Cuối tuần qua, tôi ngồi cà phê với một nhóm bạn cùng tuổi. Chúng tôi đều trên dưới 60: người sống ở Úc, người ở Mỹ, người ở Việt Nam. Câu chuyện ban đầu xoay quanh sức khỏe, công việc và những trải nghiệm.
Nhưng rồi câu chuyện nhanh chóng chuyển sang con cái.
Chúng tôi nhận ra mình đang chia sẻ một nỗi băn khoăn khá giống nhau. Một người bạn kể con trai mình vừa tốt nghiệp đại học nhưng chưa có người yêu. Một người khác nói con gái đã đi làm vài năm nhưng dường như không mặn mà chuyện tình cảm.
Một anh bạn nửa đùa nửa thật: “Hồi bằng tuổi tụi nó mình đã lo cưới vợ rồi. Còn tụi nhỏ bây giờ thì lo tập gym”.
Một khảo sát của Institute for Family Studies và Wheatley Institute (Đại học Brigham Young, Mỹ), được trích dẫn trong bài báo The Reason Gen Z Isn’t Dating của The New York Times, cho thấy chỉ khoảng 30% người trẻ đang tích cực hẹn hò, dù gần một nửa nói họ muốn có một mối quan hệ.
Chưa đến 40% tin mình đủ hấp dẫn với bạn đời tiềm năng, và chỉ khoảng một phần tư cảm thấy tự tin tiếp cận người mình thích.
Các nhà nghiên cứu cho rằng mạng xã hội khiến việc tìm hiểu nhau diễn ra qua màn hình nhiều hơn ngoài đời. Những năm COVID-19 làm gián đoạn kỹ năng giao tiếp trực tiếp. Trong khi đó, các cuộc tranh cãi gay gắt về tình yêu và giới tính trên mạng đôi khi khiến không ít người trẻ trở nên dè dặt hơn khi bước vào các mối quan hệ.
Hệ quả là sự xuất hiện của những trào lưu mới trong giới trẻ phương Tây như “looksmaxxing”, tập trung tối đa vào việc cải thiện ngoại hình với niềm tin rằng ngoại hình quyết định cơ hội trong tình cảm và cuộc sống. Một số người trẻ dành nhiều thời gian cho việc tập gym, chăm sóc hình ảnh trên mạng xã hội, thậm chí theo đuổi những tiêu chuẩn ngoại hình khá cực đoan.
Những xu hướng toàn cầu này cũng đang dần xuất hiện ở Việt Nam. Thế hệ Z đang định nghĩa lại khái niệm về hạnh phúc và thành công, dẫn đến những thay đổi đáng chú ý trong bức tranh nhân khẩu học.
Là những “công dân số” coi trọng sự tự do và trải nghiệm cá nhân, nhiều bạn trẻ không còn xem kết hôn là mục tiêu bắt buộc. Nhiều người độc thân cho biết họ không có ý định lập gia đình.
Một phần của sự thay đổi này đến từ việc nhiều người trẻ dành nhiều thời gian để nâng cấp bản thân: học thêm kỹ năng, tập luyện thể thao, xây dựng hình ảnh cá nhân trên mạng xã hội. Điều đó không có gì sai nhưng khi việc hoàn thiện bản thân trở thành ưu tiên hàng đầu, các mối quan hệ tình cảm đôi khi cũng bị trì hoãn.
Môi trường kết nối của người trẻ đã thay đổi. Trong một thế giới con người có thể tìm hiểu nhau qua vài bức ảnh, vài dòng giới thiệu và vài bài đăng trên mạng xã hội, việc làm quen có thể nhanh hơn, nhưng dễ trở thành một quá trình so sánh.
Người ta không chỉ gặp một người, mà có thể đồng thời cân nhắc nhiều lựa chọn khác nhau. Tình cảm vì thế đôi khi bắt đầu bằng những cân nhắc khá lý trí: ngoại hình, thu nhập, phong cách sống hay triển vọng tương lai.
