Ngày 7.4, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng cho biết đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt tạm giam đối với Nguyễn Lê Duy Dũng (53 tuổi, trú phường Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng) để điều tra về hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị can này được xác định đã giăng bẫy góp vốn mua đất “ma”, gây thiệt hại nghiêm trọng cho bị hại.
Theo kết quả điều tra ban đầu, do cần tiền tiêu xài cá nhân, Dũng lợi dụng mối quan hệ quen biết để rủ anh N.T.V. (35 tuổi, trú thành phố Đà Nẵng) góp vốn mua một thửa đất tại phường An Hải với giá 800 triệu đồng, dù thửa đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau khi nhận tiền góp, Dũng không thực hiện việc mua bán như cam kết mà sử dụng vào mục đích cá nhân. Đến tháng 8.2019, Dũng tiếp tục đưa ra thông tin gian dối, đề nghị bán lại phần mình đã góp vốn cho anh V. với giá 1,2 tỉ đồng.
Chưa dừng lại, ngày 24.10.2019, Dũng tiếp tục hứa hẹn sẽ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất với tổng giá trị 1,3 tỉ đồng, cam kết hoàn tất trong vòng 2 tháng. Tin tưởng, từ năm 2019 đến 2020, anh V. nhiều lần giao tiền cho Dũng với tổng số tiền 1,1 tỉ đồng để “làm sổ đỏ”.
Sau những lần nhận tiền, Dũng không thực hiện bất kỳ cam kết nào mà tiếp tục chiếm đoạt. Cơ quan điều tra xác định, tổng số tiền Dũng chiếm đoạt của bị hại trong vụ giăng bẫy góp vốn mua đất “ma” là 2,7 tỉ đồng.
Hiện Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đang tiếp tục củng cố hồ sơ, mở rộng điều tra để xử lý theo quy định pháp luật.

Đây là nội dung tại hồ sơ thẩm định dự án Luật Hòa giải ở cơ sở sửa đổi vừa được Bộ Tư pháp công bố. Một trong những chính sách lớn của dự án Luật là hoàn thiện cơ chế lựa chọn và nâng cao chất lượng hòa giải viên ở cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, mỗi tổ hòa giải có từ 3 hòa giải viên trở lên. Chủ tịch UBND cấp xã quyết định số lượng tổ hòa giải, hòa giải viên trong một tổ căn cứ vào đặc điểm, tình hình địa phương.
Theo quy định hiện hành, tiêu chuẩn hòa giải viên là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, có phẩm chất đạo đức tốt, uy tín trong cộng đồng, khả năng thuyết phục, vận động và hiểu biết pháp luật.
Tại dự án Luật mới, Bộ Tư pháp đề xuất bỏ mô hình tổ hòa giải, thành lập các Trung tâm hòa giải cộng đồng tại cấp xã. Hòa giải viên phải có bằng tốt nghiệp đại học, có chứng chỉ nghề nghiệp và được chính quyền cấp xã tuyển dụng.
Bộ cho biết việc lựa chọn hòa giải viên gắn với trình độ học vấn, bằng cấp và đánh giá năng lực phù hợp với đặc thù địa bàn và từng loại vụ việc. Chính sách này học tập theo mô hình hòa giải của Singapore và Australia. Giải pháp nhằm chuyên nghiệp hoạt động hòa giải ở cơ sở, xử lý ngay tại cơ sở những tranh chấp, bất đồng trên cơ sở pháp luật, bảo đảm tối cao tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật.
Dự án Luật cũng nêu rõ hòa giải viên có trách nhiệm giải trình đối với chất lượng vụ việc hòa giải. Cơ chế đánh giá định kỳ hòa giải viên được thiết lập trên cơ sở kết quả hòa giải, mức độ tín nhiệm của cộng đồng và việc chấp hành quy định pháp luật, qua đó tạo động lực nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải.
Về cơ chế hỗ trợ tài chính, ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của Trung tâm hòa giải ở cộng đồng, bao gồm cơ sở vật chất và chi phí bộ máy hoạt động.
Hòa giải ở cơ sở là cơ chế giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ ngay trong cộng đồng dân cư thông qua sự tham gia của những người có uy tín như tổ trưởng dân phố, trưởng thôn, hội phụ nữ, cựu chiến binh hoặc các hòa giải viên được địa phương công nhận.
