Cá là nguồn cung cấp protein chất lượng cao, chứa đầy đủ các a xít amin thiết yếu và dễ tiêu hóa. Ngoài ra, cá còn giàu a xít béo omega-3, vốn là chất béo có lợi cho tim mạch và não bộ. Bên cạnh đó, thịt cá còn có các vitamin quan trọng như vitamin D, B12 và các khoáng chất như i ốt, selen, theo chuyên trang Eating Well (Mỹ).
Trong nhiều trường hợp, cá được đông lạnh ngay sau khi đánh bắt có thể giữ được dinh dưỡng tốt hơn so với cá tươi ướp đá, thường phải mất vài ngày sau đó cho quá trình vận chuyển.
Về nguyên tắc, quá trình đông lạnh không làm mất ngay các thành phần dinh dưỡng quan trọng trong thịt cá. Protein trong cá khá ổn định khi đông lạnh. Phần lớn vi chất vẫn được giữ nếu cá được xử lý và bảo quản đúng cách. Điều này cho thấy sự khác biệt dinh dưỡng giữa cá tươi và cá đông lạnh không chỉ nằm ở phương pháp đông lạnh mà còn ở cách xử lý và thời gian bảo quản.
Phương pháp đông lạnh nhanh được sử dụng phổ biến. Cá được làm lạnh xuống nhiệt độ rất thấp ngay sau khi đánh bắt, giúp giữ nguyên gần như toàn bộ trạng thái dinh dưỡng ban đầu.
Cụ thể, quá trình này làm chậm rất nhiều các phản ứng phân hủy sinh học, ức chế hoạt động của enzyme và hạn chế quá trình ô xy hóa chất béo. Nhờ đó, cấu trúc thịt cá và thành phần dinh dưỡng được giữ gần như nguyên vẹn.
Trong thực tế, cá đông lạnh đúng quy trình có thể có giá trị dinh dưỡng tương đương cá tươi. Thậm chí, nếu cá tươi bị lưu trữ trong nhiều ngày trước khi đến tay người tiêu dùng, chất lượng dinh dưỡng có thể giảm nhiều hơn so với cá đã được đông lạnh ngay từ đầu.
Ngoài ra, điểm khác biệt lớn nhất giữa cá tươi và cá đông lạnh nằm ở thời gian bảo quản. Cá sau khi đánh bắt sẽ bắt đầu quá trình phân hủy tự nhiên. Enzyme và vi khuẩn bên trong cá sẽ dần làm giảm chất lượng thịt. Đồng thời, các a xít béo không bão hòa như omega-3 rất dễ bị ô xy hóa theo thời gian.
Với cá tươi, nếu không được tiêu thụ nhanh, chất lượng dinh dưỡng sẽ giảm đáng kể sau vài ngày, ngay cả khi được giữ lạnh bằng đá. Trong khi đó, cá đông lạnh có thể bảo quản trong nhiều tháng vì các quá trình phân hủy bị làm chậm lại đáng kể.
Trong thực tế, nếu có thể mua được cá tươi thực sự, tức là mới đánh bắt trong ngày, thì đây là lựa chọn tốt nhất. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, điều này là khó, nhất là ở những khu vực xa biển.
Vì vậy, cá được đông lạnh nhanh và bảo quản đúng cách, là một lựa chọn hợp lý và an toàn. Đặc biệt, nếu thời gian bảo quản chưa quá dài và bao bì đảm bảo kín, hạn chế tiếp xúc với không khí, cá đông lạnh hoàn toàn có thể cung cấp giá trị dinh dưỡng tương đương cá tươi, theo Eating Well.
Thời điểm uống trà nghệ có thể tạo ra sự khác biệt, tùy thuộc vào thói quen sinh hoạt và mục tiêu sức khỏe của bạn, theo trang sức khỏe Verywell Health (Mỹ).
Một số người thấy uống trà nghệ vào buổi sáng như một phần của bữa sáng là tiện lợi nhất. Đây là cách lành mạnh để bắt đầu ngày mới, đặc biệt tốt cho hệ tiêu hóa.
