Gần 1 tháng qua, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới liên tục giảm. Từ mức trên 30 triệu đồng/lượng cuối tháng 3, mức chênh giảm còn khoảng 24 – 26 triệu đồng/lượng đầu tháng 4.
Giữa tháng 4, chênh lệch thu hẹp về vùng 19 – 22 triệu đồng/lượng. Chốt tuần này, mức chênh chỉ còn hơn 18 triệu đồng/lượng.
TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, chênh lệch giá vàng thu hẹp nhanh trong thời gian ngắn phản ánh sự thay đổi đồng thời ở cả hai phía: tâm lý thị trường và cấu trúc cung – cầu nội địa.
Mức chênh lệch 28 – 30 triệu đồng/lượng trước đây phần lớn là “phí tâm lý” khi nhu cầu nắm giữ vàng trong dân tăng mạnh trong giai đoạn bất ổn. Khi tâm lý tích trữ giảm xuống, phần “phí tâm lý” này sẽ co lại nhanh hơn nhiều so với tốc độ biến động của giá vàng thế giới.
Quan trọng là lực cầu trong nước hiện nay đang suy yếu rõ rệt. Người dân không còn tâm lý mua đuổi khi giá neo cao quá lâu, trong khi các kênh đầu tư khác dần hấp dẫn trở lại.
Khi cầu giảm, các doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh giá bán về gần hơn với giá thế giới để kích giao dịch. Đây là yếu tố kỹ thuật khiến chênh lệch bị nén lại.
“Cạnh đó, cơ quan quản lý thời gian qua liên tục phát tín hiệu kiểm soát thị trường vàng chặt chẽ hơn. Khi thị trường nhận thấy rủi ro chính sách gia tăng, xu hướng đầu cơ, găm giữ vàng cũng giảm. Điều này làm giá vàng trong nước khó duy trì mức cao bất thường như trước”, ông Nhân nói.
Theo chuyên gia vàng Trần Duy Phương, từ đầu tháng 4 trở lại đây, trên thị trường vàng xuất hiện những diễn biến đáng chú ý. Ví dụ, có những ngày, bất chấp giá vàng thế giới tăng, giá vàng trong nước lại giảm.
Ngoài ra, khoảng cách giá mua vào và bán ra nhiều thời điểm được kéo giãn tới 3,5 – 4 triệu đồng/lượng, trong khi thông thường chỉ khoảng 2 triệu đồng/lượng. Điều đó chứng tỏ, lực mua trên thị trường yếu hơn lực bán.
Yếu tố khác được ông Phương đề cập là mới đây, Ngân hàng Nhà nước đã công bố danh sách 11 đơn vị xin cấp phép sản xuất vàng miếng, mở ra khả năng gia tăng nguồn cung. Sắp tới, dù chỉ vài tấn vàng được bổ sung ra thị trường cũng có thể góp phần giải tỏa tâm lý găm giữ vàng.
Xét bối cảnh hiện tại, ông Phương dự báo, trong 2 – 3 tháng tới, chênh lệch giá vàng có thể giảm về mức 12 – 13 triệu đồng/lượng, bất kể xu hướng tăng hay giảm của vàng quốc tế.
“Nếu giá vàng thế giới tăng, cầu yếu sẽ khiến giá vàng trong nước tăng chậm hơn, qua đó tự động thu hẹp khoảng cách giá. Ngược lại, nếu giá vàng thế giới đi ngang hoặc giảm, giá vàng trong nước sẽ có xu hướng giảm nhanh hơn nhằm kích thích nhu cầu mua, cũng khiến chênh lệch tiếp tục thu hẹp”, ông Phương phân tích.
Về triển vọng đầu tư dài hạn, cả ông Nhân và ông Phương đều chung nhận định, 2026 không phải là năm “sáng cửa” của vàng.
Ông Nhân lý giải, trên thế giới, giá vàng đã phản ánh phần lớn các rủi ro: lãi suất cao kéo dài, xung đột địa chính trị, bất ổn tài chính.
Nghĩa là biên độ tăng thêm của vàng không còn quá lớn như giai đoạn trước, trong khi rủi ro điều chỉnh lại hiện hữu nếu các ngân hàng T.Ư bắt đầu nới lỏng chính sách tiền tệ và đồng USD suy yếu theo hướng có kiểm soát.