Luật Hòa giải ở cơ sở hiện hành hiệu lực từ năm 2014. Từ tháng 01/2014 đến tháng 12/2025, cả nước tiếp nhận 906.763 vụ, việc hòa giải, trung bình 90.676 vụ, việc/năm. Trong đó, vụ hòa giải thành công là 735.785/906.763 vụ, đạt tỷ lệ 80,22%. Một số tỉnh có tỷ lệ hòa giải thành cao như Lào Cai (88,46%); Tây Ninh (88,32%); Tuyên Quang (87,27%); Đồng Tháp (85,84%); Lai Châu (85,80%); TP HCM (85,24%); An Giang (85,17%); Quảng Ngãi (84,96%).
Thông qua công tác hòa giải ở cơ sở, những tranh chấp, bất đồng phát sinh được giải quyết kịp thời, hạn chế đáng kể tình trạng khiếu kiện ra cơ quan nhà nước, khiếu kiện vượt cấp. Công tác hòa giải ở cơ sở cũng góp phần quan trọng giữ gìn, vun đắp tình làng, nghĩa xóm, xây dựng cộng đồng dân cư yên bình, hạnh phúc.
Bộ Tư pháp cho biết hầu hết mâu thuẫn, tranh chấp được hòa giải chủ yếu phát sinh trong các lĩnh vực đất đai, dân sự; hôn nhân và gia đình. Một số vụ việc phát sinh mâu thuẫn giữa các bên do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt...
Tuy nhiên, qua hơn 10 năm thi hành, Luật xuất hiện một số quy định không còn phù hợp. Hiện nay, hòa giải viên nhận được thù lao hòa giải theo vụ việc 300.000-400.000 đồng, chỉ mang tính chất động viên.
Thực tế cho thấy những vụ việc tranh chấp phức tạp, đông người, hòa giải viên ở cơ sở chưa hòa giải được nhiều, do năng lực không đáp ứng, kiến thức pháp luật còn hạn chế. Đặc biệt, đối với các vụ tranh chấp đất đai, nguồn gốc, chính sách đất đai khá phức tạp, một số vụ thiếu cơ sở pháp lý để giải quyết.
Quy định về quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên chưa bao quát toàn diện. Điều này khiến cho hòa giải viên còn e ngại, thiếu chủ động trong việc huy động các nguồn lực tư vấn chuyên môn hoặc mời người có uy tín phối hợp giải quyết các vụ việc phức tạp.
Ngoài ra, việc thiếu cơ chế gắn kết trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan Tòa án đã tạo ra điểm nghẽn trong quy trình công nhận kết quả hòa giải thành, làm giảm hiệu lực thi hành của các biên bản hòa giải và ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các bên tranh chấp.
Tin Gốc: Vnexpress

Phát biểu tại phiên thảo luận tổ về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội sáng 10/4, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026, cần triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp và tạo ra kết quả cụ thể.
Ông cho rằng một trong những trọng tâm là thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân. Khi khu vực này duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số, nền kinh tế mới có thể đạt mức tăng trưởng tương ứng. Cùng với đó, cần hình thành thêm nhiều tập đoàn tư nhân lớn đủ năng lực đảm nhận các dự án quy mô quốc gia.
Dẫn chứng thực tế, ông nêu nhiều công trình lớn do doanh nghiệp tư nhân thực hiện đã bảo đảm tiến độ và chất lượng, trong khi các dự án do Nhà nước triển khai thường mất 3-4 năm để hoàn tất thủ tục. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để phát huy hiệu quả nguồn lực tư nhân.
Chủ tịch Quốc hội đề nghị chuyển mạnh mô hình tăng trưởng sang dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết 57. Trong đó, ứng dụng trí tuệ nhân tạo là yếu tố quan trọng nâng cao hiệu quả quản lý, xây dựng pháp luật và kiểm soát dữ liệu, kể cả trong hoạt động của Quốc hội.
Đối với điều hành vĩ mô, ông đề nghị Chính phủ linh hoạt, chủ động ứng phó với các yếu tố bên ngoài như xung đột quốc tế; đồng thời bảo đảm tăng trưởng cao đi kèm kiểm soát lạm phát và thực hiện chính sách tài khóa mở rộng có trọng tâm.