Ở nhiều nơi, giá nhà tăng nhanh trong khi thu nhập của nhiều người trẻ chưa theo kịp. Với nhiều cặp đôi, nghĩ đến chuyện kết hôn đồng nghĩa với việc phải đối mặt với những câu hỏi rất cụ thể: mua nhà ở đâu, thu nhập có đủ ổn định hay không, và ai sẽ gánh trách nhiệm tài chính.
Áp lực nghề nghiệp cũng góp phần làm thay đổi cách người trẻ nhìn về các mối quan hệ…
Thế hệ của chúng tôi lớn lên trong bối cảnh rất khác. Khi vừa tốt nghiệp đại học, nhiều người đã nghĩ đến chuyện lập gia đình. Bản thân khi ấy chưa hoàn thiện, cuộc sống còn khó khăn, thu nhập chưa cao, nhưng những kỳ vọng xã hội lại khá rõ ràng: đi làm, lập gia đình, rồi ổn định cuộc sống.
Chuyện tình cảm và hôn nhân thời đó đơn giản hơn. Không có mạng xã hội, không có ứng dụng hẹn hò, và cũng không có quá nhiều lựa chọn. Những mối quan hệ thường bắt đầu từ trường học, nơi làm việc hoặc qua bạn bè giới thiệu. Người ta gặp nhau nhiều hơn ngoài đời, nói chuyện nhiều hơn và cũng dễ chấp nhận nhau hơn.
Sự đơn giản ấy không đồng nghĩa với sự bảo đảm. Kết hôn khá sớm, đôi khi chưa kịp hiểu hết bản thân hay người bạn đời, nên những bất trắc trong hôn nhân thời đó cũng không phải là hiếm.
Những cuộc hôn nhân bền lâu của thế hệ trước vì thế không chỉ là kết quả của sự lựa chọn đúng đắn, mà còn là sự thích nghi, nhẫn nại và cùng nhau trưởng thành theo thời gian.
Là cha mẹ, chúng tôi tự hỏi thế hệ mình có vô tình góp phần tạo ra áp lực cho con cái không. Chúng ta khuyên con phải học tốt, phải nỗ lực phát triển bản thân và có nghề nghiệp ổn định. Nhưng chúng ta lại ít khi nói với con về tình yêu hay cách xây dựng những mối quan hệ lành mạnh, và rằng việc phấn đấu cho tương lai không nhất thiết phải tách rời khỏi chuyện hẹn hò, tìm hiểu và xây dựng một tổ ấm.
Chính những kỳ vọng của gia đình khiến người trẻ trở nên thận trọng hơn. Mối quan hệ tình cảm nhanh chóng bị đặt trước những câu hỏi quen thuộc: bao giờ cưới, công việc thế nào, nhà cửa ra sao. Khi tình yêu gắn với quá nhiều điều kiện như vậy, không ít người trẻ chọn cách đứng ngoài.
Nếu mục đích cuối cùng của cuộc sống là tìm kiếm hạnh phúc, dù không phải lúc nào cũng theo những chuẩn mực quen thuộc của xã hội, có lẽ những bậc cha mẹ như chúng tôi cũng nên bớt so sánh và bớt kỳ vọng theo khuôn mẫu cũ. Và nếu con cái chọn một cuộc sống độc thân mà vẫn thấy an vui, biết đâu đó cũng là một lựa chọn đáng để mừng.
Ngôi nhà là không gian riêng tư của mỗi người, do đó có những ranh giới vô hình mà khách không nên vượt qua. Khi làm khách, bạn cần chú ý các quy tắc sau để giữ mối quan hệ tốt đẹp.
Tự ý mở cửa bước vào
Bạn chỉ nên bấm chuông hoặc gõ cửa và chờ phản hồi. Việc tự ý vặn tay nắm cửa bước vào khi chưa được mời là hành động xâm phạm quyền riêng tư, khiến chủ nhà rơi vào thế bị động.
Bạn cũng tránh đến quá sớm so với giờ hẹn. Sự xuất hiện đột ngột trước khi chủ nhà chuẩn bị sẵn sàng có thể tạo ra áp lực và sự căng thẳng không cần thiết.
