Tại khu vực thủ phủ vải thiều Lục Ngạn cũ (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), nhiều nông dân lo lắng, đứng ngồi không yên do thời tiết không thuận lợi, tỉ lệ ra hoa thấp hơn so với năm trước.
Là hộ có 2ha vải thiều, trong đó 70% xuất khẩu đi Nhật Bản, ông Ngô Văn Hùng – nông dân hợp tác xã Thanh Hải, phường Chũ (tỉnh Bắc Ninh) – cho hay lượng hoa chỉ đạt 50-70% so với mọi năm.
Tranh thủ nắng ráo, ông cùng vợ khoanh vùng các cây khỏe, ra hoa đúng lúc để chăm sóc. “Chăm cây bận hơn chăm con”, ông Hùng bày tỏ.
Để đáp ứng quy định xuất khẩu, cán bộ nông nghiệp sẽ cấp cho gia đình mã quét để ghi chép lượng nước, thuốc bảo vệ thực vật. Tất cả đều rõ ràng từ chủng loại, thời điểm, số lượng theo quy chuẩn khắt khe nhất.
Năm trước, giá vải thiều xuất bán từ vườn nhà ông Hùng khoảng 25.000 – 27.000 đồng/kg. Do thời tiết không thuận lợi, ông mong giá bán năm nay cao hơn để đủ chi phí chăm sóc, bõ công sức cả mùa vụ.
Theo ông Phạm Hồng Long – Chủ tịch UBND phường Chũ – qua nắm bắt trên địa bàn, vải chính vụ ước khoảng 10 – 15% ra hoa, còn vải lai Thanh Hà khoảng 40% ra hoa. Ngược lại, vải u hồng được mùa, đạt 80 – 85%.
Trước thực trạng này, phường và cơ quan chức năng tăng cường hướng dẫn bà con chăm sóc tốt các khu vực ra hoa, đảm bảo giữ chất lượng, mẫu mã trái vải.
Cách đó hơn 60km, tại xã Phúc Hòa (tỉnh Bắc Ninh), anh Nguyễn Văn Cường tất bật chăm sóc vải thiều. Là hộ tham gia chương trình “vườn vải đẹp”, gia đình tuân thủ kỹ thuật trồng trọt theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn, qua đó tỉ lệ đậu quả đạt gần 80%.
Cụ thể, gia đình chủ động cải tạo vườn, chặt bỏ cây già cỗi, duy trì mật độ cây vừa phải, lắp thêm hệ thống tưới nước tiết kiệm… Các mã số vùng trồng được đăng ký xuất khẩu đi Mỹ, Nhật Bản và châu Âu được khoanh vùng, chăm sóc kỹ lưỡng.
“Trồng vải thiều giờ đây không chỉ để bán mà còn hướng tới du lịch trải nghiệm nên gia đình xác định tuân thủ đúng quy trình từ đầu vụ”, anh Cường cho hay.
Theo ông Đặng Văn Tặng – Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Bắc Ninh (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh), niên vụ vải năm 2026 diễn ra trong điều kiện thời tiết không thuận lợi.
Cụ thể, các tháng 11 và 12-2025 – thời điểm cây vải phân hóa mầm hoa – gặp điều kiện thời tiết ấm, độ ẩm cao dẫn tới tỉ lệ vải sớm chỉ đạt khoảng 60%, còn vải chính vụ đạt dưới 50%. Dự kiến, sản lượng vải thiều toàn tỉnh Bắc Ninh giảm khoảng 50% so với cùng kỳ năm 2025. Sản lượng ước khoảng 100.000 tấn.
Do vậy, chi cục đã tham mưu cấp có thẩm quyền thành lập các tổ vải thiều xuất khẩu gồm 21 cán bộ có kinh nghiệm, đồng thời phân công phụ trách các vùng vải trọng điểm, trực tiếp hướng dẫn nông dân và phối hợp với chính quyền cơ sở để sản xuất đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn. Ngành cũng tham mưu UBND tỉnh phối hợp các địa phương tổ chức bình tuyển vườn vải đẹp, lấy đó làm hạt nhân để tuyên truyền, nhân rộng trong các niên vụ tiếp theo.
Ông Lương Đức Long, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam, nêu khó khăn giảm phát thải của ngành này tại hội thảo về vật liệu xây dựng xanh do Bộ Xây dựng tổ chức chiều 5/5.
Theo ông Long, sản xuất xi măng không thể tiến tới lộ trình phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, bởi vướng giới hạn về kỹ thuật.
