Sáng 21.4, Quốc hội tiếp tục thảo luận về tình hình kinh tế – xã hội năm 2026 và giai đoạn 2026 – 2030.
Đại biểu Lê Thị Ngọc Linh (đoàn Cà Mau) trình bày những lo lắng về vấn đề già hóa dân số; tỷ suất sinh giảm xuống dưới mức thay thế.
Bà Linh dẫn chứng số liệu trong báo cáo cho thấy tổng tỷ suất sinh của Việt Nam hiện chỉ còn khoảng 1,91 con/phụ nữ, thấp hơn mức sinh thay thế là 2,1 con. Đây là dấu hiệu cho thấy quy mô gia đình ngày càng thu nhỏ, số trẻ em sinh ra không đủ để duy trì quy mô dân số ổn định trong dài hạn.
Năm 2022, mức sinh tương đối ổn định quanh mức thay thế gần 2,1 con. Đến năm 2023 khoảng 1,96 con trên phụ nữ. Đến năm 2024 giảm xuống còn 1,91 con trên phụ nữ. Những con số cho thấy xu hướng giảm nhanh trở lại trong 2 năm gần đây, trong đó tỷ lệ sinh ở thành thị thấp hơn ở vùng nông thôn.
Bên cạnh đó, theo bà Linh, Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn dân số vàng sang dân số già với tốc độ nhanh. Tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên ngày càng tăng trong khi lực lượng lao động trẻ có xu hướng giảm mạnh.
Từ thực trạng đó, bà Linh đề xuất cần tiếp tục điều chỉnh chính sách dân số theo hướng chuyển mạnh từ kế hoạch hóa gia đình sang duy trì mức sinh thay thế một cách bền vững.
Trong đó cần phân vùng chính sách rõ ràng, tập trung ưu tiên các địa phương có mức sinh thấp, đô thị lớn, khu công nghiệp, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con, coi đây là trách nhiệm xã hội gắn với phát triển bền vững của đất nước.
Kế đó, Nhà nước cần có các chính sách hỗ trợ tài chính thiết thực dài hạn cho các gia đình sinh con và nuôi con nhỏ, như hỗ trợ chi phí sinh con, chăm sóc trẻ em, mở rộng chính sách miễn giảm chi phí y tế cho trẻ em, đồng thời cần có chính sách thuế ưu đãi đối với hộ gia đình nuôi con nhỏ.
Cùng đó, tập trung đầu tư phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc trẻ em đồng bộ, chất lượng, mở rộng mạng lưới nhà trẻ, trường mầm non, đặc biệt tại khu đô thị, khu công nghiệp, phát triển các dịch vụ trông trẻ ngoài giờ, dịch vụ chăm sóc trẻ linh hoạt. Có chính sách hỗ trợ nhà ở, tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập cho các cặp vợ chồng trẻ, giúp họ yên tâm lập gia đình và sinh con.
Bà Linh cũng đề nghị đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục, nhằm thay đổi nhận thức xã hội về hôn nhân, khuyến khích kết hôn và sinh con đúng độ tuổi, giảm xu hướng trì hoãn hôn nhân và sinh con trong giới trẻ hiện nay.
Đồng thời cần chuyển mạnh sang chính sách khuyến sinh chủ động, đồng bộ và dài hạn, lấy gia đình và phụ nữ làm trung tâm, tôn trọng quyền lựa chọn sinh con nhưng tạo môi trường thuận lợi để người dân muốn sinh con và có thể sinh con.
Cạnh đó, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến dân số, lao động, an sinh xã hội, bình đẳng giới theo hướng đồng bộ và thống nhất.
Giữa trưa, bà Nguyễn Thị Phúc, 67 tuổi, cùng nhiều người mang xô chậu ra trước nhà, chắt chiu từng giọt nước từ đường ống dẫn từ ga Diêu Trì. Sau gần nửa giờ, những hộ ở đầu xóm chỉ hứng được nửa xô, đủ nấu ăn.
Theo bà Phúc, người dân mua nước từ ga với giá 5.000 đồng mỗi m3, nhưng hai năm nay nguồn cấp chập chờn, thường xuyên bị cắt, đặc biệt vào mùa khô. Cả xóm có ba giếng nhưng đều cạn nước. Nhiều hộ phải mua nước can giá 3.000-5.000 đồng, còn quần áo phải mang đi giặt thuê.
"Có khi 3-4h sáng mới có nước, người dân phải thức cả đêm chờ", bà nói, thêm rằng nước bị nhiễm phèn nặng khiến quần áo ố vàng, thiết bị gia dụng nhanh hỏng.