Vào phòng ngủ
Phòng ngủ là không gian mang tính cá nhân và riêng tư cao nhất. Bạn không nên tự ý bước vào hoặc ngó nghiêng khi đi ngang qua. Nhiều gia đình coi phòng ngủ là nơi tôn nghiêm để cất giữ tài sản hoặc đồ dùng cá nhân quan trọng.
Bạn cũng tránh đặt áo khoác, túi xách lên giường nếu chưa được gia chủ đồng ý.
Đi giày dép vào nhà
Nhiều gia đình có quy tắc không mang giày dép từ ngoài vào nhà để giữ vệ sinh. Bạn nên quan sát chủ nhà hoặc chủ động hỏi xem có cần cởi giày trước khi bước vào cửa hay không.
Mở tủ lạnh và tủ bếp
Nhà bếp thường là "trái tim" của ngôi nhà, nơi gia chủ lưu trữ thực phẩm theo kế hoạch chi tiêu và sinh hoạt riêng. Việc tự ý mở tủ lạnh hoặc lục lọi tủ đựng thức ăn của người khác là hành vi thiếu tế nhị, trừ khi bạn được họ nói rõ là có thể tự nhiên.
Nếu đói hoặc khát, bạn nên hỏi chủ nhà. Trong trường hợp ngủ qua đêm, việc mang theo thực phẩm hoặc đề nghị phụ nấu nướng sẽ giúp bạn ghi điểm.
Điều chỉnh điều hòa và cửa sổ
Nhiệt độ phòng do gia chủ kiểm soát. Việc tự ý chỉnh điều hòa hay mở cửa sổ ảnh hưởng đến người khác. Bạn nên nhờ chủ nhà chỉnh nhiệt độ hoặc mượn thêm chăn, quạt.
Mở ngăn kéo, tủ đồ
Hành động tự ý mở ngăn kéo chứa đồ là sự xâm phạm sự riêng tư. Bạn tuyệt đối không chạm vào tủ thuốc gia đình hay ngăn kéo trong phòng tắm, nơi cất giữ đồ dùng cá nhân và hồ sơ y tế.
Xem bàn làm việc
Dù giấy tờ để trên bàn, khách không có quyền đọc. Bàn làm việc thường chứa tài liệu công ty hoặc thông tin tài chính cá nhân. Bạn cần tránh xê dịch các thiết bị, sổ sách của chủ nhà.
Hút thuốc
Bạn không nên hút thuốc lá trong nhà người khác, trừ khi chủ nhà cho phép và cùng hút. Khói thuốc và mùi hôi ảnh hưởng đến người xung quanh, đặc biệt khi nhà có trẻ em, người già.
Đến nhà chơi là dịp để mọi người trò chuyện. Việc hỏi mật khẩu Wi-Fi ngay khi vừa đến cho thấy bạn quan tâm đến điện thoại hơn là giao tiếp. Hãy tập trung vào cuộc trò chuyện, trừ khi bạn ngủ lại hoặc là người thân thiết.
Có những bậc thềm không cao, nhưng đủ để một người phải dừng lại. Đôi khi, bậc thềm ấy không chỉ nằm trước một cánh cửa - mà nằm ngay trên con đường dẫn đến sự hòa nhập.
Tôi từng đứng trước nhiều "bậc thềm" như thế - không chỉ ngoài phố, mà trong cả hành trình học tập, làm việc và sống giữa cộng đồng. Là một người khuyết tật vận động, tôi hiểu cảm giác khi con đường phía trước không hẳn là không có, nhưng lại chưa thực sự dành cho mình.
Muốn kể với mọi người 1 kỷ niệm gần đây khiến tôi nhớ mãi.
Tháng 1-2026, tôi được mời tham dự một hội thảo về thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật. Đó là một cơ hội tôi rất trân trọng.
Nhưng hội trường lại ở tầng 5 - và không có thang máy.
Tôi đã lưỡng lự. Có một khoảnh khắc, tôi nghĩ mình nên dừng lại. Nhưng rồi, tôi vẫn quyết định đi tiếp - nhờ sự hỗ trợ của mọi người.