Xi măng gồm clinker, thạch cao và phụ gia như tro bay, xỉ lò cao... Trong đó, clinker chiếm tới 75-85%. Nguyên liệu này được tạo ra từ quá trình nung hỗn hợp đá vôi và đất sét ở nhiệt độ 1.450-1.500 độ C. "Sản xuất một tấn clinker thải tới 525 kg CO2. Không thể giảm thêm được", ông Long nói.
Xi măng, nhiệt điện và sắt thép được Thủ tướng thí điểm phân bổ hạn ngạch khí thải đầu năm nay, với tổng mức 243 triệu tấn CO2 cho 110 doanh nghiệp trong năm 2025. Trong đó, xi măng gồm 51 doanh nghiệp, ông Long cho biết ngành được giao gần 70 triệu tấn CO2. Quá trình phân bổ thí điểm kéo dài đến hết năm 2028, song song hình thành thị trường carbon trong nước. Tức là, họ chỉ còn ba năm trước khi chính thức bị siết hạn ngạch.
Trong khi ngành này khó giảm khí thải trong sản xuất clinker, phương án thu giữ carbon (CCS) không khả thi về mặt tài chính. Một tấn CO2 chôn lấp được báo giá 132 USD, cao gần gấp bốn lần giá xuất khẩu một tấn clinker thành phẩm. "Nếu mất số tiền trên để chôn lấp khí thải, chắc chắn ngành xi măng phải đóng cửa", ông Long nhấn mạnh.
Tuy nhiên, ngành này đang giảm được nhiên liệu hóa thạch trong hoạt động nung clinker, thay bằng rác thải. Đến nay, gần 20 doanh nghiệp đã đốt rác thay than, có bên đạt tỷ lệ thay thế tới 40%. Ông Long khuyến nghị việc giảm được khí methane (CH4) từ bãi rác nên được trừ vào hạn ngạch.
Bởi lẽ, nếu rác này không được nung ở nhà máy xi măng, chúng sẽ phát thải CH4, loại khí "siêu ô nhiễm" với mức gây nóng lên toàn cầu cao gấp 27 lần CO2. Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), ngành xi măng chiếm khoảng 7-8% tổng lượng phát thải khí nhà kính của Việt Nam. Việc thúc đẩy các giải pháp giảm phát thải trong lĩnh vực này sẽ đóng góp đáng kể vào việc thực hiện các mục tiêu khí hậu quốc gia.
Vật liệu xây dựng là ngành cung cấp đầu vào cơ bản cho phát triển kết cấu hạ tầng, đô thị, nhà ở, cũng là lĩnh vực tiêu tốn nhiều tài nguyên, năng lượng và phát thải lớn. Thứ trưởng Xây dựng Nguyễn Văn Sinh cho biết xanh hóa ngành này đã trở thành yêu cầu cấp thiết.
Thực tế, lĩnh vực vật liệu xây dựng đã ghi nhận những kết quả tích cực trong phát triển các sản phẩm xanh, tiết kiệm năng lượng. Ví dụ, thị trường sản phẩm vật liệu xây không nung từng bước được hình thành và phát triển, như gạch xi măng cốt liệu, bê tông khí chưng áp, bê tông bọt... Nhóm sản phẩm này giúp giảm sử dụng đất sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, hạn chế phát thải, đồng thời góp phần tái sử dụng tro, xỉ, thạch cao - chất thải từ các ngành công nghiệp khác.
Để thúc đẩy thị trường vật liệu xanh, Bộ Xây dựng đang hoàn thiện khung pháp lý về tiêu chuẩn. Ông Lê Văn Kế, Phó vụ trưởng Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), cho biết trong quý IV, Bộ dự kiến ban hành thông tư về dán nhãn năng lượng với vật liệu này, gồm chi tiết danh mục phải dán nhãn, trình tự thủ tục đăng ký. Nhãn này được kỳ vọng sẽ là "giấy thông hành" cho doanh nghiệp trên thị trường vật liệu xanh.
Thông báo thay đổi nhân sự được ACV công bố chiều 15/5, tức một ngày sau khi quyết định có hiệu lực.
Theo quyết định do Quyền Chủ tịch HĐQT Lê Văn Khiên ký, ông Nguyễn Đức Hùng sẽ giữ chức Quyền Tổng giám đốc cho đến khi cấp có thẩm quyền kiện toàn chức danh Tổng giám đốc.
Thông thường, tổng giám đốc sẽ phụ trách ban điều doanh nghiệp. Tuy nhiên, ghế tổng giám đốc tại ACV đã trống từ tháng 9/2024. Từ đó đến nay, công ty chỉ có Phó tổng giám đốc "phụ trách ban điều hành". Ông Hùng là người gần nhất giữ vị trí này từ đầu tháng 2.