Trong nước, giá vàng neo cao thời gian dài, chênh lệch giá với thế giới dù đã giảm song vẫn ở mức khá cao, thanh khoản thực tế giảm sút. Người mua mới sẽ đối diện rủi ro rất lớn về giá mua – bán và khả năng “mắc kẹt” nếu thị trường điều chỉnh. Nói cách khác, vàng hiện nay không thuận lợi cho mục tiêu sinh lời ngắn hạn lẫn trung hạn.
Trong khi đó, mặt bằng lãi suất huy động có xu hướng nhích lên, chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng ổn định, kiểm soát lạm phát tốt. Tiền gửi tiết kiệm vì vậy trở lại đúng vai trò truyền thống là kênh giữ giá trị an toàn, thanh khoản cao.
“Nhà đầu tư cá nhân cần thay đổi tư duy: không chạy theo “tài sản nóng”, mà ưu tiên quản trị rủi ro. Vàng vẫn có thể nắm giữ như một phần nhỏ trong danh mục để phòng ngừa bất trắc, nhưng không nên là kênh đầu tư chính.
Phần lớn dòng tiền nên được phân bổ vào các kênh ổn định như tiết kiệm, trái phiếu chất lượng, hoặc chờ đợi cơ hội rõ ràng hơn từ chứng khoán và bất động sản khi nền kinh tế phục hồi rõ nét”, ông Nhân khuyến cáo.
Theo ông Phương, từ nay tới cuối năm, nhà đầu tư có thể kết hợp đầu tư giữa vàng và gửi tiết kiệm với tỷ lệ 5 : 5 hoặc 4 : 6 nhằm tối ưu hiệu quả, kiểm soát rủi ro. Nên chọn gửi tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng, sau đó đánh giá lại tình hình để đưa ra quyết định tiếp theo.
Theo dự thảo Nghị định hướng dẫn luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, cá nhân kinh doanh; chủ hộ kinh doanh; chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp; người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sẽ thuộc trường hợp áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh khi: không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký; có số tiền thuế nợ từ 1 triệu đồng trở lên; sau 30 ngày kể từ ngày cơ quan thuế thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh mà vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế.
Cục Thuế đánh giá, đây là quy định thu hẹp phạm vi áp dụng so với hiện hành, không phải siết chặt hơn.
Theo số liệu tổng hợp, có hơn 50% người nộp thuế ở trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng.
Nghị định 49/2025/NĐ-CP hiện không quy định ngưỡng nợ tối thiểu, do đó, chỉ cần phát sinh khoản nợ thuế quá hạn, dù nhỏ, người nộp thuế vẫn thuộc diện xem xét tạm hoãn xuất cảnh nếu không khắc phục sau thông báo.
Việc bổ sung ngưỡng từ 1 triệu đồng trở lên nhằm xử lý bất cập đối với các khoản nợ rất nhỏ phát sinh do sai sót kỹ thuật, chậm cập nhật dữ liệu hoặc các nguyên nhân khách quan.
Nếu tiếp tục áp dụng cơ chế không có ngưỡng như hiện hành, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh có thể tác động đến số lượng lớn người nộp thuế vì các khoản nợ rất nhỏ, trong khi hiệu quả thu hồi ngân sách không tương xứng.
Theo Cục Thuế, một số ý kiến chỉ nhìn vào con số 1 triệu đồng để đánh giá mức ngưỡng thấp hay cao. Thực tế, trường hợp này không đơn thuần là nợ thuế.
Người nộp thuế thuộc trạng thái "không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký" là trường hợp đã vi phạm nghĩa vụ duy trì thông tin đăng ký thuế chính xác, gây khó khăn cho công tác quản lý, kiểm tra và thu hồi nợ thuế. Đây là hành vi làm gián đoạn kết nối quản lý giữa cơ quan nhà nước với người nộp thuế.