Cách đó vài chục mét, ông Hà Văn Tâm, 72 tuổi, cho biết khu dân cư hình thành từ các hộ cán bộ, công nhân ngành đường sắt từ năm 1978. Khu này từng do ngành đường sắt quản lý, sau đó bàn giao về địa phương, nhưng nhiều vấn đề hạ tầng chưa được giải quyết dứt điểm.
Theo ông Tâm, do nằm trong khu vực có nguy cơ sạt lở núi, chính quyền từng đề xuất di dời, tái định cư. Tuy nhiên, kế hoạch kéo dài nhiều năm khiến người dân rơi vào tình trạng "bị bỏ quên", thiếu điện, nước và các điều kiện sinh hoạt cơ bản.
Không có nguồn nước ổn định, khoảng 50 hộ gia đình ở thôn Vân Hội 2 không thể sử dụng máy giặt, máy lọc nước.
Bà Nguyễn Thị Bích Phượng, Phó chủ tịch UBND xã Tuy Phước, cho biết trước đây địa phương đã đầu tư hệ thống cấp nước cho các khu lân cận. Tuy nhiên, riêng thôn Vân Hội 2 gặp vướng mắc do hệ thống đường sắt chia cắt, chưa thể đấu nối trực tiếp; phương án đi vòng phát sinh chi phí lớn nên chưa triển khai.
Sau khi sáp nhập, xã đang làm việc với các đơn vị liên quan, trong đó có công ty cấp nước, để tìm hướng tháo gỡ.
Bà Lê Thị Vinh Hương, Bí thư Đảng ủy xã, cho biết vướng mắc kéo dài do yếu tố lịch sử qua nhiều giai đoạn quản lý. Chính quyền sẽ kiểm tra thực tế để đưa ra giải pháp, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho người dân.
Giải trình trước Quốc hội về dự thảo Nghị quyết phát triển văn hóa việt Nam sáng 22/4, Bộ trưởng Văn hóa Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết dự thảo quy định lấy ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.
Trong ngày này, các dịch vụ tham quan tại cơ sở văn hóa thể thao công lập sẽ miễn hoặc giảm phí, lệ phí cho người dân. Đồng thời, Nhà nước khuyến khích nhân dân, chủ yếu là thanh niên, thiếu niên tham gia các hoạt động văn hóa nhân các ngày lễ lớn của dân tộc và đất nước.
Bộ trưởng cho hay mục đích của Ngày Văn hóa việt Nam nhằm chăm lo, đảm bảo cho nhân dân được tiếp cận, tham gia thụ hưởng văn hóa, đồng thời nâng cao khả năng cảm thụ văn hóa của người dân, đặc biệt là thanh thiếu niên. Ngoài quy định các đơn vị công lập miễn, giảm phí, lệ phí cho nhân dân trong ngày này, Bộ sẽ tiếp thu ý kiến đại biểu, đề xuất thêm cơ chế khuyến khích cơ sở tư nhân tham gia.
Trước đó thảo luận về dự thảo Nghị quyết, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Đỗ Đức Hồng Hà cho rằng chính sách miễn, giảm phí dịch vụ cho người dân tham quan các cơ sở văn hóa, du lịch, thể thao trong Ngày Văn hóa Việt Nam "là quyết sách mang tính biểu tượng quốc gia mạnh mẽ, tác động sâu rộng".
Theo ông Hà, chủ trương cho phép người lao động nghỉ lễ có hưởng lương không chỉ tôn vinh giá trị văn hóa mà còn trực tiếp tạo ra điểm rơi kích cầu tiêu dùng văn hóa, thúc đẩy du lịch nội địa.
Ông Hà đề xuất cùng với miễn giảm phí trong các cơ sở công lập, Nghị quyết cần bổ sung cơ chế khuyến khích cơ sở văn hóa, giải trí thuộc khu vực tư nhân cùng tham gia chiến dịch giảm giá, từ đó tạo thành "ngày hội kích cầu công nghiệp văn hóa trên toàn quốc".
Đảm bảo tối thiểu 2% tổng chi ngân sách cho Văn hóa
Theo Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh, Nghị quyết phát triển văn hóa nhằm giải quyết hai vấn đề lớn là tháo gỡ điểm nghẽn, khó khăn, vướng mắc trong phát triển văn hóa và huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển văn hóa.