Ông Hùng, sinh năm 1978, là Thạc sỹ Quản trị kinh doanh và Điện tử viễn thông.
ACV hiện có tổng tài sản hơn 90.500 tỷ đồng và vốn điều lệ gần 35.830 tỷ đồng. Bộ Tài chính là cổ đông lớn nhất với tỷ lệ sở hữu 95,4%.
Doanh nghiệp này có 25 chi nhánh, hầu hết là các cảng hàng không nội địa và quốc tế. Doanh nghiệp là chủ đầu tư dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành với tổng mức đầu tư khoảng 336.630 tỷ đồng, quy mô khoảng 5.000 ha.
ACV hiện chưa thông báo kế hoạch doanh thu và lợi nhuận năm nay. Trong báo cáo thường niên công bố tháng trước, ban lãnh đạo cho biết đang rà soát, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh để trình đại hội đồng cổ đông thông qua trong thời gian tới.
Ba tháng đầu năm, tổng công ty thu 6.860 tỷ đồng và lãi sau thuế 3.346 tỷ đồng, đều là mức cao nhất từ trước đến nay tính theo quý.
Tại buổi họp mặt nhà đầu tư tổ chức cuối tuần trước, ông Vũ Đăng Linh - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư Thế Giới Di Động (MWG) - cho biết chuỗi nhà thuốc An Khang sắp hòa vốn sau tái cấu trúc. Ban lãnh đạo đặt mục tiêu 2026 là năm đầu tiên chuỗi này có lãi và bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh hơn.
Theo ông Linh, thời gian qua, An Khang chủ động đóng các nhà thuốc hiệu quả kém để cải thiện doanh thu bình quân mỗi cửa hàng. Khoảng 55% doanh thu đến từ thuốc, còn lại là các mặt hàng ngoài thuốc (thực phẩm chức năng, thiết bị chăm sóc sức khỏe...). Họ cũng thay đổi danh mục sản phẩm, tối ưu không gian trưng bày và kiểm soát chi phí vận hành.
Năm ngoái, An Khang thu 2.200 tỷ đồng, giảm nhẹ so với cùng kỳ do số lượng cửa hàng bình quân thấp hơn khoảng 100 cơ sở. Khoản thu bình quân mỗi cửa hàng khoảng 550 triệu đồng một tháng, tăng 17% so với cùng kỳ. Theo ban lãnh đạo Thế Giới Di Động, số liệu này "minh chứng sự cải thiện về năng lực khai thác doanh thu trên mỗi điểm bán hiện hữu".
Tuy nhiên, trừ hết chi phí, chuỗi nhà thuốc này vẫn lỗ 111 tỷ đồng. Tổng cộng 4 gần nhất, chuỗi này lỗ trên 1.100 tỷ đồng.
Hồi đầu năm, ban lãnh đạo Thế Giới Di Động cho biết năm nay có kế hoạch mở mới khoảng 100 nhà thuốc. Tuy nhiên, ông Linh cho hay thời gian tới An Khang "mở rộng một cách thận trọng và chọn lọc" dù hoạt động đã vào guồng ổn định.
Doanh nghiệp ưu tiên tăng doanh số và kiểm soát chi phí vận hành từng cửa hàng, thay vì mở rộng ồ ạt. Doanh thu năm nay được kỳ vọng tăng 30%.
Thế Giới Di Động tham gia mảng bán lẻ dược phẩm từ năm 2018 khi đầu tư vốn vào Công ty cổ phần Bán lẻ An Khang, nhưng đến 2021 mới bắt đầu hợp nhất kết quả kinh doanh của chuỗi nhà thuốc này. Tính đến cuối năm ngoái, chuỗi có 382 cửa hàng, quy mô lớn thứ tư trong hệ thống bán lẻ của Thế Giới Di Động.
Trong báo cáo phân tích cuối tháng 3, nhóm phân tích Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) dự báo doanh thu của An Khang năm nay đạt 2.632 tỷ đồng, tăng hơn 19% so với cùng kỳ. Con số này dự kiến tăng thêm 13%, lên gần 3.000 tỷ đồng vào 2027.
Nhóm phân tích VDSC nhận định xu hướng mở mới thận trọng sẽ được duy trì để chuỗi nhà thuốc tập trung tăng doanh số cho mỗi cửa hàng. Thị phần của chuỗi dự kiến đạt 1,7% trong hai năm tới, nhích nhẹ so với hiện tại nhờ hút khách từ các nhà thuốc truyền thống. Chuỗi đầu ngành hiện nay là Long Châu của FPT Retail, theo VDSC, có thị phần khoảng 20-25%.