng thực hành và khả năng tiếp cận công nghệ.
Tuy nhiên, theo bà Thục, đây chưa hẳn là tín hiệu đáng lo. Với nhóm lao động có kinh nghiệm và trình độ, cơ hội việc làm vẫn đến từ các mối quan hệ cá nhân hoặc kênh tuyển dụng riêng. Ngoài ra, Trung tâm Dịch vụ việc làm TP HCM ghi nhận hơn 58% vị trí, tương đương khoảng 48.000 việc làm, không giới hạn độ tuổi, mở ra cơ hội cho lao động trung niên.
Một số ngành như sản xuất, cơ khí, bảo trì, vận hành máy vẫn thiếu nhân lực tay nghề cao, phù hợp với nhóm lao động giàu kinh nghiệm. Lĩnh vực bán hàng, dịch vụ cũng có khả năng tiếp nhận lao động phổ thông thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn.
Dự báo trong quý 2, nhu cầu tuyển dụng tiếp tục dao động 60.000-75.000 vị trí khi doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất. Tuy nhiên, nguồn cung có thể giảm nhẹ do người lao động có xu hướng ưu tiên ổn định sau giai đoạn biến động đầu năm.
Ngày 15.5, thông tin từ Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa cho biết, Phòng 3 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa cùng với lực lượng của Công an tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện quyết định khởi tố vụ án, khởi tố các bị can, bắt tạm giam đối với các bị can Trịnh Thị Vân Anh (43 tuổi, ngụ P.Hàm Rồng, Thanh Hóa), Giám đốc Công ty TNHH du lịch và vận tải Vân Anh (trụ sở tại đường Nguyễn Chí Thanh, P.Hàm Rồng); và Nguyễn Thị Thanh Ngần (44 tuổi, ngụ P.Hạc Thành, Thanh Hóa), để điều tra về tội trốn thuế, quy định tại khoản 3 điều 200 bộ luật Hình sự.
Công ty TNHH du lịch và vận tải Vân Anh là chủ của thương hiệu xe khách Vân Anh chuyên chạy tuyến Thanh Hóa - Hà Nội và ngược lại.
Kết quả điều tra ban đầu của Công an tỉnh Thanh Hóa xác định, các năm 2024 - 2025, bà Trịnh Thị Vân Anh đã chỉ đạo bà Nguyễn Thị Thanh Ngần theo dõi doanh thu ngoài sổ sách, chuyển tiền về tài khoản cá nhân và xuất hóa đơn giá trị gia tăng thấp hơn doanh thu thực tế để trốn thuế tổng số tiền hơn 34,6 tỉ đồng.
Nhà xe Vân Anh ban đầu được biết đến với hoạt động vận chuyển hành khách bằng xe limousine hạng thương gia, loại xe 9 và 16 chỗ ngồi. Những năm gần đây, nhà xe Vân Anh mở rộng quy mô bằng việc tăng hàng trăm xe giường nằm hạng sang, mở các chi nhánh ở nhiều địa bàn tại tỉnh Thanh Hóa để chuyên chạy tuyến Thanh Hóa - Hà Nội và ngược lại.
Trong quá trình hoạt động, nhà xe Vân Anh nhiều lần lập bến tự phát, dừng đỗ trả khách không đúng quy định trên địa bàn thành phố Thanh Hóa cũ.
Nội dung được nêu trong dự thảo nghị quyết của HĐND thành phố về hỗ trợ phát triển hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng năng lượng sạch, giao thông phi cơ giới; hỗ trợ chuyển đổi phương tiện từ nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng sạch và hạn chế phương tiện phát thải gây ô nhiễm môi trường.
Theo dự thảo, từ ngày 1/1/2035, UBND thành phố sẽ quyết định lộ trình, phạm vi hạn chế lưu thông trên một số tuyến đường, làn đường, chiều đường và khung giờ phù hợp điều kiện thực tế.
Sở Xây dựng - cơ quan tham mưu xây dựng dự thảo - cho biết việc xác định phạm vi hạn chế phương tiện giao thông cá nhân sẽ căn cứ khả năng đáp ứng của vận tải hành khách công cộng trong khu vực như đường sắt đô thị, xe buýt, xe đạp công cộng... Khi nhu cầu đi lại của người dân được đáp ứng, các chuyến đi được thay thế kịp thời và không bị gián đoạn, thành phố mới xem xét áp dụng hạn chế.
Khu vực hạn chế phương tiện cũng phải đáp ứng các điều kiện về hạ tầng giao thông, tổ chức và phân luồng giao thông, hệ thống giám sát để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.
Theo dự thảo, chậm nhất 12 tháng trước mỗi giai đoạn áp dụng hạn chế, UBND TP Hà Nội sẽ công bố công khai bản đồ phạm vi hạn chế, lộ trình thực hiện, gói hỗ trợ chuyển đổi phương tiện và phương án đi lại thay thế cho người dân.
Dự thảo cũng đưa ra lộ trình hạn chế phương tiện giao thông đường bộ sử dụng nhiên liệu hóa thạch trong hoạt động kinh doanh vận tải.
Với xe máy kinh doanh vận tải, gồm cả phương tiện sử dụng ứng dụng kết nối vận tải, đơn vị cung cấp nền tảng phải đảm bảo tỷ lệ phương tiện sử dụng điện hoặc năng lượng sạch đạt 20% trước ngày 1/1/2027, 50% trước ngày 1/1/2028 và 100% trước ngày 1/1/2030.
Với taxi và ôtô chở người đến 8 chỗ kinh doanh vận tải, gồm cả xe sử dụng ứng dụng kết nối, tỷ lệ phương tiện sử dụng năng lượng sạch phải đạt 50% trước ngày 1/1/2028 và 100% trước ngày 1/1/2030. Từ ngày 1/7/2026, taxi và ôtô dưới 9 chỗ đầu tư mới bắt buộc sử dụng năng lượng sạch hoặc năng lượng xanh.
Hà Nội có khoảng 8,1 triệu phương tiện cơ giới đường bộ, trong đó 1,1 triệu ôtô (chiếm 13,6%) và khoảng 7 triệu xe môtô, xe gắn máy (chiếm 86,7%), chưa kể khoảng 1,2 triệu phương tiện cơ giới đường bộ từ các tỉnh, thành phố khác trong cả nước tham gia giao thông tại Thủ đô. Trong khoảng 7 triệu xe môtô và xe gắn máy có 95% phương tiện sử dụng xăng.