Hôm đó, tôi phải nhờ hai người đỡ hai bên mới có thể lên được. Khi bước vào hội trường, tôi đã thực sự mệt.
Tôi ngồi đó, lắng nghe những chia sẻ rất tâm huyết về "xóa bỏ rào cản", nhưng không khỏi chạnh lòng.
Bởi ngay cả trong những không gian nói về hòa nhập, thì còn đó những "bậc thềm" cần được nhìn lại.
Và tôi nghĩ đến những người sử dụng xe lăn.
Nếu là họ, có lẽ họ đã phải dừng lại từ rất sớm - ngay từ cơ hội được tham gia.
Tôi là một nghệ nhân may thêu thủ công. Công việc của tôi bắt đầu từ những mảnh vải nhỏ, những đường kim tỉ mỉ - và trở thành cách tôi kể câu chuyện của mình.
Song song đó, tôi tham gia công tác xã hội trong lĩnh vực người khuyết tật, gặp gỡ nhiều người với những hoàn cảnh và dạng tật khác nhau.
Tôi nhận ra một điều rất rõ: Người khuyết tật không thiếu ý chí, không thiếu khả năng. Chúng tôi thường thiếu một môi trường phù hợp để phát huy.
Một bậc thềm, một cầu thang, một ánh nhìn ái ngại… Những điều tưởng như rất nhỏ, lại có thể giữ một người đứng lại rất lâu, thậm chí là dừng bước, dừng mong muốn, khát vọng.
Trong công việc của mình, tôi đã gặp nhiều người khuyết tật rất giỏi. Nhưng có người chưa từng đi xin việc, vì sợ bị từ chối. Có người đã thử, nhưng dừng lại sau vài lần không được nhìn nhận đúng.
Đôi khi, điều chúng tôi cần tưởng như vô cùng cơ bản nhưng lại hóa xa vời như một cơ hội được thử, một người nào đó tin rằng chúng tôi có thể làm được; một môi trường không khiến mình cảm thấy mình là gánh nặng.
Những điều đó giống như cách cộng đồng sẽ cùng giúp sức bỏ đi một "bậc thềm vô hình" trong cách nhìn nhận về chúng tôi
Và chúng tôi - cũng đang từng bước đi lên. Tôi hiểu cảm giác tự ti. Tôi cũng từng nghi ngại chính mình. Nhưng tôi chọn bước tiếp - từng chút một. Không phải vì con đường đã bằng phẳng, mà vì tôi tin rằng mỗi bước đi của mình cũng là một cách làm cho những "bậc thềm" phía trước thấp xuống.
Những chính sách hỗ trợ người khuyết tật ở Việt Nam đã và đang được cải thiện. Nhưng điều cần thiết hơn là sự thay đổi trong cách thực hiện, để từ "làm cho có" sang "làm để dùng được"; từ "hỗ trợ" sang "trao quyền".
Một hội trường có thang máy. Một con đường có thể đi qua. Một lớp học có phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu. Một phương tiện giao thông công cộng tiếp cận. Một cơ hội việc làm công bằng.
Những điều đó không lớn - nhưng đủ để một người không phải dừng lại.
Tôi vẫn đang mỗi ngày ghép những mảnh vải nhỏ thành một bức tranh.
Đó là quan điểm của bạn đọc Tiến gửi tới trong mục bình luận của bài viết Có những người 'hú hồn' khi nghe chuông điện thoại, để vậy luôn khỏi bắt máy.
Bài viết trên nhận về nhiều ý kiến tranh luận của bạn đọc.
Bạn đọc Sao Xẹt kể, từ ngày có điện thoại, anh đã tập thói quen tắt chuông báo, chỉ để chế độ rung.
“Vào cuộc họp tôi không bao giờ nghe, không trả lời điện thoại. Đi công chuyện xa, tôi chỉ trả lời khi sếp gọi bằng điện thoại cố định. Có việc gấp cần bàn, sếp phải nhắn tin chứ không tùy tiện gọi bất chấp giờ giấc”, bạn đọc này nói.