Chủ tịch Quốc hội cũng đồng tình định hướng của Thủ tướng Lê Minh Hưng về việc tập trung vốn đầu tư công cho các dự án lớn có tính lan tỏa, tránh dàn trải và cơ chế "xin - cho". Ông đề nghị đẩy nhanh xử lý các dự án tồn đọng, công trình trọng điểm để nâng cao hiệu quả đầu tư.
Trước yêu cầu tăng trưởng cao trong 5 năm tới, ông đề xuất cải cách theo hướng "năm hóa", gồm số hóa, xanh hóa, tối ưu hóa nguồn lực, thông minh hóa quản trị và hài hòa hóa lợi ích. Việc phát triển kinh tế cần gắn với bảo đảm công bằng xã hội, chú trọng giáo dục, y tế, đào tạo nghề và tạo việc làm.
Ông cũng đề nghị quản lý thay đổi theo hướng giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm. Cùng với đó là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo hướng địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm; Trung ương giữ vai trò kiến tạo và giám sát.
Ông cho biết Quốc hội sẽ tập trung quyết định các dự án lớn mang tính quốc gia như điện hạt nhân Ninh Thuận, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP HCM, thay vì phân bổ các khoản vốn nhỏ lẻ.
Ông nhấn mạnh tầm nhìn năm 2026 là không lãng phí một ngày, không chậm trễ một tuần, không bỏ lỡ cơ hội trong một tháng và không bị động trong một năm. Trách nhiệm phải được làm rõ cho từng cơ quan, địa phương để công việc trôi chảy, tránh tình trạng cán bộ sáng cắp ô đi chiều cắp ô về mà không có sản phẩm.
Đại biểu Nguyễn Thị Tuyến, Phó bí thư Đảng ủy Chính phủ, cho rằng để đạt tăng trưởng hai con số cần các giải pháp đột phá, trong đó có khai thác hiệu quả kinh tế biển. Bà đề nghị tận dụng lợi thế đường bờ biển dài, phát triển hệ thống 36 cảng biển và logistics, tạo động lực tăng trưởng và việc làm.
Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel Tào Đức Thắng thì đề xuất mở rộng không gian phát triển ra thị trường quốc tế để duy trì tăng trưởng hai con số. Theo ông, kinh nghiệm của Viettel cho thấy tăng trưởng từ thị trường nước ngoài chiếm 60-70%, giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô và duy trì đà phát triển dài hạn.
Ông cũng kiến nghị nâng cao hiệu quả đầu tư công theo hướng tiếp cận như doanh nghiệp, chú trọng đánh giá hiệu quả sau đầu tư. Đồng thời đề nghị hoàn thiện cơ chế xử lý tranh chấp đầu tư quốc tế, bổ sung quy định về đối tượng khởi kiện nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của Việt Nam khi tham gia thị trường toàn cầu.
Sơn Hà

UBND tỉnh Lâm Đồng vừa có báo cáo tiến độ cùng các khó khăn, vướng mắc của dự án thủy điện tích năng Đơn Dương, đồng thời đề xuất hướng tháo gỡ.
Theo UBND tỉnh Lâm Đồng, dự án được quy hoạch cách phường Xuân Hương - Đà Lạt khoảng 20 km về phía đông - nam. Hồ trên đặt tại phường Xuân Trường, còn hồ dưới sử dụng hồ Đơn Dương hiện hữu của Nhà máy thủy điện Đa Nhim. Tổng diện tích sử dụng đất dự kiến hơn 212,4 ha, trong đó đất sử dụng lâu dài 138,4 ha.
Sở Công thương tỉnh Lâm Đồng cho biết, về kỹ thuật, đây là nhà máy thủy điện tích năng kiểu ngầm, gồm các hạng mục chính như hồ trên, tuyến năng lượng (đường hầm dẫn nước, ống áp lực, tháp điều áp, hầm xả), nhà máy ngầm và hệ thống đấu nối lưới điện 500 kV.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công thương, EVN đã giao tư vấn J-Power (Nhật Bản) làm tư vấn chính, phối hợp với các đơn vị liên quan khảo sát, lập hồ sơ báo cáo nghiên cứu khả thi. Tuy nhiên, EVN đang tiếp tục khảo sát, tính toán lại một số nội dung.