Dự thảo được xây dựng theo nguyên tắc những chính sách "đã rõ, đã chín", đảm bảo khả thi, có sự đồng thuận cao thì đưa vào ngay; đồng thời đề xuất Quốc hội giao Chính phủ quy định chi tiết các vấn đề cần có sự điều hành linh hoạt, vấn đề mới cần thí điểm, ban hành chính sách đặc thù.
Dự thảo Nghị quyết quy định hằng năm ngân sách đảm bảo tối thiểu 2% tổng chi ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn lực xã hội để phát triển văn hóa. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đang phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan, địa phương để xác định rõ cơ cấu của việc chi 2% ngân sách, đảm bảo đúng mục tiêu và đúng ưu tiên trọng tâm.
"Chúng tôi đã xây dựng và thực hiện các cơ chế chính sách đặc thù cho văn hóa các dân tộc thiểu số, phát triển không gian bảo tồn văn hóa làng, bản, buôn truyền thống gắn với phát triển du lịch, phát huy vai trò chủ thể văn hóa để tạo sinh kế bền vững", bà Thanh nói.
Tại dự thảo, Chính phủ bổ sung quy định về Quỹ Văn hóa nghệ thuật được thí điểm thành lập theo mô hình hợp tác công tư. Đây là quỹ đầu tư mạo hiểm, hoạt động theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận rủi ro, đảm bảo công khai, minh bạch. Bộ trưởng Thanh nhấn mạnh đây là cơ chế phù hợp với đặc thù đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nguồn vốn của Quỹ gồm vốn nền từ ngân sách; nguồn đối ứng xã hội từ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân; nguồn bổ sung như tài trợ quốc tế hoặc nguồn thu hợp pháp khác.
Trong đó, ngân sách Nhà nước sẽ là vốn mồi để khuyến khích tư nhân tham gia. Chính phủ sẽ xây dựng các tiêu chí đánh giá rủi ro, cơ chế chấp nhận rủi ro để hoàn thiện mô hình này, đảm bảo hoạt động hiệu quả, không lãng phí.
Những ngày qua, ao nuôi tôm sú 2 ha của ông Hữu Minh Út (xã Tân Lộc) chết khoảng một nửa khi mới 70 ngày tuổi. Nắng khiến nước bốc hơi nhanh, môi trường thay đổi đột ngột làm tôm yếu dần rồi chết lan rộng.
"Nếu thuận lợi, hai tháng nữa tôi có thể thu khoảng 50 triệu đồng, nay gần 10 triệu tiền đầu tư coi như mất", ông nói.
Tại xã Đất Mới, anh Đặng An Hưng cho biết tình trạng cua chết sau Tết lặp lại nhiều năm nay khi nắng kéo dài. Một tháng trước, cua nuôi trong vuông tôm hơn 4 ha bắt đầu chết rải rác rồi lan rộng, đến nay gần như mất trắng, thiệt hại hàng chục triệu đồng.
Theo người nuôi, thời tiết nóng gay gắt làm tảo phát triển mạnh; khi tảo chết khiến môi trường nước biến động, tạo điều kiện cho dịch bệnh phát sinh.
Tình trạng này xảy ra ở nhiều nơi trong tỉnh khi Cà Mau bước vào vụ nuôi chính năm 2026, với diện tích thả nuôi tăng nhanh, riêng tôm hơn 422.000 ha.
Thống kê cho thấy, từ đầu năm đến nay có hơn 1.300 ha thủy sản bị thiệt hại, phần lớn trên 70%, cao hơn cùng kỳ. Trong đó, tôm nuôi công nghiệp và bán công nghiệp thiệt hại gần 247 ha; tôm nuôi truyền thống gần 97 ha; cua hơn 390 ha. Dịch xuất hiện tại hơn 50 xã, chủ yếu ở giai đoạn nuôi 20–80 ngày.
Cơ quan chuyên môn cho biết khoảng 59% diện tích thiệt hại do thời tiết cực đoan; phần còn lại do các bệnh phổ biến trên tôm và ký sinh trên cua.
Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu UBND tỉnh triển khai kế hoạch phòng chống dịch; cử cán bộ lấy mẫu, hướng dẫn xử lý ao, khử trùng và cải tạo môi trường. Ngành chức năng cũng khuyến cáo điều chỉnh lịch thả nuôi, áp dụng mô hình nuôi nhiều giai đoạn để giảm rủi ro.
Tỉnh đồng thời đề nghị Trung ương hỗ trợ 50 tấn Chlorine từ nguồn dự trữ quốc gia để xử lý môi trường ao nuôi, kiểm soát dịch bệnh.