Do đó, việc áp dụng biện pháp quản lý đối với nhóm đối tượng này không chỉ dựa trên số tiền nợ, mà còn xuất phát từ yêu cầu bảo đảm tính tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa tình trạng bỏ địa chỉ kinh doanh để né tránh nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Nói cách khác, ngưỡng 1 triệu đồng không phải là thước đo duy nhất, mà là điều kiện bổ sung trong tổng thể các dấu hiệu vi phạm đã được xác định.
Cục Thuế nhấn mạnh, tạm hoãn xuất cảnh không được áp dụng ngay khi phát sinh nợ thuế. Theo dự thảo, chỉ sau khi người nộp thuế đã được xác định thuộc trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đăng ký; cơ quan thuế đã gửi thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh; quá 30 ngày kể từ ngày thông báo mà vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì biện pháp này mới được xem xét áp dụng.
Khoảng thời gian 30 ngày là khoảng đệm hợp lý để người nộp thuế kiểm tra, đối chiếu thông tin, thực hiện nộp tiền hoặc liên hệ cơ quan thuế xử lý vướng mắc.
Thực tiễn triển khai cho thấy, đã có khoảng 7.100 người nộp thuế chủ động liên hệ cơ quan thuế để hoàn thành nghĩa vụ và được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh.
Trước đó, với đề xuất nêu trên, một số chuyên gia thuế cho rằng, ngưỡng nợ thuế tối thiểu 1 triệu đồng là quá thấp, cần nghiên cứu kỹ lưỡng, có cơ sở để đưa ra ngưỡng phù hợp hơn.
Đề nghị được nhiều chuyên gia nhắc tới là, trường hợp người nộp thuế ra đến cửa khẩu mới biết bị tạm hoãn xuất cảnh vì nợ thuế, cơ quan chức năng nghiên cứu có một tài khoản nhận tiền nộp thuế ngay tại chỗ để nhanh chóng giải quyết khó khăn cho người nộp thuế...
Điều 13, Nghị định 133/2026/NĐ-CP quy định về mức phạt tiền đối với vi phạm các quy định về sử dụng điện, cụ thể như sau:
Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với hành vi cản trở người có thẩm quyền kiểm tra việc sử dụng điện.
Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: sử dụng phương tiện, thiết bị và hành vi khác làm hư hỏng, gây sự cố hệ thống điện của bên bán điện; sử dụng điện sai mục đích có mức giá cao hơn mức giá đã thoả thuận trong hợp đồng; không thông báo cho bên bán điện khi giảm số hộ sử dụng điện dùng chung công tơ hoặc giảm định mức sử dụng điện sinh hoạt hoặc kê khai không đúng số người sử dụng điện để cấp định mức sử dụng điện sinh hoạt nhiều hơn thực tế.
Phạt tiền từ 5-8 triệu đồng đối với hành vi tự ý lắp đặt, đóng, cắt, sửa chữa, di chuyển, thay thế các thiết bị điện và công trình điện của bên bán điện.
Phạt tiền từ 8-10 triệu đồng đối với hành vi tự ý đóng điện dùng khi công trình sử dụng điện của bên mua điện chưa nghiệm thu; khi đang trong thời gian bị ngừng cấp điện do vi phạm quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 10-14 triệu đồng đối với hành vi sử dụng thiết bị (phương tiện) đo đếm điện không được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo quy định của pháp luật về đo lường.
Phạt tiền đối với hành vi trộm cắp điện dưới mọi hình thức như sau: phạt tiền từ 4-10 triệu đồng đối với hành vi trộm cắp điện với giá trị sản lượng điện trộm cắp dưới 1 triệu đồng; phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với hành vi trộm cắp điện với giá trị sản lượng điện trộm cắp từ 1 triệu đồng đến dưới 2 triệu đồng.
Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt.
Phạt tiền từ 60-80 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm của khách hàng sử dụng điện lớn sau đây: sử dụng trang thiết bị sử dụng điện, trang thiết bị đấu nối không đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để đấu nối vào lưới điện quốc gia; không thực hiện các lệnh thao tác của cấp điều độ có quyền điều khiển; không thực hiện cắt điện, giảm mức tiêu thụ điện khi có yêu cầu của bên bán điện do sự cố bất khả kháng; không thực hiện đầu tư các thiết bị đo đếm điện, hệ thống thu thập và quản lý số liệu đo đếm điện theo quy định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác nhưng không trái với quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định, khi phát hiện hành vi trộm cắp điện với giá trị sản lượng điện trộm cắp từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 173, Bộ luật Hình sự thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển hồ sơ vi phạm đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại điểm c khoản 11 Điều 13, Nghị định 133/2026/NĐ-CP quy định về biện pháp khắc phục hậu quả: buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính (bao gồm cả mọi chi phí phát sinh do hành vi vi phạm gây ra) để hoàn trả cho cá nhân, tổ chức bị chiếm đoạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 7 Điều này.