Nhâm nhi trà nghệ vào sáng sớm có thể giúp cải thiện tiêu hóa và giảm viêm suốt cả ngày.
Bạn cũng có thể uống trà nghệ vào buổi tối trước khi đi ngủ. Khi kết hợp nghệ với sữa ấm và tiêu đen, thức uống này được gọi là "sữa nghệ".
Một số người cho rằng sữa nghệ giúp thư giãn và dễ ngủ hơn. Ngoài ra, thức uống này thường không chứa caffeine.
Một số nghiên cứu cho thấy curcumin trong nghệ có thể bảo vệ não khỏi tổn thương do thiếu ngủ. Tuy nhiên, vẫn cần thêm nhiều bằng chứng trên người để khẳng định điều này.
Một số người chọn cách chia nhỏ lượng nghệ và dùng trong ngày.
Một nghiên cứu cho thấy việc dùng 2 liều nhỏ trong ngày có thể giúp giảm nguy cơ tác dụng phụ.
Uống trà nghệ trong ngày cũng có thể giúp duy trì tác dụng chống viêm ổn định, đồng thời hỗ trợ ổn định đường huyết.
Uống trà nghệ sau bữa ăn có thể hỗ trợ tiêu hóa.
Đặc tính chống viêm tự nhiên của nghệ có thể giúp giảm các triệu chứng như đầy hơi và chướng bụng. Đồng thời, nó cũng giúp làm dịu tình trạng viêm có thể tăng lên sau khi ăn một số loại thực phẩm.
Bạn có thể pha trà nghệ bằng cách dùng nghệ tươi bào nhỏ hoặc bột nghệ.
Một số người thích mua túi trà nghệ đóng sẵn, rất tiện để pha. Nhiều quán cà phê cũng bán trà nghệ hoặc latte nghệ.
Hầu hết các loại trà nghệ không chứa caffeine.
Bạn có thể thêm mật ong, sữa, chanh, vani, gừng hoặc các nguyên liệu khác tùy khẩu vị.
Trà nghệ nhìn chung an toàn khi dùng ở mức vừa phải. Tuy nhiên, không nên uống quá nhiều.
Uống quá nhiều trà nghệ, đặc biệt khi bụng đói, có thể gây các vấn đề tiêu hóa như đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, táo bón hoặc trào ngược axit.
Trong một số trường hợp hiếm, dùng trà nghệ liều rất cao có thể gây tổn thương gan.
Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi bổ sung nhiều nghệ vào chế độ ăn nếu bạn:
Ngoài ra, nghệ có thể ảnh hưởng đến một số loại thuốc. Vì vậy, hãy trao đổi với bác sĩ về các loại thuốc và thực phẩm bổ sung bạn đang dùng để tránh tương tác không mong muốn.
Theo ông Hưng, cha mẹ của bé (36 và 32 tuổi) đã mong con 5 năm mà chưa được toại nguyện, lần này mẹ bé mang thai đôi nhờ hỗ trợ sinh sản (IVF).
Đến tuần thai thứ 20 (cuối năm 2025), mẹ bé có dấu hiệu dọa sẩy thai nên đã vào Bệnh viện Phụ sản Hà Nội điều trị, các bác sĩ nỗ lực cấp cứu nhưng đến tuần thai thứ 25 thì bé gái trong cặp song sinh đã chào đời.
"Những em bé sinh ở tuần thứ 25 của thai kỳ được coi là rất non, bệnh viện đã phối hợp các chuyên khoa sản khoa - nhi khoa - gây mê hồi sức và chống nhiễm khuẩn phối hợp điều trị, hiện bé đã có cân nặng khoảng 1,9kg và phát triển khá tốt, hy vọng bé có các chỉ số bình thường. Nhưng thời điểm đó, giữ em bé còn lại là thách thức với y khoa.