Ngày 11.8.2025, EVN báo cáo UBND tỉnh Lâm Đồng đã tối ưu hóa phương án tuyến và bố trí tổng thể mặt bằng, nhằm giảm tối đa diện tích sử dụng đất lâu dài cho dự án. Hiện EVN đang thẩm tra trước khi trình UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư.
Mới đây, ngày 5.2, EVN cùng đoàn công tác của Ngân hàng Thế giới đã làm việc với UBND tỉnh Lâm Đồng để tìm hiểu quy trình lựa chọn nhà đầu tư, phê duyệt dự án và các nội dung liên quan, phục vụ công tác chuẩn bị đầu tư dự án thủy điện tích năng Đơn Dương.
Theo UBND tỉnh Lâm Đồng, khó khăn lớn nhất hiện nay nằm ở sự không thống nhất về quy mô công suất.
Cụ thể, tại Quy hoạch điện 7 và Quy hoạch điện 7 điều chỉnh được Chính phủ phê duyệt, dự án được phê duyệt với công suất 1.200 MW và giao EVN làm chủ đầu tư.
Tuy nhiên, trong Quy hoạch điện 8, dự án lại được xác định công suất 900 MW (tổ máy số 1 công suất 300 MW vận hành giai đoạn 2026 - 2030; tổ máy số 2 và 3 công suất 600 MW vận hành giai đoạn 2031 - 2035), đồng thời không xác định rõ chủ đầu tư.
Một cán bộ Sở Công thương tỉnh Lâm Đồng cho biết, EVN hiện lập hồ sơ theo quy mô 1.200 MW, trong khi cơ quan quản lý địa phương phải căn cứ theo quy hoạch mới là 900 MW. Sự "lệch pha" này khiến tỉnh chưa thể tiếp nhận hồ sơ do thiếu căn cứ pháp lý để thẩm định.
Ngoài ra, dự án thủy điện tích năng Đơn Dương còn đối mặt với nhiều thách thức khác như: yêu cầu đánh giá chi tiết điều kiện địa chất khu vực hồ trên và tuyến hầm; phương án đấu nối lưới điện 500 kV; bài toán cân đối nguồn vốn đầu tư lớn; cũng như cơ chế lựa chọn nhà đầu tư khi chưa xác định rõ hình thức triển khai.
Để tháo gỡ, UBND tỉnh Lâm Đồng kiến nghị Bộ Công thương và các cơ quan liên quan sớm có văn bản hướng dẫn thống nhất quy mô công suất chính thức của dự án. Đây được xem là điều kiện tiên quyết để hoàn thiện hồ sơ, trình chủ trương đầu tư và triển khai các bước tiếp theo.
Đồng thời, cần sớm xác định cơ chế đầu tư (EVN tiếp tục làm chủ đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư khác), làm rõ nguồn vốn và phương thức huy động, trong đó có thể xem xét sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới.
Theo đánh giá của tỉnh Lâm Đồng, khi được triển khai, dự án thủy điện tích năng Đơn Dương sẽ góp phần phát triển hạ tầng năng lượng, tạo việc làm trong giai đoạn xây dựng và vận hành, đồng thời thúc đẩy đầu tư vào các lĩnh vực liên quan như giao thông, dịch vụ và công nghiệp hỗ trợ.
Theo các chuyên gia, dự án thủy điện tích năng Đơn Dương được xác định là hạ tầng kỹ thuật quan trọng, góp phần điều tiết hiệu quả hệ thống điện.
Khác với thủy điện truyền thống, thủy điện tích năng Đơn Dương vận hành theo cơ chế bơm - tích - phát. Cụ thể, nhà máy tận dụng nguồn điện dư vào giờ thấp điểm để bơm nước lên hồ trên, sau đó phát điện trở lại vào giờ cao điểm khi nhu cầu tăng cao.
Khi hoàn thành, thủy điện tích năng Đơn Dương sẽ đóng vai trò điều tiết phụ tải cho hệ thống điện khu vực phía nam, đặc biệt trong bối cảnh tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng tăng nhanh.
Công trình không chỉ giúp tận dụng hiệu quả nguồn điện dư vào giờ thấp điểm, mà còn góp phần giảm áp lực vận hành, nâng cao độ ổn định và an toàn cho lưới điện.
Tin Gốc: Thanh Niên