Người cho thuê nhà phải hoàn trả cho người thuê nhà số tiền đã thu thừa cộng với lãi suất do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp không xác định được cá nhân, tổ chức để hoàn trả thì nộp toàn bộ số tiền chênh lệch vào ngân sách Nhà nước.
Như vậy, từ ngày 25/5, nếu người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt thì sẽ bị phạt tiền từ 20-30 triệu đồng, buộc hoàn trả cho người thuê nhà số tiền đã thu thừa cộng với lãi suất do hai bên thoả thuận trong hợp đồng và thẩm quyền lập biên bản và xử phạt hành chính là Chủ tịch UBND cấp xã.
Cụ thể, khoản 7, điều 13 của Nghị định 133 quy định, phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt.
Hình thức phạt bổ sung là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính (bao gồm cả mọi chi phí phát sinh do hành vi vi phạm gây ra) để hoàn trả cho cá nhân, tổ chức bị chiếm đoạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 7 điều 13 nói trên. "Người cho thuê nhà phải hoàn trả cho người thuê nhà số tiền đã thu thừa cộng với lãi suất do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp không xác định được cá nhân, tổ chức để hoàn trả thì nộp toàn bộ số tiền chênh lệch vào ngân sách nhà nước", Nghị định 133 nêu.
Như vậy, mức phạt mới đối với người cho thuê nhà thu tiền điện người thuê cao 3 lần so với mức phạt hiện tại đang áp dụng theo Nghị định 134/2013. Tại khoản 6 điều 12 của Nghị định 134 (17.10.2013) quy định, phạt tiền từ 7 - 10 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn giá quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt; phạt tiền từ 10 - 15 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn giá quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Ngoài hành vi thu tiền điện sai giá, Nghị định cũng quy định nhiều mức xử phạt khác trong lĩnh vực điện lực. Chẳng hạn, kê khai sai số người để hưởng định mức bị phạt 3 - 5 triệu đồng; tự ý lắp đặt hoặc can thiệp hệ thống điện bị phạt 5 - 8 triệu đồng; các vi phạm nghiêm trọng khác có thể lên tới 60 - 80 triệu đồng.
Ngoài ra, điều 12 Nghị định 133 cũng quy định về vi phạm các quy định về bán lẻ điện. Cụ thể, phạt tiền tổ chức là đơn vị bán lẻ điện từ 10 - 30 triệu đồng đối với hành vị: Không ký hợp đồng mua bán điện sau 7 ngày làm việc mà không có lý do chính đáng kể từ khi bên mua điện phục vụ mục đích sinh hoạt đã bảo đảm các điều kiện theo quy định và thỏa thuận về các nội dung trong dự thảo hợp đồng; sử dụng thiết bị đo đếm điện không được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo quy định của pháp luật về đo lường.
Phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng nghề nghiệp để sách nhiễu các tổ chức, cá nhân sử dụng điện nhằm mục đích vụ lợi.
Phạt đơn vị bán lẻ điện từ 40 - 50 triệu đồng đối với một trong các hành vi bán điện mà không có hợp đồng mua bán điện với khách hàng sử dụng điện hoặc bán điện cho khách hàng sử dụng điện khi hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt đã hết hiệu lực mà chưa được gia hạn.
Phạt đơn vị bán lẻ điện từ 50 - 60 triệu đồng đối với các hành vi: Bán sai giá điện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; giao kết hợp đồng mua bán điện khi bên mua điện không bảo đảm một trong các điều kiện theo quy định.
Phạt đơn vị bán lẻ điện từ 150 - 180 triệu đồng đối với hành vi xuất, nhập khẩu điện mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.