Lý do dẫn đến khó khăn trong chăm sóc em bé còn lại là vì khi bé thứ nhất chào đời thì tử cung người mẹ có cơn co để sinh bé, ảnh hưởng đến việc giữ bé còn lại trong bụng mẹ. Thứ hai là vấn đề chống nhiễm khuẩn, bé trong bụng mẹ có hai hàng rào bảo vệ là tử cung và nước ối, khi sinh bé thứ nhất nguy cơ vi khuẩn xâm nhập, ảnh hưởng tới an toàn của bé thứ hai" - ông Hưng cho hay.
Trong tình huống khó khăn này, ông Hưng nói bên cạnh sự nỗ lực của y bác sĩ là sự phối hợp của cha mẹ bé, đặc biệt mẹ bé đã có 13 tuần vừa qua rất vất vả để giữ con. Kết quả em bé còn lại là một bé trai đã chào đời ở tuần thai thứ 38, nặng 2,4kg và có các chỉ số sức khỏe như các em bé sơ sinh bình thường.
Theo Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, việc giữ được em bé còn lại trong cặp song sinh ở tình huống tương tự đến tuần thai thứ 38 chưa từng được ghi nhận ở Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cũng như ở Việt Nam.
"Chúng tôi hy vọng những phương pháp hỗ trợ đã áp dụng điều trị cho mẹ con bé sẽ góp thêm kiến thức để các đồng nghiệp có thêm thông tin cho điều trị trong sản khoa" - ông Hưng nói.
Đây không phải là điều bất thường mà thường là dấu hiệu cho thấy cách tập sai. Khi tập sai phương pháp, cơ thể sẽ phản ứng bằng cách tăng tiết các hoóc môn căng thẳng và làm tăng đường huyết, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Vì vậy, điều quan trọng không phải là tập nhiều mà là tập đúng. Với người tiểu đường hay tiền tiểu đường, nếu tập nhiều mà đường huyết không hạ thì có thể do những nguyên nhân sau:
Không phải cứ tập càng nặng thì đường huyết càng giảm. Các bài tập cường độ cao như chạy nước rút, tập cường độ cao ngắt quãng (HIIT) hoặc nâng tạ nặng có thể làm đường huyết tăng tạm thời. Nguyên nhân là cơ thể tiết hoóc môn adrenaline và cortisol, kích thích gan đưa thêm đường glucose vào máu để cung cấp nhanh nguồn năng lượng cho vận động.
Ngược lại, các bài tập cường độ vừa như đi bộ nhanh, đạp xe hoặc bơi lội thường giúp giảm đường huyết hiệu quả hơn. Những hoạt động này cho phép cơ bắp sử dụng đường glucose một cách ổn định, không kích hoạt phản ứng stress mạnh. Vì vậy, nếu chỉ tập nặng mà không cân nhắc cường độ phù hợp, loại hình vận động thì có thể vô tình làm đường huyết tăng thay vì giảm.
Thời điểm tập cũng ảnh hưởng rõ rệt đến đường huyết. Khi tập lúc đói, đặc biệt là buổi sáng sớm, cơ thể dễ rơi vào trạng thái stress nhẹ và tăng tiết đường glucose vào máu. Điều này có thể khiến đường huyết tăng dù đang vận động.
Trong khi đó, vận động nhẹ như đi bộ sau bữa ăn lại giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn. Lúc này, lượng đường glucose trong máu đang tăng và cơ bắp có thể sử dụng trực tiếp để tạo năng lượng. Vì vậy, chỉ cần thay đổi thời điểm vận động, hiệu quả kiểm soát đường huyết đã có thể khác đi đáng kể.
Một sai lầm khác là tập dồn dập trong vài ngày rồi nghỉ dài. Hiệu quả của tập luyện đối với khả năng kiểm soát đường huyết chỉ kéo dài trong khoảng 1 - 3 ngày. Nếu không duy trì đều đặn, cơ thể sẽ nhanh chóng quay lại trạng thái ban đầu.
Vì vậy, tập đều mỗi tuần quan trọng hơn là tập thật nặng trong thời gian ngắn. Ngay cả những buổi tập nhẹ nhưng đều đặn cũng có thể mang lại hiệu quả kiểm soát đường huyết tốt hơn, theo Medical News Today.