Anh kể trong công ty chỉ có hai người biết số điện thoại của anh là văn phòng và sếp trưởng. Anh không dám cho ai biết số điện thoại, kể cả cấp trên cũng không dám cho ai biết. Anh chỉ trả lời cuộc gọi có hiện tên, còn hiện số là kệ luôn, nhưng chưa ai dám trách móc điều gì.
Một bạn đọc có nickname Bạn già bày tỏ đồng cảm với các bạn trẻ hiện nay. Ông nói người ta bận, chứ ai rảnh để muốn gọi lúc nào là gọi.
“Ít ra, nếu rất cần gọi thì có thể nhắn tin trước và hỏi rằng có thể gọi lúc này để nói chuyện trong khoảng 5 phút (hay bao nhiêu phút đó, ước chừng trước) được không?”, bạn đọc này nói.
Bạn đọc Hoàng Cát thừa nhận rất sợ và ám ảnh khi nghe chuông hay tiếng thông báo của điện thoại.
“Sếp gọi, mình biết là có việc nhưng căng thẳng đến mức không nghe”, bạn đọc nói.
Đồng cảm, bạn đọc Hải Âu nói bật chế độ im lặng 24/7 là cách mình bảo vệ sức khỏe tâm thần.
“Ai thật sự cần, việc gấp thì họ sẽ gọi lại 2-3 cuộc, còn không thì chắc cũng chẳng quan trọng đến thế”, Hải Âu nói.
Trong khi bạn đọc Dung ám ảnh nhất là tiếng chuông điện thoại lúc đêm khuya hoặc sáng sớm. Cảm giác đó là những tin không lành. Riết rồi thành thói quen, cô sợ luôn cả những âm thanh thông báo mặc định của điện thoại.
Làm ngành logistics, điều xe vận tải, bạn đọc Huy Nguyễn nói ai làm những ngành này mới luyện được viêc quen với tiếng chuông điện thoại. “Tuy nhiên đôi lúc tôi vẫn giật bắn người”, Huy nói.
Bạn đọc HD cho rằng vấn nạn gọi điện lừa đảo quá nhiều cũng góp phần lớn vào việc người ta sợ nghe điện thoại khi có số lạ gọi đến.
Bạn đọc có địa chỉ email hdng****@gmail.com cho rằng mình không bắt máy hay mở chế độ im lặng là để có nhắn tin còn lưu vết, mai này khỏi đổ lỗi qua lại, ai cũng hiểu.
Còn bạn đọc Phương Anh tuyên bố nhắn tin vừa có bằng chứng để rà soát công việc, vừa giúp mình có thời gian suy nghĩ câu trả lời chỉn chu. Gọi điện bất thình lình rất dễ nói hớ hoặc quên ý quan trọng.
Trong khi bạn đọc Bình nói nhắn tin giúp mọi người giữ được khoảng cách lịch sự và tôn trọng thời gian của nhau hơn. Khi làm việc mà chuông reo là mất sạch cảm hứng.
Chung cảnh ngộ, bạn đọc Anh thừa nhận nghe điện thoại trực tiếp thấy áp lực không chịu nổi nên bạn để điện thoại rung hoặc im lặng 24/7.
"Thấy màn hình hiện cuộc gọi, tôi luôn giật mình, đứng hình. Nên tôi đợi chuông ngừng rồi mới nhắn tin hỏi lại", Anh nói.
Bạn đọc Vy kể có những người lạ lùng lắm, chuyện chỉ cần nhắn một tin là xong cũng phải gọi cho bằng được. Những cuộc gọi đó thực sự gây tiêu tốn năng lượng và làm gián đoạn sự tập trung.
Ngược lại, bạn đọc Giang Châu nói cái gì quá cũng không tốt. Có những việc gọi nói một chút là xong, nhắn tin chỉ tốn thời gian và công sức hơn thôi.
Còn bạn đọc Xuân Hồng bày tỏ nhiều bạn trẻ giờ lạ thật, gọi 1 phút là xong việc mà cứ nhắn qua nhắn lại cả tiếng đồng hồ vẫn chưa giải quyết được vấn đề. Tốn thời gian!